Bản án số 569/2026/DS-PT ngày 10/06/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 569/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 569/2026/DS-PT ngày 10/06/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 569/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Sửa án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 569/2026/DS-PT Bản án số 569/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 569/2026/DS-PT Bản án số 569/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
————————
Bản án số: 569/2026/DS-PT
Ngày 10-6-2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
——————————————————
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Bằng
Các Thẩm phán: Bà Tôn Thị Thanh Thúy
Bà Lê Thị Thọ
- Thư phiên tòa: Ông Kim Mộc Nam Thư Tòa án nhân dân thành
phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Bà Phùng Bích Tuyền - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 239/2026/TLPT-DS ngày 13 tháng
02 năm 2026 về tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 134/2025/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 612/2026/QĐ-PT ngày
15 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1959 (có mặt).
Địa chỉ: ấp N, xã P, thành phố Cần Thơ.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn
Đăng T, Luật thực hiện trợ giúp pháp của Trung tâm trợ giúp pháp nhà
nước thành phố C (có mặt).
- Bị đơn:
1. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1964 (có mặt).
Địa chỉ: ấp N, xã P, thành phố Cần Thơ.
2. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1979 (có mặt).
Địa chỉ: ấp N, xã P, thành phố Cần Thơ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
1. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1939.
Địa chỉ: ấp N, xã P, thành phố Cần Thơ.
2. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1982.
Địa chỉ: ấp N, xã P, thành phố Cần Thơ.
3. Bà Nguyễn Thị Trúc N, sinh năm 2003.
Địa chỉ: ấp N, xã P, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp của H1, D N: Ông Nguyễn Văn H,
sinh năm 1979 (có mặt).
Địa chỉ: ấp N, P, thành phố Cần Thơ (theo Văn bản y quyền ngày
30/7/2025).
4. Ông Nguyễn Tùng D1, sinh năm 2000 (vắng mặt và có đơn đề nghị xét
xử vắng mặt).
Địa chỉ: ấp N, xã P, thành phố Cần Thơ.
5. Bà Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1964.
Địa chỉ: ấp N, xã P, thành phố Cần Thơ.
6. Ông Nguyễn Tuấn K, sinh năm 1988.
Địa chỉ: ấp N, xã P, thành phố Cần Thơ.
7. Bà Lý Thị Kim C1, sinh năm 1990.
Địa chỉ: ấp N, xã P, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp của Hoàng A, ông K, C1: Ông Nguyễn
Văn C, sinh năm 1964 (có mặt).
Địa chỉ: ấp N, P, thành phố Cần Thơ (theo Văn bản y quyền ngày
28/7/2025).
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn C ông Nguyễn Văn H bị đơn
trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 11/3/2024 trong quá trình giải quyết vụ án
nguyên đơn ông Nguyễn Văn Q trình bày:
Ông Nguyễn Văn Q được Ủy ban nhân dân huyện P cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số 000333 ngày 04/9/1996 đối với các thửa đất số 41 42,
tờ bản đồ số 2, với diện tích lần lượt là 310m² và 840m².
Trong quá trình sử dụng đất, ông Nguyễn Văn H2 (cha ông C, hiện đã
chết) và ông Nguyễn Văn C đã xây dựng nhà trên một phần đất thuộc quyền sử
dụng của ông Q. Năm 2009, ông Q khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất đối
với ông H2 ông C. Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 51/2011/DS-PT ngày
15/4/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ đã tuyên xử thì ông H2 được
3
công nhận quyền sử dụng diện tích 66m² ông C được công nhận quyền sử
dụng diện tích 50,52m².
Theo ông Q, sau khi bản án hiệu lực, ông Nguyễn Văn H (là người
thừa kế quyền nghĩa vụ của ông H2) ông C đã sử dụng đất vượt quá diện
tích được công nhận. Căn cứ Trích đo bản đồ địa chính số 17-2025 ngày
13/5/2025 của Văn phòng Đăng đất đai thành phC, sau khi khấu trừ diện
tích đất đã được bản án công nhận cho ông H2 và ông C thì ông H đang sử dụng
vượt 145m² và ông C sử dụng vượt 5,08m².
Do đó, ông Q khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông H và ông C trả lại phần
diện tích đất sử dụng vượt quá diện tích đã được công nhận theo Bản án dân s
phúc thẩm số 51/2011/DS-PT ngày 15/4/2011.
Bị đơn ông Nguyễn Văn H trình bày:
Ông H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Q. Theo ông H, phần
đất ông đang sử dụng nguồn gốc do nội bà Nguyễn Thị T1 cho cha ông
ông H2 sử dụng, với diện tích khoảng 300m². Khi giải quyết vụ án trước đây,
ông không biết không tham gia tố tụng nên không yêu cầu phản tố; việc
Bản án số 51/2011/DS-PT chỉ công nhận cho ông H2 66m² là không phù hợp.
Ông H đề nghị Tòa án công nhận cho ông được quyền sdụng diện tích
300m² đất doNguyễn Thị T1 đã cho ông H2. Ông H thống nhất với Trích đo
bản đồ địa chính số 17-2025 ngày 13/5/2025.
Những người đang cùng sinh sống trên phần đất tranh chấp gồm
Nguyễn Thị H1 (mẹ ông H), Nguyễn Thị D (vợ ông H), ông Nguyễn Tùng
D1 Nguyễn Thị Trúc N (các con ông H). Các đồng thừa kế khác của ông
H2 gồm Nguyễn Thị N1, Nguyễn Thị Thu T2, Nguyễn Thị H3
Nguyễn Thị B không sinh sống, quản lý hoặc sử dụng phần đất đang tranh chấp.
Bị đơn ông Nguyễn Văn C trình bày:
Ông C không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Q. Ông cho rằng
mình chỉ sử dụng đúng diện tích đất đã được công nhận theo Bản án dân sự phúc
thẩm số 51/2011/DS-PT ngày 15/4/2011, không hành vi lấn chiếm thêm đất
của ông Q. Ông C thống nhất với Trích đo bản đồ địa chính số 17-2025 ngày
13/5/2025 của Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 134/2025/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Cần Thơ tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Văn Q.
Khi án hiệu lực pháp luật, buộc ông Nguyễn Văn H phải trả lại cho ông
Nguyễn Văn Q stiền 253.750.000 đồng giá trị của quyền sử dụng đất diện
tích 145m
2
trong tổng diện tích 211m
2
được đánh dấu điểm B tại bản trích đo địa
chính số 17-2025 ngày 13/5/2025 của Văn phòng đăng đất đai thành phố C.
Buộc ông Nguyễn Văn C phải trả lại cho ông Nguyễn Văn Q số tiền 8.890.000
đồng là g trị của quyền sử dụng đất diện tích 5.08m
2
trong tổng diện tích
4
55.6m
2
được đánh dấu điểm A tại trích đo bản đồ địa chính số 17-2025 ngày
13/5/2025 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C.
Phần đất tọa lạc tại ấp N, thị trấn P, huyện P, thành phố Cần Thơ nay là ấp
N, P, thành phố Cần Thơ. Kèm theo trích đo bản đồ địa chính số 17-2025
ngày 13/5/2025 của Văn phòng đăng đất đai thành phố C. Ngoài ra, Bản án
còn tuyên về án phí, nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng quyền kháng cáo của
đương sự.
Ngày 30/9/2025, bị đơn ông Nguyễn Văn C và ông Nguyễn Văn H có đơn
kháng cáo đối với bản án dân sự sơ thẩm nêu trên, với yêu cầu cụ thể như sau:
1. Ông Nguyễn Văn C yêu cầu Tòa án giải quyết: công nhận cho ông
được quyền sử dụng phần đất tranh chấp có diện tích 5,08m
2
trong tổng diện tích
55.6m
2
được ký hiệu tại trích đo bản đồ địa chính số 17-2025 ngày 13/5/2025
của Văn phòng đăng đất đai thành phố C vị trí A. Ông C không đồng ý
hoàn trả lại giá trị quyền sử dụng đất cho ông Q.
2. Ông Nguyễn Văn H yêu cầu Tòa án giải quyết: công nhận cho ông
được quyền sử dụng phần đất tranh chấp có diện tích 145m
2
trong tổng diện tích
211m
2
được hiệu tại bản trích đo địa chính số 17-2025 ngày 13/5/2025 của
Văn phòng đăng đất đai thành phố C vị trí B. Ông H không đồng ý hoàn
trả lại giá trị quyền sử dụng đất cho ông Q.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn ông Nguyễn Văn Q thống nhất cho bị đơn ông Nguyễn
Văn H và ông Nguyễn Văn C được tiếp tục ổn định sử dụng phần đất tranh chấp,
nhưng ông H ông C nghĩa vụ hoàn trả lại giá trị quyền sử dụng đất cho
ông Q theo kết quả định giá của cơ quan chuyên môn.
- Bị đơn ông Nguyễn Văn C ông Nguyên Văn H4 phát biểu ý kiến giữ
nguyên yêu cầu kháng cáo.
Trong phần phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án Đại diện Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ cho rằng:
- Thẩm phán chủ tọa phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền
nghĩa vụ của mình.
- Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng
của bị đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn C và ông Nguyễn
Văn H được thực hiện trong thời hạn quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng
dân sự nên được chấp nhận và xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
5
[2] Xét kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Theo hồ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm xác
định: ông Nguyễn Văn Q được cấp Giấy chứng nhận quyền s dụng đất số
000333 ngày 04/9/1996 đối với thửa đất số 41 diện tích 310m² và thửa đất số 42
diện tích 840m², tờ bản đồ số 02. Quá trình sử dụng đất phát sinh tranh chấp với
ông Nguyễn Văn H2 ông Nguyễn Văn C. Tại Bản án dân sự phúc thẩm số
51/2011/DS-PT ngày 15/4/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ đã
hiệu lực pháp luật, ông Nguyễn Văn H2 được công nhận quyền sử dụng diện
tích 66m² đất ông Nguyễn Văn C được công nhận quyền sử dụng diện tích
50,52m² đất thuộc phần đất nguồn gốc của ông Q. Theo Trích đo bản đồ địa
chính s17-2025 ngày 13/5/2025 của Văn phòng Đăng đất đai thành phố C,
hiện nay ông Nguyễn Văn H (người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông H2) đang
quản lý, sử dụng diện tích 211m² đất, vượt 145m² so với diện tích 66m² đã được
công nhận theo Bản án số 51/2011/DS-PT; ông Nguyễn Văn C đang quản lý, sử
dụng diện tích 55,6m² đất, vượt 5,08m² so với diện tích 50,52m² đã được công
nhận. Các đương sự đều thống nhất với kết quả đo đạc nêu trên.
[2.2] Đối với yêu cầu của ông Nguyễn Văn H ông Nguyễn Văn C đề
nghị công nhận quyền sử dụng đối với phần diện tích đất vượt quá diện tích đã
được công nhận theo Bản án dân sự phúc thẩm số 51/2011/DS-PT, Hội đồng xét
xử xét thấy:
Ông H cho rằng phần diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc do bà Nguyễn
Thị T1 cho ông Nguyễn Văn H2 sử dụng với diện tích khoảng 300m²; ông C cho
rằng phần diện tích 5,08m² đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của
ông. Tuy nhiên, ngoài lời trình bày, ông H ông C không cung cấp được tài
liệu, chứng cứ o chứng minh quyền sử dụng hợp pháp đối với các phần đất
đang tranh chấp. Mặt khác, nguồn gốc và quyền sử dụng đối với phần đất này đã
được giải quyết bằng Bản án dân sự phúc thẩm số 51/2011/DS-PT ngày
15/4/2011 đã hiệu lực pháp luật, trong đó chỉ công nhận cho ông H2 được
quyền sử dụng 66m² đất ông C được quyền sử dụng 50,52m² đất. Do đó,
không có căn cứ pháp lý để xem xét công nhận thêm cho ông H diện tích 145m²
và cho ông C diện tích 5,08m² như yêu cầu kháng cáo.
Bên cạnh đó, kết quả đo đạc hiện trạng thể hiện ông H ông C đang sử
dụng đất vượt quá diện tích đã được bản án hiệu lực pháp luật công nhận.
vậy, yêu cầu khởi kiện của ông Q về việc đòi lại quyền đối với phần diện tích
đất mà ông H và ông C sử dụng vượt quá diện tích được công nhận căn cứ
chấp nhận.
[2.3] Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Văn Q xác định
đồng ý đông Nguyễn Văn H ông Nguyễn Văn C tiếp tục quản lý, sử dụng
ổn định phần diện tích đất đang tranh chấp; đồng thời yêu cầu ông H ông C
hoàn trả cho ông giá trị quyền sử dụng đất tương ứng với diện tích đất đang sử
dụng vượt quá diện tích được công nhận theo giá đất đã được Hội đồng định giá
xác định trong vụ án.
6
Xét thấy các phần đất tranh chấp hiện đã được ông H, gia đình ông H
ông C sử dụng ổn định, trên đất có nhà ở và công trình xây dựng, việc buộc giao
trả lại đất sẽ ảnh hưởng đến quá trình quản lý, sử dụng ổn định lâu dài của các
đương sự. Mặt khác, nguyên đơn tự nguyện đồng ý để bị đơn tiếp tục sdụng
đất và chỉ yêu cầu thanh toán giá trị quyền sử dụng đất. Sự tự nguyện này không
trái quy định của pháp luật, không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của
người thứ ba nên được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 5 Bộ
luật Tố tụng dân sự.
Do không có căn cứ công nhận quyền sử dụng đất cho ông H đối với diện
tích 145m² và cho ông C đối với diện tích 5,08m² nhưng t thấy cần ổn định
hiện trạng quản lý, sử dụng đất, nên giao cho ông H tiếp tục quản lý, sử dụng
diện tích 145m² đất thuộc vị trí B và giao cho ông C tiếp tục quản lý, sử dụng
diện tích 5,08m² đất thuộc vị trí A theo Trích đo bản đồ địa chính số 17-2025
ngày 13/5/2025 của Văn phòng Đăng đất đai thành phố C; đồng thời buộc
ông H và ông C nghĩa vụ hoàn trả cho ông Q giá trị quyền sử dụng đất tương
ứng đối với phần diện tích đất nêu trên theo kết quả định giá đã được cấp
thẩm xác định.
[2.4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy kháng cáo của
ông Nguyễn Văn H ông Nguyễn Văn C về việc yêu cầu được công nhận
quyền sử dụng đất đối với phần diện tích tranh chấp không căn cứ chấp
nhận. Tuy nhiên, xét nguyên đơn đồng ý đbị đơn tiếp tục sử dụng đất chỉ
yêu cầu thanh toán giá trị quyền sử dụng đất, cần chấp nhận một phần kháng cáo
của ông H và ông C theo hướng sửa một phần bản án thẩm, không buộc giao
trả đất giao cho ông H ông C tiếp tục sử dụng ổn định phần đất tranh
chấp, đồng thời buộc hoàn trả cho ông Q giá trị quyền sử dụng đất đối với diện
tích đất đang sử dụng vượt quá diện tích đã được công nhận theo Bản án dân sự
phúc thẩm số 51/2011/DS-PT ngày 15/4/2011. Việc sửa một phần bản án
thẩm là do có phát sinh tình tiết mới tại phiên tòa phúc thẩm, cấp sơ thẩm không
có lỗi.
[3] Quan điểm đnghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố
Cần Thơ tại phiên tòa phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Nguyễn Văn H nghĩa vụ chịu án phí
dân sự thẩm không giá ngạch do yêu cầu khởi kiện tranh chấp quyền s
dụng đất của nguyên đơn được chấp nhận. Ông Nguyễn Văn C là người cao tuổi
nên được miễn theo quy định của pháp luật.
[5] Về chi phí tố tụng: buộc ông Nguyễn Văn C ông Nguyễn Văn H
nghĩa chịu toàn bộ.
[6] Về án phí phúc thẩm: ông Nguyễn Văn C ông Nguyễn Văn H
không phải chịu do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận một phần.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
7
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn C ông
Nguyễn Văn H.
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 134/2025/DS-ST ngày 19 tháng 9
năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Cần Thơ
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Q
đối với bị đơn là ông Nguyễn Văn C và ông Nguyễn Văn H.
2. Công nhận ổn định cho ông Nguyễn Văn H được quyền sdụng
phần đất có diện tích 145m
2
(nằm trong phần đất có diện tích 211m
2
), đất tọa lạc
tại ấp N, P, thành phố Cần Thơ, được hiệu tại bản Trích đo địa chính số
17-2025 ngày 13/5/2025 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C là vị trí B.
3. Công nhận và ổn định cho ông Nguyễn Văn C được quyền sử dụng
phần đất diện tích 5.08m
2
(nằm trong phần đất diện tích 55,6m
2
), đất tọa
lạc tại ấp N, P, thành phố Cần Thơ, được hiệu tại bản Trích đo địa chính
số 17-2025 ngày 13/5/2025 của Văn phòng đăng đất đai thành phố C vị trí
A.
Kèm theo bản án bản Trích đo bản đồ địa chính số 17-2025 ngày
13/5/2025 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C.
4. Buộc ông Nguyễn Văn H có nghĩa vụ hoàn trả giá trị quyền sử dụng đất
cho ông Nguyễn Văn Q bằng số tiền 253.750.000đ (Hai trăm năm mươi ba triệu
bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
5. Buộc ông Nguyễn Văn C có nghĩa vụ hoàn trả giá trị quyền sử dụng đất
cho ông Nguyễn Văn Q bằng số tiền 8.890.000đ (Tám triệu tám trăm chín mươi
nghìn đồng).
Kể tngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền i của số tiền con phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
6. Về án phí dân sự thẩm: Buộc ông Nguyễn Văn H nghĩa vụ chịu
300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Miễn toàn bộ án phí dân sự thẩm cho ông
Nguyễn Văn C.
7. Về án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Văn H
300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp
theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003878 ngày 30/9/2025
của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
8. Về chi phí tố tụng:
- Buộc ông Nguyễn Văn C nghĩa v chịu 3.729.00 (Ba triệu bảy
trăm hai ơi chín nghìn đồng) để trả lại cho ông Nguyễn n Q đã nộp tạm
ứng trước đó.
8
- Buộc ông Nguyễn Văn H nghĩa vụ chịu 3.729.000 (Ba triệu bảy trăm
hai mươi chín nghìn đồng) đtrả lại cho ông Nguyễn Văn Q đã nộp tạm ứng
trước đó.
- Ông Nguyễn Văn Q được nhận lại 271.000đ (Hai trăm bảy mươi mốt
nghìn đồng) tiền tạm ứng chi phí ttụng tại Tòa án nhân dân Khu vực 3 Cần
Thơ.
9. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
10. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Cần Thơ;
- TAND Khu vực 3 – Cần Thơ;
- Phòng THADS Khu vực 3 - Cần Thơ;
- Đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Hữu Bằng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 569/2026/DS-PT Bản án số 569/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 569/2026/DS-PT Bản án số 569/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất