Bản án số 710/2026/DS-PT ngày 26/05/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 710/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 710/2026/DS-PT ngày 26/05/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 710/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thị Mộng Th - Trần Phi H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 710/2026/DS-PT Bản án số 710/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 710/2026/DS-PT Bản án số 710/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 710/2026/DS-PT
Ngày: 26- 05-2026
Về việc “tranh chấp đòi lại quyền
sử dụng đất và lối đi”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng
Các Thẩm phán: Bà Dương Thuý Hằng
Bà Hoàng Thị Thuý Lành
- Thư ghi biên bản phiên tòa: Phan Ngọc Nhẩn, Thư kýa án nhân dân
tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Đặng
Thị Cẩm Chi, Kiểm sát viên.
Trong các ngày 22, 26 tháng 05 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây
Ninh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 277/2026/TLPT-
DS ngày 10 tháng 4 năm 2026 về việc “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất lối đi”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2026/DS-ST ngày 28 tháng 01 năm 2026 Tòa
án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm số 350/2026/QĐ-PT ngày 14
tháng 04 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Mộng T, sinh năm 1989
Địa chỉ: Khu phố L, phường T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của bà T: Ông Phạm Tiến D, sinh năm 1984
Địa chỉ: Khu phố C, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo văn bản ủy quyền ngày 15/5/2026) (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành
T1, sinh năm: 1986 - Luật sư Công ty TNHH MTV Nam Sơn LST - Đoàn sư Thành
phố H.
Địa chỉ: Lầu A- Số A N (Khu đô thị V, H, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Bị đơn: Ông Trần Phi H, sinh năm 1971
Địa chỉ: Khu phố L, phường T, tỉnh Tây Ninh.
2
Người đại diện theo ủy quyền của ông H:
1. Phạm Thị Thúy A, sinh năm 1988
Địa chỉ: Khu phố B, phường N, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
2. Ông Trần Minh T2, sinh năm 1984
Địa chỉ: Khu phố L, phường G, tỉnh Tây Ninh.
(Theo văn bản ủy quyền ngày 31/12/2025) (có mặt)
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Trần Phi H
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ngày 12/11/2024, trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa -
người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Trần Minh T3 trình bày:
Đỗ Thị Mộng T ông Trần Phi H mối quan hệ cậu cháu ruột (mẹ ruột
của bà T chị ruột của ông H), nhà bà T và ông H chung ranh giới đất với nhau. Ngày
05/09/2017, bà T được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh T cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (gọi tắt GCNQSDĐ)
số CS06430 đối với thửa đất số 322/175m
2
, tờ bản đồ 06, tại khu phố L, phường T, thị
xã T, tỉnh Tây Ninh từ việc thừa kế đất của mẹ. Sau khi được cấp GCNQSDĐ thì bà T
tiến hành xây nhà hàng rào trên thửa đất. Quá trình xây dựng, T chừa ra
phía trước cửa nhà 01m + chiều dài khoảng 10m, phần mặt tiền căn nhà tiếp giáp với
thửa đất số 321 do ông H đứng tên quyền sử dụng đất. Ngoài ra, trong quá trình xây
nhà thì bà T còn chừa diện tích đất cặp hông nhà chiều ngang khoảng 4m x chiều dài
khoảng 16m, phần đất này tiếp giáp với thửa đất số 35 (đất nghĩa địa) để cho thông
thoáng và làm sân vườn. Nhưng do chưa làm sân vườn nên T có cho ông H sử dụng
để kinh doanh mua bán nhỏ lẻ và làm lối đi tạm. Quá trình ông H sử dụng đất thì không
giữ gìn vệ sinh chung, xả rác bừa bãi gây ô nhiễm môi trường, gây ảnh hưởng trực tiếp
đến sức khỏe gia đình bà T. T đã nhiều lần yêu cầu ông H giữ gìn vệ sinh chung
nhưng ông H không chấp hành. Vì vậy T tiến hành lấy đất lại không cho ông H
sử dụng nữa, nhưng ông H không trả lại đất, thậm chí còn xúc phạm, đe dọa bà.
Ngày 23/9/2024, làm đơn đề nghị gửi UBND phường T, thị T, tỉnh Tây
Ninh giải quyết. Ngày 01/11/2024, UBND mời hòa giải thì ông H đồng ý cho T thuê
Công ty N đo đạc. Ngày 05/11/2024, UBND phường Công ty N tiến hành đo đạc,
quá trình đo đạc, cắm mốc sự chứng kiến của địa chính UBND phường ông H,
biên bản do UBND phường T lập. Sau khi kết quả đo đạc thì ông H không đồng ý
với kết quả đo đạc. Theo đơn khởi kiện, bà T yêu cầu ông H trả lại phần diện tích đất
ngang khoảng 5m x dài khoảng 10m, thuộc thửa đất số 322, tờ bản đồ 06, tại khu phố
L, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Theo kết quả đo đạc của Công ty TNHH MTV
T4 - Chi nhánh T5, Đỗ Thị Mộng T yêu cầu ông Trần Phi H trả lại phần diện tích
thực tế là 61,5m
2
, thuộc một phần thửa đất 322, tờ bản đồ số 6, tại khu phố L, phường
T, tỉnh Tây Ninh. Trong đó, phần diện tích 36,6m
2
tuy đất trống, nhưng ông H để
một số vật dụng, đổ rác gây mất vệ sinh và thỉnh thoảng có hành vi ngăn cản gia đình
T để đồ đạc nên nhiều lần xảy ra cự cãi. Hiện tại, T đang giữ bản chính
GCNQSDĐ. T tự nguyện chịu số tiền 1.450.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại
chỗ lần đầu do không đo đạc được. Đối với các yêu cầu phản tố của ông H thì T
không chấp nhận toàn bộ.
3
Tại phiên tòa, ông vẫn giữ nguyên lời trình bày như trước đây. Ông đề nghị Hội
đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T không chấp nhận yêu cầu
phản tố của ông H, cụ thể như sau: Trước đây, thửa đất của mẹ bà T do bà Trần Kim
Y (cô thứ 6 trong gia đình) đi làm thủ tục cấp GCNQSDĐ, trong đó tất cả các anh em
trong gia đình đều tên lăn tay vào Văn bản phân chia di sản thừa kế ngày
12/12/2015 nên đều biết diện tích sử dụng bao nhiêu. Mẹ bà Y được sử dụng diện tích
175m
2
, ông H sử dụng diện tích 137,7m
2
.
Phần diện tích giữa hai bên gia đình không có ranh giới, chưa có việc xác định
ranh cụ thể, phía ông H cho rằng T xây dựng hàng rào bao quanh nhà việc xác
định ranh và công nhận quyền sử dụng đất cho ông H theo Điều 175 và 236 B luật sự
là không phù hợp.
Do mồ mả của dòng họ giáp phần đất của T nên các chú gần đi ngang
phần đất phía trước nhà T cho tiện, chứ thực tế không phải lối đi mồ mả. Theo
thực tế thì phần mồ mả vẫn con đường đi khác và không ai đi đường này vào phần nhà
phía trong như lời trình bày của phía ông H. Ngoài ra, theo hồ cấp GCNQSDĐ thì
giữa phần đất bà T và ông H không thể hiện có đường vào mồ mả của dòng họ.
Nguyên đơn - Đỗ Thị Mộng T trình bày: thống nhất với lời trình bày của
ông T3. thừa nhận căn nhà trước đây do ông Trần Hùng C (cậu ruột) xây dựng. Việc
chừa đất phía trước và kế bên nhà là do chưa có nhu cầu sử dụng và hai bên gia
đình cũng dòng họ nên việc cho sử dụng nhờ chỉ nói miệng. Trước đây, giữa hai bên
gia đình rất thuận thảo, tuy nhiên trong quá trình sinh sống có mâu thuẫn từ đó dẫn đến
không hòa thuận nên yêu cầu ông H trả lại đất, nhưng ông H không đồng ý thường
xuyên xả rác ra phần đất tranh chấp.
Tại phản tố ngày 05/01/2026, trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa người
đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Trần Minh T2 trình bày:
Về quan htranh chấp giữa ông H T thì ông thống nhất với lời trình bày
của ông T3. Phần diện tích đất giữa ông H và bà T sử dụng đất giáp ranh nhau, nhưng
cách nhau bằng một lối đi. Nguồn gốc đất của ông H là do mẹ của ông H (cụ Trịnh Thị
H1) tặng cho từ năm 1993, khi đó chưa được cấp GCNQSDĐ và chưa tiến hành đo đạc
diện tích. Nguồn gốc đất của bà T cũng là từ cụ H1 cho mẹ của bà T (bà Trần Thị Y1,
đã chết), sau này bà T hưởng thừa kế từ Y1. Ông H không nhớ Y1 sử dụng đất từ
khi nào, chỉ nhớ Y1 cất nhà trước khi ông H được tặng cho đất cất nhà ở, khi
đó nhà Y1 chưa m hàng rào. Đến năm 2016, chị thứ 6 là bà Trần Kim Y mới đứng
ra làm thủ tục sang tên cho ông các anh em khác trong gia đình. Từ khi ông H sử
dụng đất thì giữa ông H và nhà bà T không có tiến hành xác định lại ranh đất, giữa hai
bên không có lấy gì làm ranh. Tuy nhiên, giữa đất của ông H và bà T có phần đất trống
được sử dụng làm lối đi vào nghĩa địa của họ tộc nhưng hiện nay không còn ai đi nữa,
chỉ là đất trống. Phần đất bà T tranh chấp với ông H thực tế phần đất lối đi vào nghĩa
địa của ông bà để lại. Hiện ông H đang dựng bếp tạm nấu chè trên phần đất trống. Riêng
phần đất của bà T đã làm hàng rào bao quanh phần đất của mình nhưng xây từ khi nào
thì ông H không nhớ. Hiện tại, phần đất ông H đã được cấp GCNQSDĐ số CB 303966
đối với thửa đất số 321/137,7m
2
, tờ bản đồ 06, tại khu phố L, phường T, thị xã T, tỉnh
Tây Ninh. Ông thống nhất kết quả đo đạc của ng ty TNHH MTV T4 - Chi nhánh T5
và thống nhất phần diện tích tranh chấp là 61,5m
2
.
4
Ông H không đồng ý đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T và có đơn u
cầu phản tố công nhận được quyền sử dụng đất phần diện tích 9,5m
2
(phần mái che)
thuộc thửa đất số 322, tờ bản đồ số 06, tại khu phố L, phường T, tỉnh Tây Ninh cho ông
H sở hữu. Đồng thời, ông H yêu cầu công nhận phần diện tích 52,0m
2
(gồm 15,4m
2
mái
che tạm và 36,6m
2
phần đất trống) thuộc thửa đất số 322, tờ bản đồ số 06, tại khu phố
L, phường T, tỉnh Tây Ninh làm lối đi chung. Ông H tự nguyện tháo dỡ mái che tạm.
Tại phiên tòa, ông đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của bà T và chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông H, cụ thể như sau:Khi bà Trần
Kim Y làm thủ tục cấp GCNQSDĐ cho mẹ bà T, ông H thì chỉ tiến hành trên mặt giấy
tờ nên Y không biết chừa con đường làm lối đi theo như Văn bản phân chia di
sản thừa kế ngày 12/12/2015 của các anh em trong gia đình; thực tế giữa đất mẹ T
và ông H có con đường đi vào mồ mả.
Giữa phần đất ông H mẹ T đã sử dụng đất ổn định khi cha mẹ cho đất. Sau
này, làm thủ tục cấp giấy không tiến hành đo đạc lại nên việc cấp GCNQSDĐ chưa
chính xác. Hiện tại, ông H T sử dụng đúng hiện trạng đất từ trước cho đến nay.
Diện tích bà T đang sử dụng trong khuôn viên 130,0m
2
đúng diện tích trước đây ông
ngoại cho lại mẹ T. Do đó, căn cứ Điều 236 Bộ luật sự xác định quyền sở hữu
cho ông H phù hợp thực tế sử dụng.
Việc bà T cho rằng có sự việc cho ông H mượn đất để đồ đạc là không đúng, vì
ông H làm mái che thì bà T biết, không phản đối, cho thấy T biết đất của mình được
sử dụng đến đâu theo Điều 175 Bộ luật sự.
Đối với phần diện tích 52,0m
2
, ông H yêu cầu phản tố làm lối đi thì ông H khởi
kiện vì lợi ích của dòng họ để thuận lợi cho việc đi lại vào mồ mả sau này.
Tại Bản án thẩm số 22/2026/DS-ST ngày 28 tháng 01 năm 2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh, đã căn cứvào cácĐiều 163, 164, 166, 254 của Bộ luật
dân sự năm 2015; Điều 26, 134 của Luật Đất đai năm 2024; Điều 147, 157, 165 của Bộ
luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án p
và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Mộng T đối với ông Trần Phi H.
Buộc ông Trần Phi H trả lại cho bà Đỗ Thị Mộng T phần đất diện tích thực tế
61,5m
2
, thuộc thửa đất 322, tờ bản đồ số 6, tại khu phố L, phường T, thị xã T, tỉnh Tây
Ninh (nay là khu phố L, phường T, tỉnh Tây Ninh).
Phía Đông Bắc giáp thửa 322 dài là 1,61m;
Phía Đông Nam giáp thửa 322 dài lần lượt 6,02m, 0,99m, 2,90m, 3,00m,
4,47m, 2,07m và 0,87m;
Phía Tây Nam giáp thửa 322 dài 10,8m;
Phía Tây Bắc giáp thửa 35 dài lần lượt 10,95m, 3,49m, 0,55m.
(Kèm theo sơ đồ hiện trạng sử dụng đất này 30/10/2025)
Buộc ông Trần Phi H di dời các tài sản trên diện tích nêu trên để trả lại cho
5
Đỗ Thị Mộng T.
2. Không chấp nhận các yêu cầu phản tố của ông Trần Phi H đối với bà Đỗ Thị
Mộng T.
Công nhận phần đất diện tích là 9,5m
2
, thuộc thửa đất 322, tbản đồ số 6, tại
khu phố L, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh (nay khu phố L, phường T, tỉnh Tây
Ninh) cho ông Trần Phi H.
Công nhận phần đất có diện tích 52,0m
2
, thuộc thửa đất 322, tờ bản đồ số 6, tại
khu phố L, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh (nay khu phố L, phường T, tỉnh Tây
Ninh) làm lối đi chung.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, thời hạn kháng
cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Ngày 11/02/2026, bị đơn ông Trần Phi H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu
cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa án thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thoả thuận được với nhau vviệc
giải vụ án, không cung cấp chứng cứ mới.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Trần Phi H trình bày: Giữ nguyên yêu
cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của bà Đỗ Thị Mộng T và chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông H. Cho
rằng nguồn gốc phần đất tranh chấp các bên đều do cụ Trịnh Thị H1 để lại. Thực tế từ
trước năm 1995 giữa phần đất hiện nay thuộc thửa đất số 321, diện tích 137,7m² của
ông H và thửa đất số 322, diện tích 175m² của T tồn tại lối đi vào khu mộ gia tộc.
Khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cơ quan có thẩm quyền không
đo đạc hiện trạng thực tế nên phần lối đi này đã được đưa vào thửa đất số 322. Sau khi
đo đạc lại, diện tích thực tế của T tăng lên so với giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất. Ông H đã quản lý, sử dụng ổn định phần đất tranh chấp trong thời gian dài, công
khai, liên tục nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Đỗ Thị Mộng T trình bày: Không
đồng ý kháng cáo của ông H, đnghị giữ nguyên bản án thẩm. Xác định phần đất
tranh chấp diện tích 61,5m² thuộc một phần thửa đất số 322, tờ bản đsố 6 đã được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho T. Việc diện tích thực tế có chênh
lệch sau đo đạc không chỉ xảy ra đối với thửa đất số 322 cả thửa đất số 321 của ông
H cũng tăng lên, tuy nhiên việc chênh lệch này không làm thay đổi quyền sử dụng đất
đã được Nhà nước công nhận cho bà T và ông H. Ông H không có tài liệu chứng minh
phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của mình hoặc là lối đi chung.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: thống nhất
với ý kiến của nguyên đơn và người đại diện nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử bác
kháng cáo của ông H cho rằng hồ sơ vụ án đã thể hiện rõ phần đất tranh chấp diện tích
61,5m² thuộc một phần thửa đất số 322, tờ bản đồ số 6, đã được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất hợp pháp cho bà T. Bị đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ
chứng minh phần đất này lối đi công cộng hoặc phần đất thuộc quyền sử dụng ca
ông H.
6
Việc bị đơn cho rằng diện tích đất của T tăng lên sau khi đo đạc là không đủ
căn cứ để chấp nhận kháng cáo, bởi diện tích thực tế của các thửa đất đều có sự chênh
lệch nhất định sau đo đạc, trong đó không chỉ thửa đất số 322 cả thửa đất số 321
của ông H cũng biến động. Sự chênh lệch diện tích này không làm thay đổi ranh giới
pháp lý đã được xác lập theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hồ sơ phân chia di
sản.
Đối với yêu cầu công nhận 52m² làm lối đi chung, không căn cứ áp dụng Điều
254 Bộ luật Dân sự năm 2015, đây không phải trường hợp bất động sản bị vây bọc
không lối ra đường công cộng. Thửa đất số 35 đất nghĩa địa vẫn còn hướng tiếp
giáp đường nhựa để đi ra ngoài. Do đó, yêu cầu công nhận lối đi chung trên phần đất
đã được cấp giấy chứng nhận cho T là không có căn cứ. Luật sư đề nghị không chấp
nhận kháng cáo của ông Trần Phi H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa ý kiến
cho rằng:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án theo trình tự phúc thẩm đến trước thời điểm Hội
đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa đã thực hiện đúng
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy
đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Đơn kháng cáo của ông Trần Phi
H làm trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án phần đất tranh
chấp diện tích 61,5thuộc một phần thửa đất số 322, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại khu
phố L, phường T, tỉnh Tây Ninh đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
Trần Thị Y1. Sau đó bà Đỗ Thị Mộng T nhận thừa kế và được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất theo quy định. Ông Trần Phi H không cung cấp được chứng cứ chứng
minh phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình hoặc lối đi chung.
Đối với yêu cầu công nhận diện tích 9,5m² thuộc một phần thửa đất số 322 cho
ông H sử dụng và yêu cầu công nhận diện tích 52,0m² thuộc một phần thửa đất số 322
làm lối đi chung không có căn cứ. Bởi lẽ, phần đất này nằm trong giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất của bà T. Đồng thời, thửa đất số 35 là đất nghĩa địa vẫn còn lối tiếp
giáp đường nhựa, không thuộc trường hợp bất động sản bvây bọc theo Điều 254 Bộ
luật Dân sự năm 2015.
Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Mộng T, buộc ông Trần
Phi H trả lại diện tích 61,5m² thuộc một phần thửa đất số 322, tờ bản đồ số 6, không
chấp nhận các yêu cầu phản tố của ông H có căn cứ, đúng pháp luật. Vì vậy, đề nghị
Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Phi H, giữ nguyên bản án
dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐNH CA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ ván đã được thẩm tra
tại phiên tòa; ý kiến tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội
đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
7
[1.1] Về tính hợp lệ của kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Trần Phi H
thực hiện đúng theo quy định tại các 271, 272, Điều 273 276 của Bộ luật Tố tụng
dân sự nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: Căn cứ nội dung đơn kháng cáo của ông
Trần Phi H. Cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm bị kháng cáo theo quy
định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của ông Trần Phi H yêu cầu sửa bản án sơ thẩm
theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Mộng T, đồng thời chấp
nhận yêu cầu phản tố của ông H, thấy rằng:
[2.1] Về nguồn gốc quá trình sử dụng đất: Các đương sự đều thống nhất phần
đất của bà Đỗ Thị Mộng T và ông Trần Phi H có nguồn gốc từ cụ Trịnh Thị H1 để lại.
Sau khi cụ H1 chết, ngày 12/12/2015, những người thuộc hàng thừa kế của cụ H1 đã
lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế. Theo nội dung thỏa thuận này, Trần
Thị Y1 mẹ của ĐThị Mộng T được chia thửa đất số 322, tờ bản đồ số 6, diện
tích 175m² ông Trần Phi H được chia thửa đất số 321, tờ bản đồ số 6, diện tích
137,7m² cùng tọa lạc tại khu phố L, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, nay là khu ph
L, phường T, tỉnh Tây Ninh.
Trên cơ sở văn bản thỏa thuận phân chia di sản, Trần Thị Y1 được quan
Nhà nước thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS05533 ngày
14/01/2016 đối với thửa đất số 322, tờ bản đồ số 6, diện tích 175m² và ông Trần Phi H
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 303966 ngày 14/01/2016 đối với
thửa đất số 321, tờ bản đsố 6, diện tích 137,7m². Sau đó, bà Đỗ Thị Mộng T nhận thừa
kế quyền sử dụng đất từ mẹ Trần Thị Y1 được Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06430 ngày 05/9/2017 đối với
thửa đất số 322, tờ bản đồ số 6, diện tích 175m² tọa lạc tại khu phố L, phường T, thị
T, tỉnh Tây Ninh, nay là khu phố L, phường T, tỉnh Tây Ninh.
[2.2] Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ đo đạc của Công ty TNHH
MTV T4 - Chi nhánh T5 xác định phần đất tranh chấp diện tích thực tế 61,5m², thuộc
một phần thửa đất số 322, tờ bản đồ số 6, tại khu phố L, phường T, tỉnh Tây Ninh.
Trong đó gồm phần diện tích 9,5m² có mái che, phần diện tích 15,4m² có mái che tạm
phần diện tích 36,6m² đất trống. Các bên đương sự thống nhất với kết quả đo đạc
này. Như vậy, đủ căn cứ xác định toàn bộ diện tích đất tranh chấp 61,5m² nằm trong
thửa đất số 322 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T, không thuộc
thửa đất số 321 của ông H.
[2.3] Ông H cho rằng phần đất tranh chấp là phần đất gia tộc để lại làm lối đi vào
khu mộ, không phải đất của T. Đồng thời, cho rằng quá trình sử dụng đất ổn định
lâu dài nên yêu cầu công nhận quyền sử dụng đối với diện tích 9,5m² công nhận
52m² làm lối đi chung. Tuy nhiên, lời trình bày này không tài liệu, chứng cứ hợp
pháp chứng minh.
Hồ địa chính, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, văn bản phân chia di sản
thừa kế ngày 12/12/2015 và kết quả đo đạc đều thể hiện phần đất tranh chấp thuộc thửa
đất số 322 của bà T. Nếu cho rằng việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
Trần Thị Y1, sau đó cấp cho bà T là không đúng, ông H phải cung cấp được chứng cứ
chứng minh.
8
Mặt khác, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 908524 ngày
09/12/2015, thửa đất số 39, diện tích 422,3m², tờ bản đồ số 6 đã được tách thành các
thửa gồm: thửa đất số 320, diện tích 109,6m²; thửa đất số 321, diện tích 137,7m² và
thửa đất số 322, diện tích 175m². Việc tách thửa và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất được thực hiện trước thời điểm các đồng thừa kế lập văn bản thỏa thuận phân chia
di sản ngày 12/12/2015. Do đó, có căn cứ xác định khi phân chia di sản, các đồng thừa
kế đã biết rõ diện tích, vị trí các thửa đất được phân chia. Việc ông H cho rằng khi làm
thủ tục cấp giấy không đo đạc, không biết có chừa lối đi vào mộ là không phù hợp với
tài liệu có trong hồ sơ.
[2.4] Đối với yêu cầu công nhận diện tích 9,5m² thuộc thửa đất số 322 cho ông
H sử dụng: Ông H cho rằng đã dựng mái che, sử dụng ổn định T không phản đối.
Tuy nhiên, việc sử dụng một phần đất của người khác, dù có thời gian sử dụng thực tế,
cũng không làm phát sinh quyền sử dụng đất nếu không căn cứ chuyển quyền hợp
pháp, không được người quyền sử dụng đất đồng ý bằng văn bản, không được
quan nhà nước có thẩm quyền công nhận. Bà T không thừa nhận việc chuyển nhượng,
tặng cho hoặc cho ông H quyền sử dụng phần đất này. Do đó, yêu cầu phản tố của ông
H về việc công nhận diện tích 9,5m² thuộc một phần thửa đất số 322 cho ông H không
có căn cứ chấp nhận.
[2.5] Đối với yêu cầu công nhận diện tích 52m² thuộc một phần thửa đất số 322
làm lối đi chung.
Điều 254 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc
bởi các bất động sản của chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường
công cộng thì quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một
lối đi hợp lý. Trong vụ án này, ông H yêu cầu công nhận lối đi để đi vào khu mộ của
gia tộc, không phải yêu cầu lối đi cho bất động sản bị vây bọc ra đường công cộng. Hơn
nữa, theo đồ hiện trạng sử dụng đất, thửa đất số 35 đất nghĩa địa còn hướng
tiếp giáp đường nhựa để ra ngoài. Vì vậy, không có căn cứ xác định thửa đất nghĩa địa
bị vây bọc đến mức bắt buộc phải mở lối đi trên phần đất thuộc quyền sử dụng hợp
pháp của T.
[2.6] Đối với các tài sản trên đất gồm mái che diện tích 9,5m², mái che tạm diện
tích 15,4m² và hàng rào B40, móng trên phần đất tranh chấp.
Các tài sản này do phía ông H tạo lập trên phần đất thuộc quyền sử dụng của bà
T, kết cấu đơn giản, thể tháo dỡ, di dời. Cấp thẩm buộc ông H di dời các tài
sản trên đất để trả lại diện tích 61,5m² cho bà T là phù hợp.
[3] Từ những phân tích trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Trần
Phi H, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên
tòa đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Phi H, giữ nguyên bản án sơ thẩm
là có căn cứ, phù hợp nên được chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông
Trần Phi H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng
dân sự và Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
[5] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, không bkháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
9
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 B luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Phi H.
Giữ nguyên bản án dân sự thẩm số 22/DS-ST ngày 28/01/2026 của Toà án
nhân dân khu vực 12 –y Ninh.
Căn cứ Điều 147, 148, 157, 165 của Bluật Tố tụng dân sự; Điều 163, 164, 166,
254 của Bộ luật sự năm 2015; Điều 26, 134 của Luật Đất đai năm 2024; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban vụ Quốc hội quy định về án phí
và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Mộng T đối với ông Trần Phi H.
1.1. Buộc ông Trần Phi H trả lại cho bà Đỗ Thị Mộng T phần đất diện tích thực
tế là 61,5m
2
, thuộc thửa đất 322, tờ bản đồ số 6, tại khu phố L, phường T, thị xã T, tỉnh
Tây Ninh (nay là khu phố L, phường T, tỉnh Tây Ninh).
- Phía Đông Bắc giáp thửa 322 dài là 1,61m;
- Phía Đông Nam gp thửa 322 dài lần lượt 6,02m, 0,99m, 2,90m, 3,00m,
4,47m, 2,07m và 0,87m;
- Phía Tây Nam giáp thửa 322 dài 10,8m;
- Phía Tây Bắc giáp thửa 35 dài lần lượt 10,95m, 3,49m, 0,55m.
(Kèm theo sơ đồ hiện trạng sử dụng đất này 30/10/2025)
1.2. Buộc ông Trần Phi H di dời các tài sản trên diện tích nêu trên để trả lại cho
Đỗ Thị Mộng T.
2. Không chấp nhận các yêu cầu phản tố của ông Trần Phi H đối với bà Đỗ Thị
Mộng T.
2.1. Công nhận phần đất có diện tích là 9,5m
2
, thuộc thửa đất 322, tờ bản đồ số
6, tại khu phố L, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh (nay là khu phố L, phường T, tỉnh
Tây Ninh) cho ông Trần Phi H.
2.2. Công nhận phần đất có diện tích 52,0m
2
, thuộc thửa đất 322, tờ bản đồ số 6,
tại khu phố L, phường T, thị T, tỉnh Tây Ninh (nay khu phố L, phường T, tỉnh Tây
Ninh làm lối đi chung.
3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ định giá tài sản: Ông Trần Phi H
nghĩa vụ trả lại cho ĐThị Mộng T số tiền 29.800.000 (hai mươi chín triệu tám trăm
nghìn) đồng.
Kể từ ngày bà Đỗ Thị Mộng T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Trần Phi H
không trả số tiền nêu trên, thàng tháng ông H còn phải trả cho bàThúy số tiền lãi trên
số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật sự
cho đến khi thanh toán xong.
4. Về án phí dân sự thẩm: Ông Trần Phi H phải chịu 900.000 (chín trăm nghìn)
10
đồng án phí, cho khấu trừ số tiền 600.000 đồngsáu trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã
nộp theo biên lai số 0000263 ngày 06/01/2026 của Phòng hành án dân sự khu vực 12,
tỉnh Tây Ninh sang án phí. Ông H còn phải nộp tiếp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
Hoàn trả cho Đỗ Thị Mộng T số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng
án phí đã nộp theo biên lai số 0012185 ngày 08/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân
sự thị Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh (nay Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 12 -
Tây Ninh).
5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Phi H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm
nghìn đồng) nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án
phí đã nộp theo biên lai thu số 0003308 ngày 13 tháng 02 năm 2026 của Thi hành án
dân sự tỉnh Tây Ninh. Ông H đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
6. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định đựơc thi hành theo
định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người đựơc thi hành án dân sự, người phải
thi hành án dân sự được quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo định tại các điều 6,7 9 Luật Thi
hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo định tại Điều 30 Luật hành
án dân sự.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tối cao tại TP.HCM;
- VKSND tối cao tại TP.HCM;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 12 - Tây Ninh;
- Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh;
- Đương sự;
- Phòng HCTP-TAND tỉnh TN;
- Phòng GĐ, TT, KT&THA.TANDTTN;
- Lưu. hồ sơ, lưu trữ, tập án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Diễm Hằng
11
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 710/2026/DS-PT Bản án số 710/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 710/2026/DS-PT Bản án số 710/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất