Bản án số 66/2026/HS-PT ngày 05/06/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 66/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 66/2026/HS-PT ngày 05/06/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tội danh: 260.Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 66/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/06/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: bị cáo T vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 66/2026/HS-PT Bản án số 66/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 66/2026/HS-PT Bản án số 66/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH VĨNH LONG Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 66/2026/HS-PT
Ngày: 05-6-2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Dung
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành
Ông Tôn Văn Thông
- Thư phiên tòa: Dương Thị Thu Nguyệt Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa:
Ông Phan Minh Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét
xử phúc thẩm công khai ván hình sự phúc thẩm thụ số: 78/2026/TLPT-HS
ngày 08 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo Văn T do kháng cáo của bị cáo
người đại diện hợp pháp của bị hại ông Văn T1 đối với Bản án hình sự
sơ thẩm số: 22/2026/HS-ST ngày 30 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 9-Vĩnh Long.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ tên: Văn T, sinh ngày 01/01/1976 tại Bến Tre (nay tỉnh Vĩnh
Long).
Nơi trú: số A ấp Q, Q, huyện T, tỉnh Bến Tre (nay số 179/5 ấp Q,
xã Q, tỉnh Vĩnh Long); nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc:
Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn T2
(chết) Cao Thị M (chết); vợ Phan Thị T3, bị cáo 02 người con, lớn
nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
Người đại đại diện hợp pháp của bị hại kháng cáo là: ông Văn T1,
sinh năm 1961. Nơi cư trú: ấp Q, xã Q, tỉnh Vĩnh Long. (Có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo T: Luật Trịnh Hữu B Văn phòng L thuộc
Đoàn luật sư Thành phố C. (Có mặt)
2
Ngoài ra, những người không kháng cáo, không bị kháng nghị hoặc
không có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, tòa không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Võ Văn T có Giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định. Vào khoảng
13 giờ 30 phút ngày 11/11/2024, bị cáo T điều khiển xe hai bánh biển số
60Y2 - 2783 lưu thông trên Quốc lộ E hướng từ Ủy ban nhân dân Q, huyện
T, tỉnh Bến Tre (nay Q, tỉnh Vĩnh Long) đi thị trấn T, huyện T, tỉnh Bến
Tre (nay T, tỉnh Vĩnh Long) để mua đồ về sửa máy nổ cho khách. Đến
khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày, khi đến Km77 + 700m thuộc ấp T, thị trấn T,
huyện T, tỉnh Bến Tre (nay là ấp T, T, tỉnh Vĩnh Long) đoạn công trình
đang thi công sửa chữa mặt đường, cách biển báo hiệu “Phía trước có công trình
đang thi công” 120,4m một chiếc xe lu rung đang thi công trên phần đường
bên phải (theo hướng lưu thông của T) nên bcáo T điều khiển xe sang
trái để vượt qua chiếc xe lu rung thì va chạm với xe hai bánh gắn biển số
51K5-0618 do Văn M1 (có Giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định) điều
khiển đang lưu thông theo hướng ngược lại gây tai nạn. Hậu quả, ông Văn
M1 bị thương nặng chết trên đường đưa đi cấp cứu, bị cáo T bị thương nặng
được đưa đến Trung tâm y tế huyện T, tỉnh Bến Tre (nay Trung tâm y tế K)
cấp cứu và được chuyển đến Bệnh viện N1 điều trị.
Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 14 giờ 30 phút ngày
11/11/2024, thể hiện: Hiện trường đoạn đường thẳng (đang thi công sửa chữa
mặt đường) tại Km77 + 700m thuộc ấp T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bến Tre (nay
ấp T, T, tỉnh Vĩnh Long), nằm trong khu vực hiệu lực của biển báo
“Giao với đường không ưu tiên” (W.207) biển báo hiệu phía trước có công
trình đang thi công, mặt đường rộng 8m được trải đá lu phẳng, không có vạch kẻ
đường, không cọc tiêu. Hướng khám nghiệm tbến xe T đi Ủy ban nhân dân
Q chọn mép đường bên phải theo hướng khám nghiệm m đường chuẩn,
chọn cọc H (H) phía bên trái làm điểm mốc, tất cả các dấu vết đều đo vào đường
chuẩn, xác định:
- Xe tô biển số 60Y2-2783 ngã phải (ký hiệu s 1) nằm trên phần
đường xe chạy; trục trước cách đường chuẩn 2,65m; trục sau cách đường chuẩn
3,2m.
- Vết cày thnhất (ký hiệu số 2) dạng đường thẳng liền nét dài 0,5m; nơi
rộng 0,07m; nơi sâu nhất 0,01m; đầu vết cày cách đường chuẩn 3,15m; cuối vết
cày cách đường chuẩn 2,95m cách trục sau xe biển số 60Y2-2783
0,35m, cách trục trước xe mô tô biển số 60Y2-2783 là 3,15m.
3
- Vết cày thhai (ký hiệu số 3) dạng đường thẳng liền nét dài 0,6m; rộng
nhất 0,09m; nơi sâu nhất 0,01m; đầu vết cày cách đường chuẩn 2,97m cách
đầu vết cày thứ nhất 3,3m; cuối vết cày cách đường chuẩn 3,15m.
- Vết cày thứ ba (ký hiệu s4) dạng đường thẳng liền nét dài 0,5m; nơi
rộng nhất 0,11m; nơi sâu nhất 0,01m; đầu vết cày cách đường chuẩn 3,23m
cách đầu vết cày thứ hai 0,5m; cuối vết cày cách đường chuẩn 3,45m.
- Vết cày thứ (ký hiệu số 5) dạng đường thẳng liền nét dài 0,15m; nơi
rộng nhất 0,07m; nơi sâu nhất 0,01m; đầu vết cày cách đường chuẩn 3,4m và
cách cuối vết cày thứ ba 2,53m; cuối vết cày cách đường chuẩn 3,48m.
- Vết cày thnăm (ký hiệu số 6) dạng đường thẳng liền nét dài 0,4m; nơi
rộng nhất 0,06m; nơi sâu nhất 0,01m; đầu vết cày cách đường chuẩn 3,08m
cách cuối vết cày thứ ba 2,64m; cuối vết cày cách đường chuẩn 3,23m.
- Vết cày thsáu (ký hiệu số 7) dạng đường cong liền nét dài 1,6m; nơi
rộng nhất 0,03m; đầu vết cày cách đường chuẩn 2,95m cách cuối vết cày thứ
năm 0,6m cách đầu vết cày thứ nhất 7,7m; cuối vết cày cách đường chuẩn
3,05m.
- Xe biển số 51k5-0618 ngã phải (ký hiệu số 8) nằm trên đường xe
chạy; trục trước cách đường chuẩn 4,13m, cách đầu vết cày thứ sáu 1,35m
cách trục trước xe hai bánh biển số 60Y2-2783 10,3m; trục sau cách
đường chuẩn 3,18m; cách đầu vết cày thứ sáu 1,5m cách trục sau xe
hai bánh biển số 60Y2-2783 là 9,8m.
- Vết màu nâu đỏ (nghi máu) không hình kích thước 1,32m x
0,84m cách đường chuẩn 3,93m; cách trục sau biển số 51k5-0618
5,9m; cách điểm mốc 17,4m; cách biển báo “Giao nhau với đường không ưu
tiên” 34m; cách biển báo “Bắt đầu khu đông dân cư” 114,4m; cách biển báo
“Báo hiệu phía trước có công trường thi công” 120m.
- Xe máy chuyên dùng (xe lu rung hiệu DYNAPAC) tại hiện trường
kích thước (dài 6m, rộng 2,4m, cao 3m); tâm mặt ngoài bánh xe phía sau bên
phải cách đường chuẩn 5,17m và cách đầu vết cày thứ nhất 3,6m; tâm mặt ngoài
bánh xe phía trước bên phải cách đường chuẩn 5m cách đầu vết cày thứ nhất
6,25m.
Vật chứng thu giữ tại hiện trường: 01 xe mô hai bánh gắn biển số 60Y2-
2783, số máy: HC2E0207079, số khung: RLHHC12038Y108249 và 01 xe mô tô
hai bánh gắn biển số 51K5-0618, số máy: JC43E1277353, số khung:
RLHJC4314AY058820.
Kết quả khám nghiệm xe mô tô hai bánh mang biển số 60Y2-2783:
Không gương chiếu hậu bên phải, gương chiếu hậu bên trái chỉ cần kim
loại gắn gương; đầu tay cầm bên phải bị trầy xước, mài mòn, kích thước (0,02m
x 0,03m); đầu tay phanh bị trầy xước mài mòn kim loại, kích thước (0,01m x
4
0,01m); ốc tại vị trí dùng để lấp gương chiếu hậu bên phải bị trầy xước, mài
mòn, kích thước (0,01m x 0,01m); phanh chân bị trầy xước, mài mòn kim loại,
kích thước (0,03m x 0,005m); gác chân máy bên phải bị trầy xước, mài mòn,
rách phần cao su bảo vkích thước (0,03m x 0,02m) để lộ phần kim loại trầy
xước, mài mòn kích thước (0,01m x 0,01m); cạnh cản phía sau bên phải bị trầy
xước, mài mòn kích thước (0,07m x 0,03m). Máy xe hoạt động bình thường; đèn
chiếu sáng phía trước, đèn tín hiệu phía sau hai nên còn hoạt động được; đèn tín
hiệu phía trước hai bên không hoạt động được; còi hoạt động được; phanh sau
hoạt động bình thường; phanh trước không hoạt động được; lốp xe còn hơi.
Kết quả khám nghiệm xe hai bánh biển số 51K5-0618: Không
gương chiếu hậu bên phải; gương chiếu hậu bên trái không có phần kính chỉ n
cần kim loại ốp gắn; nắp trước tay lái bị gãy, vỡ, kích thước (0,5m x 0,2m);
cụm đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu phía trước bị gãy, vỡ rời khỏi vị trí ban đầu; vị
trí để lắp gương chiếu hậu bên phải bị trầy xước, mài mòn, kích thước (0,015m x
0,01m); đầu tay phanh bị gãy rời khỏi vị trí ban đầu; tay cầm bên phải bị trầy
xước, mài mòn, kích thước (0,02m x 0,03m); cạnh bên phải mặt nạ trước bị trầy
xước, mài mòn, kích thước (0,15m x 0,02m); phanh chân bị trầy xước, mài mòn
kim loại, kích thước (0,03m x 0,005m); gác chân máy bên phải bị cong từ trước
về sau bị trầy xước, mài mòn, rách phần cao su bảo vệ kích thước (0,03m x
0,03m) đlộ lõi kim loại trầy xước, mài mòn kích thước (0,02m x 0,005m); ốp
nhựa đèn tín hiệu phía trước bên phải bị vỡ, kích thước (0,18m x 0,6m); ốp cách
nhiệt bộ phận giảm thanh, giảm khói vết trầy xước, mài mòn, kích thước
(0,45m x 0,03m); cạnh cản phía sau bên phải bị trầy xước, mài mòn kích thước
(0,2m x 0,03m). Máy xe hoạt động bình thường; đèn chiếu sáng còn hoạt động
được; đèn tín hiệu còn hoạt động được; còi không hoạt động được; phanh sau
hoạt động bình thường; phanh trước đầu phanh tay bị gãy; lớp xe còn hơi.
Tại Kết luận giám định số: 7942/KL-KTHS ngày 03/01/2025 của P (Bộ
C) tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
1. Dấu vết trượt xước, sạch bụi, in hằn các chi tiết phía trước bên trái xe
biển số 60Y2 - 2783 (má bên trái bánh xe, mặt ngoài phía trước tay cầm
lái) chiều từ trước về sau, dấu vết bánh xe chiều từ mặt lăn vào tâm bánh
phù hợp với dấu vết trượt xước, sạch bụi, cong, nứt vỡ các chi tiết phía trước
bên trái xe biển số 51K5 - 0618 (mặt ngoài phía trước cao su đchân
trước, ốp đầu xe, chân kính chiếu hậu) có chiều từ trước về sau.
1.1. Dấu vết trượt xước, cong các chi tiết bên phải xe tô biển số 60Y2
- 2783 (tay lái, tay phanh, cần đạp phanh, để chân trước, tay nâng sau yên)
chiều từ trước về sau phù hợp va chạm với mặt đường.
1.2. Dấu vết trượt xước, cong, gãy vcác chi tiết bên phải xe biển
số 51K5 - 0618 (ốp đầu xe, tay lái, tay phanh, mặt nạ, cần đạp phanh, để chân
5
trước, để chân sau, ốp ống xả, tay nâng sau yên) chiều từ trước vsau phù
hợp va chạm với mặt đường.
2. Phía trước bên trái xe biển số 60Y2 - 2783 phía trước bên trái
xe biển số 51K5 - 0618 là vị trí va chạm đầu tiên; vị trí này chiếu xuống
mặt đường nằm ở giữa đầu vết cày số 2 và đầu vết cày số 3 thuộc chiều bên phải
Quốc lộ E, hướng từ bến xe T đi Ủy ban nhân dân xã Q.
3. Khi xảy ra tai nạn giao thông xe biển số 51K5 - 0618 lưu thông
trên chiều bên phải Quốc lộ E, hướng từ bến xe T đi Ủy ban nhân dân xã Q, xe
mô tô biển số 60Y2 - 2783 lưu thông theo chiều ngược lại.
Tại Công văn số: 04/TTYT-KHNV ngày 31/12/2024 của Trung tâm Y tế
huyện T, tỉnh Bến Tre (nay Trung tâm y tế K) xác định: Nồng độ cồn trong
máu của Văn T lúc vào viện ngày 11/11/2024 18 miligam/100 mililit: Trị
số bình thường 0 - 50 miligam/100 mililit. Bị cáo T khai nhận, khoảng 10 giờ
ngày 10/11/2024 bị cáo đi sửa máy ngang nhà anh Trần n V ấp T, Q,
tỉnh Vĩnh Long thì anh V rủ T vào uống rượu cùng với một số người bạn. Khi
uống được khoảng 30 đến 04 ly rượu, T đi sửa máy cho khách rồi về nhà.
Tại Công văn số: 03/TTYT-KHNV ngày 31/12/2024 của Trung tâm Y tế
huyện T, tỉnh Bến Tre (nay Trung tâm y tế K) xác định nồng độ cồn trong
máu của Văn M1 lúc vào viện lúc 14 giờ 14 phút, ngày 11/11/2024 343
miligam/100 mililit.
Tại Kết luận giám định tử thi số 159/KLGĐTT-KTHS ngày 25/11/2024
của Phòng K Công an tỉnh B (nay Công an tỉnh V) đối với Văn M1, xác
định: Diện phù nề, sây sát, giập rách da vùng, kích thước 08cm x 05cm; máu
loãng chảy ra từ tai trái; Giập, xuất huyết tổ chức dưới da vùng chẩm tương ứng
với diện phù nbên ngoài; Vỡ xương hộp sọ vùng chẩm- thái dương trái, kích
thước 06cm x 01cm; Sung huyết màng cứng; Tụ máu dưới màng cứng hai bán
cầu đại não; Xuất huyết lan tỏa dưới màng nhện hai bán cầu đại não; Giập nhu
não thùy trán hai bên; Sung, xuất huyết diện cắt não; Vỡ nền sọ. Kết luận
nguyên nhân chết: Nạn nhân Văn M1 chết do chấn thương sọ não gây vỡ
xương hộp sọ, xuất huyết, tụ máu nội sọ và giập nhu mô não.
Qua điều tra xác định xe gắn biển số 51K5-0618 đã thu giữ số
máy và số khung thực tế không trùng khớp với số máy, số khung xe mô biển số
51K5-0618; Kết luận giám định số 150/KL-KTHS-KV3 ngày 09/9/2025 của
Phòng K Công an tỉnh V, kết luận đối với số khung, số máy của xe gắn
biển số 51K5-0618 đã thu giữ như sau:
- Ký hiệu in chìm đóng trên khung xe: RLHJC4314AY058820 không thay
đổi. Nền kim loại không phát hiện tẩy xóa, sửa chữa, đóng lại.
- tin chìm đóng trên máy xe: JC43E1277353 không thay đổi. Nền
kim loại không phát hiện tẩy xóa, sửa chữa, đóng lại.
6
Kết quả tra cứu nguồn gốc xe số máy JC43E1277353, số khung
RLHJC4314AY058820 là xe mô tô biển số 67C1-622.90do anh Nguyễn Thái N,
sinh năm 1980, cư ngụ: Tổ A, ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang (nay là ấp V,
V, tỉnh An Giang). Qua làm việc, anh N xác định xe đã bán cho người khác.
Thị M2 (em ruột của bị hại Văn M1) trình bày: khi đi làm thuê
Thành phố Hồ Chí Minh mua chiếc xe gắn biển số 51K5-0618 của
một người đàn ông (không rõ tên và địa chỉ) với giá 1.500.000 đồng và không có
giấy chứng nhận đăng xe, sau đó mang về cho anh ruột Văn M1 cách
ngày bị tai nạn khoảng 06 năm. Qua tra cứu xác định các xe tô nêu trên
không nằm trong danh mục xe vật chứng.
quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho Văn T1 (cha ruột Văn M1)
01 xe mô hai bánh số khung RLHJC4314AY058820, số máy
JC43E1277353 trả lại cho bị cáo T xe hai bánh biển số 60Y2 - 2783.
Tiếp tục tạm giữ biển số 51K5-0618.
Tại Bản án hình sự thẩm số:22/2026/HS-ST ngày 30 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao
thông đường bộ”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51;
khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Văn T 01 (Một) năm tù. Thời hạn tính từ ngày bcáo
chấp hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, x
vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo quy định của pháp luật.
Ngày 09 tháng 4 năm 2026 bị cáo Võ Văn T đơn kháng cáo với nội
dung yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo
hưởng án treo.
Ngày 13 tháng 4 năm 2026 người đại diện hợp pháp của bị hại ông
Văn T1 đơn kháng cáo với nội dung yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm cho bị
cáo T hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo ginguyên kháng cáo xin được hưởng án
treo, do bị cáo lao động chính trong gia đình, bị cáo đã cố gắng bồi thường
thiệt hại theo yêu cầu của gia đình bị hại, đại diện bhại cũng đơn xin cho bị
cáo hưởng án treo và khi tai nạn xảy ra bị cáo cũng bị y chân chữa trị đến nay
chưa khỏi.
Người đại diện hợp pháp của bị hại ông Văn T1 trình bày: Bị cáo đã
biết lỗi, sau khi tai nạn xảy ra bị cáo cũng đã nhiều lần gặp gia đình bị hại để
thăm hỏi bồi thường một phần thiệt hại, hiện hoàn cảnh của bị cáo đang khó
7
khăn nên xin cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo tiếp tục cấp dưỡng cho con của
bị hại.
Luật sư Trịnh Hữu B là người bào chữa cho bị cáo T trình bày: Thống nhất
quan điểm Kiểm sát viên đề nghị cho bị cáo hưởng án treo. Về tội danh, Luật
thống nhất tội danh của bị cáo “Vi phạm quy định về tham gia giao thông
đường bộ”, không thống nhất Cáo trạng truy tố bị cáo tội danh trên theo quy
định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Hồ vụ án thể hiện lời
khai của bị cáo tại phiên tòa thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo
trình bày trưa ngày 10/11/2024 bị cáo uống 1-2 ly rượu nhưng ngày
11/11/2024 bị cáo ý thức tham gia giao thông nên không sử dụng rượu bia.
Các văn bản của cơ quan y tế cũng kết luận nồng độ cồn trong máu bị cáo không
xác định được do sử dụng rượu bia hay do chuyển hóa thức ăn nồng độ cồn
trong máu đo bằng đơn vị miligam/100mililit, trị số bình thường 0-
50miligam/100mililit; nồng độ cồn trong máu đo bằng đơn vị mmol/l: trị số bình
thường là <10.9mmol/l. Với kết quả 18miligam/100mililit thì tương đương
3.9mmol/l là trong mức bình thường. Tại Công văn 250 của Tòa án nhân dân tối
cao hướng dẫn trường hợp không xác định được bị cáo sử dụng rượu bia thì
không áp dụng tình tiết sdụng rượu bia. Như vậy, chưa đủ căn cứ xác định
bị cáo sdụng rượu bia trước khi tham gia giao thông nên không đủ căn cứ
áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Hơn nữa Kết luận điều tra
cũng xác định bị cáo phạm tội quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự, b
cáo chỉ một hành vi vượt trái không chú ý quan sát. Bị cáo nhân thân tốt,
phạm tội với lỗi vô ý, bị hại có một phần lỗi có sử dụng cồn vượt mức quy định,
nguyên nhân phạm tội yếu tố khách quan do đoạn đường xảy ra tai nạn đang
sửa chữa nên các phương tiện đều di chuyển qua trái. Đề nghị Hội đồng xét xử
áp dụng các khoản 1,2,3 Điều 54 Bộ luật Hình sự sửa bản án sơ thẩm cho bị cáo
mức án cải tạo không giam giữ, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, bị hại đề
nghị của Kiểm sát viên.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu quan điểm:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e
khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Văn T. Sửa Bản án sơ thẩm số
22/2026/HS-ST ngày 30/3/2026 của Toà án nhân dân khu vực 9 -Vĩnh Long về
áp dụng hình phạt.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51;
khoản 1 Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Văn T 01 (một) năm tù, vtội “Vi phạm quy định v
tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là
02 (hai) năm.
8
Các nội dung khác của Bản án thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã
có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Lời nói sau cùng của bị cáo Văn T xin cho bị cáo hưởng án treo do bị
cáo còn đang chữa trị chân bị thương chưa khỏi hoàn cảnh bị cáo khó khăn,
bị cáo là lao động chính trong gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn
cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý
kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, Hội đồng xét
xử nhận thấy như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Văn T người đại diện hợp pháp của bị
hại ông Lê Văn T1 nộp trong hạn luật định là hợp lệ, phù hợp quy định Điều 333
của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc
thẩm.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, phù hợp lời khai của bị cáo
tại phiên tòa thẩm, tại quan điều tra và phù hợp với lời khai của người đại
diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng; cùng các tài liệu, chứng cứ khác
trong hồ vụ án thể hiện: Vào khoảng 13 giờ 45 phút ngày 11/11/2024 tại
Km77 + 700m thuộc ấp T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bến Tre (nay T, tỉnh
Vĩnh Long), bị cáo Võ Văn T điều khiển xe mô tô biển số 60Y2 - 2783 tham gia
giao thông đã lấn trái vượt xe không đảm bảo an toàn, vi phạm khoản 1 Điều
9; khoản 2 Điều 14; điểm c khoản 2 Điều 17 Luật giao thông đường bộ năm
2008, sửa đổi bổ sung năm 2019 dẫn đến va chạm với xe hai bánh gắn
biển số 51K5-0618 do bị hại Văn M1 đang điều khiển lưu thông theo hướng
ngược lại gây tai nạn. Hậu quả làm anh Văn M1 tvong. Do đó, Toà án cấp
thẩm xét xử bị cáo Văn T phạm tội: “Vi phạm quy định vtham gia giao
thông đường bộ” theo quy định tại Điều 260 của Bộ luật Hình scăn cứ,
đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, căn cứ tài liệu trong hồ vụ án lời
khai của bị cáo tại phiên tòa thẩm, phiên tòa phúc thẩm thể hiện bị cáo sử
dụng rượu vào buổi sáng ngày 10/11/2024, trước thời điểm xảy ra tai nạn vào
lúc 13 giờ 30 ngày 11/11/2024 là quá một ngày (24 giờ), các văn bản của
quan y tế cũng kết luận nồng độ cồn 18miligam/100mililit trong máu của bị cáo
không xác định được do bị cáo sử dụng bia rượu hay do chuyển hóa thứa ăn nên
không đủ căn cứ xác định trước khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông
xảy ra tai nạn bị cáo sử dụng rượu bia, do đó theo hướng dẫn tại mục 3
Phần I Công văn số 250/TANDTC-PC ngày 28/4/2026 của Tòa án nhân dân tối
cao, không đủ căn cứ áp dụng tình tiết phạm tội quy định tại điểm b khoản 1
Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025 đối
9
với bị cáo T. vậy, Hội đồng xét xử kết luận hành vi phạm tội của bị cáo T
được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi
bổ sung năm 2017, năm 2025.
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho hội, đã trực tiếp
xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông, gây thiệt hại tính mạng của bị hại. Khi
bị cáo tham gia giao thông không tuân thủ đi đúng phần đường quy định, chủ
quan vượt xe không chú ý quan sát dẫn đến tai nạn làm cho bị hại tử vong.
vậy, cần phải xử nghiêm, tương xứng với tính chất, mức đnguy hiểm về
hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm răn đe giáo dục riêng đối với bị cáo
phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Xét kháng cáo xin cho bị cáo hưởng án treo của bị cáo T và ông T1, Hội
đồng xét xử nhận thấy: Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Tòa án cấp
thẩm đã xem xét đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo đã
áp dụng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện khắc
phục hậu quả cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định
tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Mặc dù hành vi
phạm tội của bị cáo bị xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 260 của Bộ luật
Hình sự mức khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm nhưng xét thấy Tòa
án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo mức án 01 là tương xứng với tính chất, mức
độ hành vi phạm tội của bị cáo và phù hợp với quy định của pháp luật. Tại phiên
tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới. Xét
kháng cáo của bị cáo T ông T1 không căn cứ để chấp nhận. vậy, giữ
nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm như đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.
[5] Phát biểu bào chữa của Luật đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều
260 Bộ luật Hình sự đối với hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với nhận định
của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận; đề nghị áp dụng hình phạt cải tạo
không giam giữ hoặc cho bị cáo hưởng án treo không có căn cứ chấp nhận.
[6] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên không phù hợp với nhận
định trên của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.
[7] Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Các Quyết định khác của Bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 1 Điều 357 của Bộ luật
Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Văn T người đại diện hợp
pháp của bị hại ông Lê Văn T1.
10
Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 22/2026/HS-ST ngày 30 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 9-Vĩnh Long váp dụng điểm, khoản của điều
luật.
2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51;
Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Văn T 01 (một) năm tù, vtội “Vi phạm quy định về
tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
3. Án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 2
Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Võ Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí
hình sự phúc thẩm.
4. Các Quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Vụ GĐKT I -TANDTC: 02;
- VKSNDTC (Vụ 7): 01;
- VKSND tỉnh Vĩnh Long: 02;
- TAND khu vực 9-Vĩnh Long: 02;
- VKSND khu vực 9-Vĩnh Long: 01;
- Phòng THADS khu vực 9-Vĩnh Long: 01;
- Bị cáo: 01;
- Phòng hồ sơ Công an tỉnh Vĩnh Long: 01;
- Công an xã Quới Điền: 04;
- Lưu Văn phòng: 01;
- Phòng GĐ,KT,TT&THA tỉnh Vĩnh Long: 01;
- Lưu hồ sơ vụ án: 02.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Võ Thị Mỹ Dung
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 66/2026/HS-PT Bản án số 66/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 66/2026/HS-PT Bản án số 66/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất