Bản án số 173/2026/HS-PT ngày 19/06/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 173/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 173/2026/HS-PT ngày 19/06/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 173/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/06/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Vào năm 2010, Cao Thanh M đưa số tiền 2.000.000 đồng cho một người bạn (không rõ họ tên, địa chỉ), nhờ người này đặt mua cho M 01 bằng nghề vận hành máy nâng chuyền “giả”, do Trường Cao đẳng G cấp. Đến năm 2020, M nộp bằng nghề này để xin vào làm nhân viên lái xe nâng cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên (TNHH M) xe nâng “Dũng S”, trụ sở 4 Khu phố C, phường A, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai do Nguyễn Thị Bé B làm giám đốc. Quá trình M vào công ty làm việc, B biết rõ M không biết chữ, không có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ và không có giấy phép lái xe nâng để điều khiển lưu thông trên đường giao thông theo quy định nhưng B vẫn điều động M điều khiển xe nâng lưu thông trên đường giao thông đường bộ để đi nâng hàng. Vào ngày 18/9/2022, B điều động M điều khiển xe nâng nhãn hiệu Mitsubishi FD100, màu vàng đi nâng hàng tại Công ty C tại khu công nghiệp N, huyện N (nay là xã N), tỉnh Đồng Nai. Đến khoảng 05 giờ ngày 19/9/2022, M điều khiển xe nâng trên từ bãi xe của Công ty “Dũng S1” tại Ấp G, xã A, huyện L (nay là xã A), tỉnh Đồng Nai đến Công ty C để nâng hàng. Khoảng 11 giờ 40 phút cùng ngày, sau khi nâng hàng xong, M điều khiển xe nâng về lại bãi xe nêu trên. Trên đường đi về, M điều khiển xe nâng lưu thông trên làn đường số 5 (làn đường dành cho xe mô tô) Quốc lộ E, theo hướng Vũng Tàu đi B. Khi lưu thông đến km 16 + 950 Quốc lộ E, thuộc khu A, xã L, huyện L (nay là xã B), tỉnh Đồng Nai thì có xe mô tô biển số 60C1 - 846.8X do chị Tăng Thị Thủy T, sinh năm 1995 cư trú ấp P, xã L, huyện L (nay là xã L), tỉnh Đồng Nai điều khiển, đang đi phía sau cùng chiều, chị T vượt bên phải xe nâng thì bị trượt, làm xe mô tô và người ngã xuống đường thì bị xe nâng do M điều khiển cán qua người của chị T. Hậu quả, chị T tử vong..
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 173/2026/HS-PT Bản án số 173/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 173/2026/HS-PT Bản án số 173/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
Bản án số: 173/2026/HS-PT
Ngày 19 - 6 - 2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Nhân;
Bà Phan Thị Thu Hương.
- Thư phiên tòa: Trần Phương Thảo - Thư Tòa án nhân dân
thành phố Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai tham gia phiên
tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng
Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ số: 170/2026/TLPT-HS
ngày 06 tháng 5 năm 2026; do kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành
phố Đồng Nai, đối với Bản án hình sự thẩm số: 45/2026/HS-ST ngày 29-01-
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đồng Nai;
- Bị cáo bị kháng nghị: Nguyn Th B, sinh năm 1988 tại Đồng Nai;
Căn cước công dân s: ***********X; nơi đăng thường trú: p T, xã A,
thành ph Đ; gii nh: N; ngh nghiệp: Kinh doanh; trình đ văn hoá (học
vn): 12/12; dân tc: Kinh; tôn giáo: Không; quc tch: Vit Nam; con ông
Nguyn Thanh S ã chết) Nguyn Th V; chng Bùi Ngc D (đã
chết) 03 con; tin án: Không; tin s: Không; b cáo ti ngoi; có mt ti
phiên tòa.
- Ngoài ra, vụ án còn có bị cáo Cao Thanh M và những người tham gia tố
tụng khác, không có kháng cáo, không có kháng nghị, Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nội dung chính:
2
Vào năm 2010, Cao Thanh M đưa số tiền 2.000.000 đồng cho một người
bạn (không họ tên, địa chỉ), nhờ người này đặt mua cho M 01 bằng nghề vận
hành máy nâng chuyền “giả”, do Trường Cao đẳng G cấp. Đến năm 2020, M
nộp bằng nghề này để xin vào làm nhân viên lái xe nâng cho Công ty Trách
nhiệm hữu hạn Một thành viên (TNHH M) xe nâng “Dũng S”, trụ sở 4 Khu phố
C, phường A, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai do Nguyễn Th
B làm giám đốc. Quá trình M vào công ty làm việc, B biết M không biết chữ,
không chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ và
không giấy phép lái xe nâng để điều khiển lưu thông trên đường giao thông
theo quy định nhưng B vẫn điều động M điều khiển xe nâng lưu thông trên
đường giao thông đường bộ để đi nâng hàng. Vào ngày 18/9/2022, B điều động
M điều khiển xe nâng nhãn hiệu Mitsubishi FD100, màu vàng đi nâng hàng tại
Công ty C tại khu công nghiệp N, huyện N (nay N), tỉnh Đồng Nai. Đến
khoảng 05 giờ ngày 19/9/2022, M điều khiển xe nâng trên từ bãi xe của Công ty
“Dũng S1” tại Ấp G, xã A, huyện L (nay là xã A), tỉnh Đồng Nai đến Công ty C
để nâng hàng. Khoảng 11 giờ 40 phút cùng ngày, sau khi nâng hàng xong, M
điều khiển xe nâng về lại bãi xe nêu trên. Trên đường đi về, M điều khiển xe
nâng lưu thông trên làn đường số 5 (làn đường dành cho xe mô tô) Quốc lộ E,
theo hướng Vũng Tàu đi B. Khi u thông đến km 16 + 950 Quốc lộ E, thuộc
khu A, xã L, huyện L (nay là xã B), tỉnh Đồng Nai thì có xe mô tô biển số 60C1
- 846.8X do chị Tăng Thị Thủy T, sinh năm 1995 trú ấp P, L, huyện L
(nay là xã L), tỉnh Đồng Nai điều khiển, đang đi phía sau cùng chiều, chị T vượt
bên phải xe nâng thì bị trượt, làm xe người ngã xuống đường thì bxe
nâng do M điều khiển cán qua người của chị T. Hậu quả, chT tử vong.
2. Khám nghim hin trường:
2.1. Mô tả hiện trường chung nơi xảy ra tai nạn:
Vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra trên đoạn đưng thng, mặt đường
tri nhựa, đường chia hai chiều xe chạy bằng dải phân cách cứng, chiều rộng
mặt đường hướng Vũng Tàu về hướng Biên a có chiều rộng 18m00, được
chia làm 05 làn đường (04 làn đường xe ô tô, mi làn đường xe ô rng 3m50;
01 làn đường xe mô tô và phương tiện khác rng 4m00). Gia làn đường xe ô tô
và làn đường xe mô tô phân chia bng dãy phân cách cng.
2.2. Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên, vị trí nạn nhân,
phương tiện, tang vật, dấu vết:
- Vết hn bánh xe mô tô dài 4m30, rộng 0m04, ký hiệu là (1);
- Vũng nước dài 5m20, rộng 0m60, ký hiệu là (2);
3
- Xe mô tô bin s 60C1-864.8X, ký hiệu là (3);
- Nạn nhân: Tăng Thị Thùy Tiên, ký hiệu là (4);
- Vết phanh 1: Dài 3m90, rộng 0m20, ký hiệu là (5);
- Vết phanh 2: Dài 1m40, rộng 0m20, ký hiệu là (6);
- Xe nâng hàng bánh lốp, ký hiệu là (7).
2.3. Xác định điểm mốc và một trong các mép đường làm chuẩn:
Điểm mốc điểm trên của góc cột điện số 174, mặt tiếp diện của điểm
song song vuông góc với mặt đường. Ly mép lphải theo hướng lưu thông
Vũng Tàu về hướng B làm lề chuẩn để đo vẽ và mô tả hiện trường.
2.4. Mô tả theo số thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:
- Vết hằn bánh xe dài 4m30, rộng 0m04, nằm trong lề phải, đu vết hn
ng Vũng Tàu, đo ra lề phi là 0m02, đầu vết hằn hướng Biên Hòa đo đến
trc bánh sau xe mô tô (3) là 5m60.
- Vũng nước dài 5m20, rộng 0m60, tâm vũng nước đo ra lề phi là 0m30.
- Xe (3): Sau tai nn nm ngã bên trái, trên mép l phải, đầu xe
quay v ng B, đuôi xe quay về ng Vũng Tàu; trc bánh trước xe
(3) đo ra p l phi là 0m40; trc bánh sau đo ra p l phi là 0m22; trc
bánh sau đo đến đầu ngón cái bàn chân phi nn nhân Tăng Thị Thủy T là
0m60.
- Nạn nhân (4): Sau tai nn nm sấp, đầu nạn nhân hướng v B, chân nn
nhân hướng v Vũng Tàu, đỉnh đu nn nhân cách mép l phi là 0m90, đu
ngón cái bàn chân phi nạn nhân đo đến mép l phi là 0m30.
- Vết phanh (1): dài 3m90, rộng 0m20, tâm đầu vết phanh đo vào mép l
phi là 0m90, cui vết phanh là đim tiếp giáp gia mặt lăn bánh trước bên phi
xe nâng hàng vi mặt đường làn s 5, tâm đu vết phanh (1) cách tâm đu vết
phanh (2) là 0m70.
- Vết phanh (2): dài 1m40, rộng 0m20, tâm đu vết phanh đo vào l phi
là 01m00, cui vết phanh là đim tiếp giáp gia mặt lăn bánh sau bên phi xe
nâng hàng vi mặt đường làn s 5.
- Xe nâng (7): bánh lốp sau tai nn dừng lại trên làn đường s 5, đầu xe
quay v ng B, đuôi xe quay v ng Vũng Tàu, tâm trc bánh trước bên
phải đo vào mép l phi là 0m50, tâm trc bánh sau bên phi cách mép l phi là
0m97.
4
Từ điểm mốc hiện trường đo tới hình chiếu tâm trục bánh trước bên phi
xe nâng hàng bánh lốp là 5m20.
3. Kết luận giám đnh:
3.1. Tại Kết luận giám định pháp y về tử thi số: 2021/TT/2022 ngày
31/10/2022 của Phòng K - Công an tỉnh Đ, kết luận:
Nguyên nhân tử vong của Tăng Thị Thủy T: Đa chấn thương; Chn
thương s não và vùng mt h v xương hộp s, dp não, gãy xương hàm; chn
thương ngực - bng kín gãy đa cung xương sườn, đứt ri tim - phi, v phc tp
gan.
3.2. Tại Kết luận giám định số: 5563/KL-KTHS ngày 26/10/2022 của
Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh - Bộ C1, kết luận:
1/ Xe nâng hàng hiu Mitsubishi FD100, màu vàng, không bin s và xe
mô tô bin s 60C1-864.8X có va chm vi nhau.
2/ Du vết va chm và chiều hướng du vết va chm giữa hai phương tiện:
Du vết trượt xước bám cht màu trng mt ngoài phía trước bên phi thanh
nâng xe nâng hàng hiu Mitsubishi FD100, màu vàng, không bin s có chiu t
trước v sau phù hp du vết trượt xước, gãy biến dng bám cht g sét mt
ngoài phía sau bên phi tay nâng sau n xe bin s 60C1-864.8X có
chiu t sau v trước, t i lên trên.
3/ V trí va chạm đu tiên gia các phương tiện trên mặt đường nm trên
làn đường số E, Quốc lộ E, hướng t Vũng Tàu đi B.
4/ Khi va chm xe nâng hàng hiu Mitsubishi FD100, màu vàng, không
bin s chuyển động trên Quốc lộ E, hướng t Vũng Tàu đi B; xe mô tô bin s
60C1-864.8X chuyển động cùng chiu bên phi và đã ngã trái xung mặt đường.
5/ Hai phương tiện nêu trên không va chm với phương tin hoc vt nào
khác.
3.3. Tại Kết luận giám định số: 1433/KL/KTHS ngày 19/7/2024 của
Phòng K - Công an tỉnh Đ, kết luận:
1/ Bản in tài liệu mẫu cần giám định (ký hiệu A) được in bằng phương
pháp in offset.
2/ Hình tròn Trường Cao đẳng G - Bộ G1 in trên tài liệu mẫu cần giám
định (ký hiệu A) so với hình dấu tròn Trường Cao đẳng G Bộ G1 trên các tài
liệu mẫu so sánh (ký hiệu từ M1 đến M3) không phải do cùng một con dấu đóng
ra.
5
3/ Chữ mang tên Đinh Công T1 trên tài liệu mẫu cần giám định (ký
hiệu A) so với chữ ký mang tên Đinh Công T1 trên các tài liệu mẫu so sánh (ký
hiệu từ M1 đến M3) không phải do cùng một người ký ra.
4. Vt chng:
01 xe nâng hiệu Mitsubishi FD100 màu vàng không biển số 01 xe
tô hiệu Honda biển số 60C1 - 846.8X (đã xử lý vật chứng tại cấp sơ thẩm).
5. V trách nhim dân s:
Cao Thanh M và Nguyễn Th B cùng gia đình bị hại Tăng Thị Thủy T
đã thỏa thuận bồi thường số tiền 320.000.000 đồng xong được đại diện gia
đình bị hại làm đơn “bãi nại”.
6. Quyết định của cấp sơ thẩm:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 45/2026/HS-ST ngày 29-01-2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 2 - Đồng Nai, đã quyết định như sau:
- Tuyên bố bị cáo Cao Thanh M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ” và tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan t chức”,
theo điểm a khoản 2 Điều 260 khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm
2015 (sửa đi, bsung năm 2017); bị cáo Nguyễn Th B phạm tội “Điều
động người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông
đường bộ”, theo khoản 1 Điều 263 của Bộ luật Hình snăm 2015 (sửa đi, b
sung năm 2017).
- Xử phạt bị o Cao Thanh M 03 (ba) năm về tội Vi phạm quy định
về tham gia giao thông đường bộ” 06 (sáu) tháng tù về tội “Sử dụng con dấu,
tài liệu giả của quan t chức”. Tng hợp hình phạt buộc bị cáo Cao Thanh M
phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Th B 60.000.000 đồng.
- Ngoài ra, bản án thẩm còn quyết định về án phí hình sự thẩm
quyền kháng cáo.
7. Kháng nghị:
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai (nay thành phố Đ) kháng nghị
một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 45/2026/HS-ST ngày 29-01-2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 2 - Đồng Nai theo hướng không áp dụng hình phạt tiền
chuyển hình phạt tù giam đối với bị cáo Nguyễn Thị Bé B.
8. Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:
6
Kiểm sát viên đã đánh giá, phát biểu quan điểm xử vụ án; xác định cấp
thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Th B phạm tội “Điều động người không đủ
điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”, theo khoản 1
Điều 263 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đi, b sung năm 2017) căn
cứ, đúng người và đúng tội.
Sau khi nhận được bản án thẩm, xét thấy mức án cấp thẩm xử
phạt bcáo là chưa tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi hậu quả bị o
gây ra; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai (nay thành phố Đ) kháng nghị
một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 45/2026/HS-ST ngày 29-01-2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 2 - Đồng Nai theo hướng không áp dụng hình phạt tiền
chuyển hình phạt tù giam đối với bị cáo Nguyễn Thị Bé B.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị o các tình tiết giảm nhẹ mới phát sinh;
do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai sửa đi, b sung nội dung
kháng nghị, theo hướng sửa một phần bản án thẩm về hình phạt, xử phạt bị
cáo 01 năm tù, bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm tính từ
ngày tuyên án phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tội danh:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị B đã thừa nhận hành vi
phạm tội như bản án thẩm đã nêu. Cùng với các tài liệu trong hồ vụ án
và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử
bị cáo phạm tội “Điều động người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện
tham gia giao thông đường bộ”, theo khoản 1 Điều 263 của Bộ luật Hình sự năm
2015 (sửa đi, b sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật.
[2] Về kháng nghị:
2.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
2.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Cấp sơ thẩm xác định: B cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hi ci;
phm ti lần đu, thuộc trường hp ít nghiêm trng; t nguyn bồi thường
được gia đình bị hại làm đơn bãi ni. Áp dụng đim b, i, s khoản 1, 2 Điu 51
B lut Hình s năm 2015 (sửa đi, b sung năm 2017).
- Tại cấp phúc thẩm các tình tiết theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật
Hình sự năm 2015, cụ thể:
+ Bị cáo cung cấp đơn, được chính quyền địa phương xác nhận, nội dung:
7
“nhiều năm liền đã tích cực tham gia các hoạt động hội, đóng góp công sức,
vật chất và kinh phí cho các phong trào của địa phương; đặc biệt có nhiều đóng
góp trong công tác hỗ trợ phòng, chống dịch COVID-19 năm 2021 (có Giấy Tri
ân UBND xã Đồi 61 cũ tặng)”.
+ Đại diện gia đình bị hại đơn, thể hiện: “Nguyễn Thị B phụ nữ,
chồng chết đã lâu, một mình nuôi 03 con còn nhỏ đang tuổi ăn tuổi học, không
cha nay lại vắng mẹ thật sự rất khó khăn, tội nghiệp. Ngoài ra, bị cáo còn
đang nuôi mẹ chồng đã già yếu bệnh tật, rồi lo công việc công ty, thật sự đối với
một người phụ nữ như vậy quá sức. Chúng tôi thấy bản án thẩm đã xét xử
bị cáo nh phạt tiền thể hiện tính nhân đạo của pháp luật đối với người đã
biết ăn năn, hối cải. Do đó, chúng tôi kính xin Viện kiểm sát nhân dân thành phố
Đồng Nai Toà án nhân dân thành phố Đồng Nai xem xét, cân nhắc cho bị
cáo Nguyễn Thị B được tiếp tục hưởng mức án như cấp sơ thẩm đã tuyên, để
bị cáo hội tiếp tục chăm sóc gia đình, lo cho mẹ già 03 con của bị
cáo”.
+ Bị cáo cung cấp đơn xin cứu xét thể hiện hoàn cảnh gia đình như trên và
tài liệu đóng góp nhiều cho địa phương.
2.3. Về hình phạt:
Tại phiên tòa phúc thẩm, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai
thay đi, b sung nội dung kháng nghị như đã nêu trên; nội dung thay đi, b
sung phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự văn bản hướng dẫn
áp dụng pháp luật về án treo (Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày
15/5/2018, được sửa đi, b sung tại Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày
15/4/2022 và sửa đi, b sung tại Nghị quyết số: 02/2025/NQ-HĐTP ngày
27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao), phù hợp với nhân
thân của bị cáo, tình tiết mới tại cấp phúc thẩm và nội dung vụ án, nên được Hội
đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị
quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án; bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Chấp nhận quan điểm của Kiểm sát viên.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
8
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 2 Điều 357 của Bộ luật
Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân n thành phố Đồng Nai
(đã được sửa đi, b sung tại phiên tòa phúc thẩm);
Sửa một phần về hình phạt do chủ quan đối với Bản án hình sự thẩm
số: 45/2026/HS-ST ngày 29-01-2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đồng
Nai;
1. Tội danh và hình phạt:
Áp dng khoản 1 Điều 263; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Điều 65
ca B lut Hình s năm 2015 (sửa đi, b sung năm 2017);
X pht b cáo Nguyễn Th B 01 (một) năm v tội “Điều động
người không đ điu kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đưng
bộ”; bị cáo được hưởng án treo, thi gian th thách là 02 (hai) năm tính t ngày
tuyên án phúc thm 19-6-2026.
Giao bị cáo Nguyễn Th B cho Ủy ban nhân dân A, thành phố Đ,
nơi bị cáo cư trú để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của
bị cáo trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát
và giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải thực hiện c
nghĩa vtheo quy định của Luật Thi hành án hình sự; trường hợp cố ý vi phạm
nghĩa vụ 02 lần trở lên, Tòa án thể quyết định buộc người được hưởng án
treo, phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp bị cáo thay đi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều
92 của Luật Thi hành án hình sự.
2. Về án phí:
Bị cáo Nguyễn Thị B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Bị cáo và đại diện bị hại;
- Viện kiểm sát nhân dân TP. Đồng Nai;
- Tòa án nhân dân khu vực 2 (2);
- Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2;
- quan Thi hành án hình sự - Công an
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
9
thành phố Đồng Nai;
- quan Cảnh sát điều tra - Công an
thành phố Đồng Nai (PC01);
- Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2;
- Phòng Hồ sơ nghiệp vụ - Công an thành
phố Đồng Nai;
- Ủy ban nhân dân Công an xã An
Viễn, thành phố Đồng Nai;
- Lưu: Hồ sơ vụ án và Văn phòng (15).
(Đã ký và đóng dấu)
Nguyễn Văn Thành
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 173/2026/HS-PT Bản án số 173/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 173/2026/HS-PT Bản án số 173/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất