Bản án số 684/2026/DS-PT ngày 29/07/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 684/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 684/2026/DS-PT ngày 29/07/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 684/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: HỦY TOÀN BỘ BẢN ÁN DÂN SỰ SƠ THẨMGIAO HỒ SƠ VỤ ÁN VỀ TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - VĨNH LONG XÉT XỬ LẠI THEO THỦ TỤC SƠ THẨM
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 684/2026/DS-PT Bản án số 684/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 684/2026/DS-PT Bản án số 684/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Trung
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Dũng
Ngô Thị Kim Châu
- Thư phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hồng Nhả, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
tỉnh Vĩnh Long .
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Trần
Thị Kim Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở a án nhân dân tỉnh Vĩnh Long tiến
hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 203/2026/TLPT-DS, ngày 12 tháng
3 năm 2026 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, di dời tài sản trên đất ”
Do bản án dân sự sơ thẩm số 146/2025/DS-ST, ngày 30 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long có kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 679/2026/QĐPT-DS, ngày
09 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Kim Thị C, sinh năm1946 (chết ngày 22/5/2025)
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng :
1/ Ông Kiên Thanh L, sinh ngày 04/3/1971
2/ Ông Kiên Tấn L1, sinh năm 1974
3/ Ông Kiên Phước L2, sinh năm 1977
Cùng địa chỉ: khóm S, phường L, tỉnh Vĩnh Long
Người đại diện hp pháp cho nguyên đơn: Nguyễn Thanh H, sinh năm 1975.
Địa chỉ số B P, phường N, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn:
1/Ông Lê Văn X, sinh năm 1962
2/Bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1960
3/Ông Lê Văn L3, sinh năm 1990
4/Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1988
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 684/2026/DS-PT
Ngày 29 -7-2026
V/v tranh chp quyn s dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
2
5/Bà Lê Thị Như Ý, sinh năm 1992
Cùng địa chỉ: khóm S, phường L, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện hp pháp cho các bị đơn: Ông Huỳnh Việt T, sinh năm: 1982;
Địa chỉ: Khóm S, phường L, tỉnh Vĩnh Long.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Kiên Thanh L, sinh ngày 04/3/1971
2/ Ông Kiên Tấn L1, sinh năm 1974
3/ Ông Kiên Phước L2, sinh năm 1977
Cùng địa chỉ: khóm S, phường L, tỉnh Vĩnh Long
Người kháng cáo: Ông Kiên Thanh L, ông Kiên Tấn L1, ông Kiên Phước L2
là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn; ông Lê Văn X, bà Nguyễn Thị
Á, ông Lê Văn L3, ông Lê Văn Đ, bà Lê Thị Như Ý bị đơn.
Cơ quan kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 17/8/2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết
vụ án, nguyên đơn Kim Thị C (đã chết, hiện do những người kế thừa quyền và
nghĩa vụ tố tụng đại diện) trình bày:
Thửa đất số 357, tờ bản đồ số 79, diện tích 287,8m² (loại đất trồng lúa nước),
tọa lạc tại khóm S, phường L, tỉnh Vĩnh Long (trước đây ấp S, L, thành phố
T, tỉnh Trà Vinh) nguồn gốc do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp quyền sử dụng
đất cho Kim Thị C năm 1994. Trong quá trình sử dụng, khai đăng đo
đạc, các hộ liền kề đều thống nhất ranh giới, trong đó hộ ông Văn X. Ngày
08/04/2021, Sở T2 cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ)
số DB220965 đứng tên bà Kim Thị C. Tuy nhiên, ông Văn X chủ sử dụng đất
liền kề đã lấn chiếm toàn bộ diện tích thửa 357, tự ý cất nhà ở kiên cố và trồng cây
lâu năm trên đất. Gia đình bà đã nhiều lần yêu cầu gia đình ông X di dời tài sản để
trả lại đất nhưng ông X không chấp hành. Nay đại diện kế thừa quyền và nghĩa vụ
tố tụng của C giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, buộc ông Văn X và các thành
viên trong gia đình di dời toàn bộ nhà ở, tài sản, cây trồng trên thửa đất số 357 để
trả lại quyền sử dụng đất cho gia đình bà C.
Bị đơn ông Lê Văn X (đồng thời đại diện cho các bị đơn khác) trình bày:
Bị đơn không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nguồn
gốc phần đất ông X đang sử dụng là do nhận chuyển nhượng từ bà Kim Thị C vào
ngày 28/4/2000 với tổng diện tích 4.156m² theo giấy tay sang nhượng. Khi giao
dịch, bà C đã bàn giao thực địa và đưa cho ông 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất gồm: Thửa 770 (diện tích 790m²), thửa 771 (diện ch 1.730m²) thửa 781
(diện tích 450m²). Còn một thửa đất khác do C báo thất lạc giấy tờ nên chưa làm
3
thủ tục sang tên hoàn tất. Sau khi nhận đất, ông X đã tiến hành lấp kênh, cải tạo
mặt bằng, cất nhà kiên cố, làm hàng rào lưới B40 bao quanh toàn bộ ranh giới
nhận trồng dừa, y lâu năm sử dụng từ năm 2000 liên tục cho đến nay. Trong
suốt hơn 20 năm qua, gia đình C sinh sống gần đất nhưng không hề ý kiến
tranh chấp hay ngăn cản. Nay nguyên đơn đòi lại thửa 357 không đúng thửa
này nằm trọn trong ranh giới đất mà C đã bán cho ông năm 2000. Do đó, ông đề
nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời, bị đơn có yêu cầu
phản tố buộc người kế thừa của C tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng
QSDĐ đối với phần diện tích đất còn lại mà gia đình ông đang quản lý, sử dụng.
Tại Bản án dân sự thẩm số 146/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 10 - tỉnh Vĩnh Long đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Kim Thị C (đã chết) người
kế thừa quyền nghĩa vụ là ông Kiên Thanh L, ông Kiên Tấn L1 và ông Kiên Phước
L2.
Tuyên phần đất là của nguyên đơn Kim Thị C đã chết có người kế thừa
quyền nghĩa vụ ông Kiên Thanh L, ông Kiên Tấn L1 ông Kiên Phước L2. Buộc
nguyên đơn Kim Thị C đã chết người kế thừa quyền nghĩa vụ của Con
ông Kiên Thanh L, ông Kiên Tân L4 ông Kiên Phước L2 tiếp tục thực hiện hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để chuyển nhượng thửa đất số 357, tờ bản
đồ số 79, đất tọa lạc tại ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (nay Khóm S,
phường L, tỉnh Vĩnh Long) theo tài liệu đo đạc năm 2004 cho bị đơn ông Lê Văn X,
bà Nguyễn Thị Á, ông Lê Văn L3, ông Lê Văn Đ, bà Lê Thị Như Ý.
Buộc bị đơn hoàn trả lại cho nguyên đơn Kim Thị C đã chết người kế
thừa quyền nghĩa vụ của C ông Kiên Thanh L, ông Kiên Tấn L1 ông Kiên
Phước L2 số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng phần đất diện ch theo biên bản
xem xét thẩm định tại chỗ ngày 6/6/2023 256m
2
với số tiền bằng 153.600.000
đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng
cáo của các đương sự.
Ngày 10/10/2025, các bị đơn ông Văn X, bà Nguyễn Thị Á, ông Lê Văn L3,
ông Văn Đ, Thị Như Ý nộp đơn kháng cáo yêu cầu sửa bản án thẩm,
bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nhận diện tích đất tranh chấp
256m² thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bị đơn
Ngày 16/10/2025, người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn
(các ông Kiên Thanh L, Kiên Tấn L1, Kiên Phước L2) nộp đơn kháng cáo yêu cầu
sửa án sơ thẩm, buộc bđơn di dời toàn bộ tài sản trả lại thửa đất số 357 (diện tích
287,8m²) hoặc nếu không trả đất thì phải thanh toán giá trị theo giá thị trường
4
575.600.000 đồng.
Ngày 27/10/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long ban hành
Quyết định kháng nghị phúc thẩm đề nghị Hủy bản án thẩm nêu trên do vi
phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và thu thập chứng cứ chưa đầy đủ. Cụ thể: Tòa
án cấp thẩm chưa đo đạc tổng thể toàn bộ khuôn viên đất bị đơn đang quản
để so sánh với hợp đồng chuyển nhượng năm 2000; Tòa án đã thụ lý yêu cầu phản
tố của bị đơn (Thông báo thụ số 103/TB-TLVA ngày 10/6/2024) nhưng bản án
thẩm lại bỏ sót không giải quyết quan hệ tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
QSDĐ, không nhận định và không tuyên c hay chấp nhận yêu cầu phản tố là giải
quyết chưa hết yêu cầu của đương sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, đơn kháng cáo; bị đơn không rút đơn
phản tố đơn kháng cáo; Viện kiểm sát giữ nguyên Quyết định kháng nghị. Các
đương sự không tự thỏa thuận được với nhau không cung cấp thêm tài liệu,
chứng cứ mới.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu ý kiến: Tòa án cấp
thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng do không giải quyết yêu cầu phản
tố của bị đơn, bỏ sót người tham gia tố tụng và thu thập chứng cứ chưa đầy đủ làm
ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp của các bên. Đề nghị Hội đồng xét xử
áp dụng khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận kháng nghị
của Viện kiểm sát, hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 146/2025/DS-ST ngày 30/9/2025
của Tòa án nhân dân khu vực 10 Vĩnh Long giao hồ về cho Tòa án nhân
dân khu vực 10 – Vĩnh Long giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ ván đã được xem xét, thẩm
tra công khai tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của
Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố
tụng của nguyên đơn, đơn kháng cáo của các bị đơn cũng như Quyết định kháng
nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long được thực hiện đúng
thời hạn, đúng thẩm quyền và hình thức theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015 nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án:
Kim Thị C khởi kiện yêu cầu ông Văn X di dời tài sản trả lại thửa đất
số 357, tờ bản đồ số 79, diện tích 287,8m². Ông Lê Văn X cho rằng diện ch 287,8
m
2
đang tranh chấp nằm trong diện tích 4.156m² ông X nhận chuyển nhượng của
bà C năm 2000. Bà C đã bàn giao đất cho ông X sử dụng và đưa cho ông X 03 giấy
5
chứng nhận quyền sử dụng đất gồm thửa 770, 771 và 781 cho ông X sang tên, cùng
thời điểm này ông Thạch T1 sang đổi đất với Kim Thị C, ông Thạch T1
ông phát hiện thửa đất 781 ông đứng tên nhưng ông Thạch T1 sử dụng, thửa đất
769 ông sử dụng nhưng Thạch Thị C1 đang đứng tên. Ông Văn X làm đơn
phản tố yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa C1
và ông X.
Tòa án cấp thẩm thụ vụ án nhưng không thu thập chứng cứ yêu cầu phản
tố của ông X. Để làm bản chất vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm đã tiến hành xem
xét, thẩm định và đo đạc lại toàn bộ thực địa khuôn viên đất do ông Lê Văn X đang
quản lý, sử dụng. Kết quả đo đạc thực tế xác định tổng diện tích ông X đang quản
lý, sử dụng là 4.619m², bao gồm:
- Thửa 769 (nay là thửa 357 đang tranh chấp): Diện tích 271,5m²;
- Thửa 769 phần còn lại (không tranh chấp): Diện tích 16,3m²;
- Thửa 771: Diện tích 1.590,7m²;
- Thửa 770: Diện tích 630,3m²;
- Thửa 816: Diện tích 240m² (do Kim Thị C khai trong smục năm
1992);
- Phần đất thuộc nh công cộng do ông Xuân L5 tôn tạo: Diện tích
1.870,2m².
[3] Căn cử bản đồ địa chính năm 1991 Kết quả thẩm định tại cấp phúc thẩm
thể hiện: Khi chuyển nhượng năm 2000, bà C đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất thửa 781 (diện tích 450m²) cho ông X làm thủ tục sang tên, tuy nhiên trên thực
tế thực địa, thửa đất 781 này lại nằm cách biệt hẳn so với khuôn viên đất ông X
nhận chuyển nhượng (ngăn cách bởi một con kênh công cộng) hiện do ông
Thạch T1 đang trực tiếp quản lý, sử dụng. Trong khi đó, thửa đất số 357 (thửa cũ
769) diện tích 271,5m² thửa 816 diện tích 240m² do bà C đứng tên kê khai lại
nằm trọn vẹn bên trong ranh giới, khuôn viên đất mà bà C đã giao cho ông X quản
lý, cất nhà ở và trồng cây từ năm 2000. Lời khai của các nhân chứng sinh sống lâu
năm tại địa phương cũng khẳng định ông X đã làm hàng rào lưới B40 sử dụng
ổn định, liên tục đúng theo ranh giới đã mua của C từ năm 2000 đến nay.
Tòa án cấp sơ thẩm chỉ tiến hành đo đạc phần đất tranh chấp tại thửa 357 mà
không đo đạc tổng thể toàn bộ diện tích thực tế bđơn đang sử dụng so với hợp
đồng mua bán năm 2000, dẫn đến việc đánh giá chứng cứ không khách quan, công
nhận thửa 357 cho nguyên đơn hoàn toàn không đúng với thực tế giao dịch
quá trình sử dụng đất của các bên.
[4] Tòa án cấp thẩm đã ban hành Thông báo thụ số 103/TB-TLVA đối
với yêu cầu phản tố của bị đơn. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết và tại Bản án
6
sơ thẩm số 146/2025/DS-ST ngày 30/9/2025, Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành
thu thập, xác minh chứng cứ để làm rõ yêu cầu phản tố, không xác định đúng quan
hệ pháp luật tranh chấp; đồng thời, đối với việc bị đơn có văn bản rút yêu cầu phản
tố trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp thẩm cũng không xem xét, ra
quyết định đình chỉ hay nhận định chấp nhận hay không chấp nhận việc rút đơn
này. Việc bỏ sót, không giải quyết triệt để yêu cầu khởi kiện phản tố của đương s
là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
[5] Thửa đất 781 hiện do ông Thạch T1 quản lý, sử dụng nhưng ông X lại đang
đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (do bà C giao nhầm giấy khi chuyển
nhượng). Để giải quyết triệt để, toàn diện vụ án và xử lý hợp đồng chuyển nhượng
năm 2000, nên phải đưa ông Thạch T1 vào tham gia tố tụng với cách người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Từ những vi phạm thủ tục tố tụng (bỏ sót người tham gia tố tụng, không giải
quyết hết yêu cầu của đương sự) thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, ảnh hưởng
nghiêm trọng đến quyền lợi ích hợp pháp của các đương sự tại phiên tòa
phúc thẩm không thể bổ sung, khắc phục được. Căn cứ khoản 3 Điều 308 và Điều
310 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận
Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long;
Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 146/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 10 - tỉnh Vĩnh Long giao hvụ án cho Tòa án cấp
thẩm giải quyết lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
Do bản án thẩm bị hủy để giải quyết lại từ đầu theo thủ tục thẩm, Hội
đồng xét xử chưa xem xét đến nội dung yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn (yêu cầu
di dời tài sản trả đất hoặc thanh toán theo giá thị trường) cũng như nội dung kháng
cáo của bị đơn (yêu cầu bác đơn khởi kiện, công nhận quyền sử dụng đất). Các nội
dung kháng cáo này cùng toàn bộ các yêu cầu của đương sự sẽ được Tòa án cấp sơ
thẩm xem xét, thu thập chứng cứ và giải quyết lại toàn diện khi thụ lý giải quyết lại
vụ án.
[6] Về án phí và chi phí tố tụng phúc thẩm: Do Bản án sơ thẩm bị hủy để giải quyết
lại nên các đương sự kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng (xem xét, thẩm định tại chỗ,
định giá tài sản) sẽ được xác định lại khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
7
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 18/QĐ-VKS-DS ngày 27 tháng 10
năm 2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
2. Hủy toàn bộ Bản án dân sự thẩm s146/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - tỉnh Vĩnh Long về việc “Tranh chấp
quyền sử dụng đất di dời tài sản trên đất” giữa nguyên đơn bà Kim Thị C với
bị đơn ông Lê Văn X và các thành viên gia đình.
3. Giao hồ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 10 - tỉnh Vĩnh Long giải
quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm đúng quy định của pháp luật.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Hoàn trcho ông Kiên Thanh L, Kiên Thanh L, Kiên Tấn L6 số tiền 900.000
đồng (Chín trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu
số 0006604, 0006605, 0006606 ngày 20/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh
Long.
Hoàn trả cho Lê Thị Như Ý, Lê Văn Đ, Lê Văn L3 số tiền 900.000 đồng (Chín
trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0005901
0005897,0005898 ngày 15/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Vĩnh Long;
- TAND khu vực 10 –Vĩnh Long;
- Phòng THADS khu vực 10-Vĩnh Long;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN T
Lê Thành Trung
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 684/2026/DS-PT Bản án số 684/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 684/2026/DS-PT Bản án số 684/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất