Bản án số 67/2026/DS-PT ngày 19/05/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 67/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 67/2026/DS-PT ngày 19/05/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thái Nguyên
Số hiệu: 67/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị V. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN
Bản án số: 67/2026/DS-PT
Ngày: 19 - 5 - 2026.
V/v: Tranh chấp quyền sử
dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông: Hoàng Anh Tuấn.
Các Thẩm phán: Ông: Hoàng Văn Giang.
Bà: Lý Thị Thúy.
- Thư phiên tòa: Bích Ngọc - Thư Toà án nhân dân tỉnh
Thái Nguyên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Thị Dịu -
Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong các ngày 14 tháng 5 năm 2026, ngày 19 tháng 5 năm 2026, tại trụ
sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xphúc thẩm công khai vụ án thụ
số: 23/2026/TLPT-DS ngày 04 tháng 3 m 2026 về việc: Tranh chấp quyền sử
dụng đất.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2026/DS-ST ngày 22 tháng 01 năm 2026
của Toà án nhân dân Khu vực 2 - Thái Nguyên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét x phúc thẩm số: 54/2026/QĐPT-
DSngày 15 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:Nguyễn Thị V, sinh năm 1962. Có mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố X, phường B, tỉnh Thái Nguyên.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1939. Vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường B, tỉnh Thái Nguyên.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1972.
mặt phiên tòa xét xử ngày 14/5/2026, vắng mặt khi tuyên án ngày 19/5/2026.
Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường B, tỉnh Thái Nguyên.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1941. Vắng mặt.
2
Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường B, tỉnh Thái Nguyên.
3.2. Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1947. Có mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường B, tỉnh Thái Nguyên.
4. Người làm chứng:
4.1. Ông Nguyễn Danh X, sinh năm 1956. Có mặt.
Địa chỉ: Xóm T, xã B, tỉnh Thái Nguyên.
4.2. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1971. Có mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường B, tỉnh Thái Nguyên.
4.3. Chị Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1983. Có mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố X, phường B, tỉnh Thái Nguyên.
5. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các biên bản lấy lời khai quá trình
giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
Trước đây gia đình V một miếng đất bãi giáp với bãi của ông Đ, trên
đó khoảng 5 búi tre 01 ngôi mộ của người nhà ông Đ (mộ của cụ Tạ Phúc
T). Nguồn gốc đất do bố mẹ chồng cụ Nguyễn Danh N, cụ Nguyễn Thị E
(các cụ đều đã chết) khai phá năm 1967, đến năm 1980 thì cho vợ chồng bà V, khi
cho không có giấy tờ gì. Phần đất này trước đây gia đình bà V sử dụng làm đường
đi vào nhà (đi phía sau ngôi mộ) nhưng sau đó chồng làm nghề kéo xe do
địa thế đường đi như vậy vòng vèo kđi nên chồng đã chuyển đi xuống phía
trước của ngôi mộ (vẫn đất nhà V). Lâu dần lối đi đó trở thành đường đất
của tổ dân phố. Phần đất còn lại của gia đình xung quanh ngôi mộ cụ T
Phúc Tân gia Đ2 vẫn trồng mấy luống sắn, trồng tre, sau này tre phát triển
không trồng sắn nữa bỏ không cho tre phát triển (búi tre đã lâu năm, đã khai
thác bán nhiêu lần) bà không ước lượng được số lượng tre cụ thể.
Đến tháng 12 năm 2024 gia đình ông Đ đã tự ý phá các búi tre, san đất và xây
bờ tường gạch ra phía trước ngôi mbao chiếm giữ đất đến sát đường đi (đường
đất hiện nay) chiếm cả phần đất bãi của gia đình bà, khiến đường đi vào nhà bà bị
nhỏ lại, xe ô không vào được bất tiện cho gia đình trong mọi ng việc, đặc
biệt chở vật liệu trong quá trình làm nhà. Gia đình V chưa thực hiện thủ tục
khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho rằng đất đó để làm đường
đi nên không kê khai.
Do đó, khởi kiện ông Đ về việc tranh chấp quyền sử dụng đất. UBND
phường L, TP S đã hgiải nhưng không thành. Nay bổ sung thêm yêu cầu
ông Đ trả cho cả 11,1 m
2
tại vị trí 4-5-6-16-15-4, đề nghị Toà án buộc ông Đ
trả cho bà tổng diện tích đất diện tích 127,8m
2
đã chỉ dẫn tại các điểm 1-2-
3
3-4-5-6-16-15-14-13-1 tại thửa 235a tờ bản đồ 8 buộc ông Đ tháo dỡ bờ tường
gạch đã xây để trả đất cho bà. Mục đích bà đòi lại đất để làm đường đi.
Trong quá trình giải quyết tại phiên toà người đại diện theo uỷ quyền
của ông Nguyễn Văn Đ là ông Nguyễn Văn C trình bày:
Ông C con trai ông ĐC1. Ông Đ uỷ quyền cho ông toàn quyền thay
mặt tham gia tố tụng và quyết định các vấn đề trong vụ án này. Nguồn gốc của
thửa 235a tờ bản đồ 8 do ông ngoại Nguyễn Văn T1 khai phá trước năm 1922,
sau đó cho ông ĐC1 từ nhiều năm trước. Gia đình ông Đ C1 sử dụng ổn
định thửa đất này. Từ khi ông Đ, C1 được cho thửa đất này thì trên đất đã có
ngôi mộ của cụ tổ T (người thân của bà C1) chôn cất tại đó từ năm 1922.
Đến năm 1995 nhà nước đo đạc bản đồ địa chính được thể hiện trên bản đồ
địa chính diện tích thửa đất 235 diện tích 890m
2
tờ bản đồ 8 (đo bao cả phần
của ông Đ Q) nhưng trong giấy chứng nhận quyền sử đụng đất của ông Đ
được cấp năm 2008 thì thửa 235a diện tích 445m
2
, loại đất HNK. Bố mông
vẫn sử dụng ổn định cho đến nay. Hiện nay ngôi mộ vẫn còn.
Khi V làm nhà (khoảng năm 2022 - 2023) xe ô đi vào khiến đường đất
bị lở (con đường này phía trên giáp bãi của ông Đ, phía dưới ruộng thấp hơn
khoảng 2m) nên V thuê máy san gạt về phía bãi của ông Đ để đường đi để
chở vật liệu xây nhà nhưng lại san sát vào chân ngôi mcủa cụ Tự Phúc T2 (ông
vẫn giữ bản ảnh chụp hiện trường khi đó làm bằng chứng), nên gia đình ông Đ
không đồng ý ý kiến đến chính quyền. Địa chính của phường L khi đó đã
đến cắm cọc mốc, nhưng sau đó V đã thuê người nhổ cộc mốc đó đi. Năm
2024, ông Đ đã xây btường bằng gạch xi măng để ngăn đất từ bãi tràn xuống
đường cũng bảo vệ ngôi mộ tổ của gia đình. Khi xây bờ gạch ông Đ đã xây
theo bản đồ năm 2015 là đã lùi vào so với bản đồ 1995.
Nay V cho rằng gia đình V một thửa đất bãi xung quanh ngôi m
yêu cầu ông Đ phải trả lại diện tích 127,8m
2
ông không nhất trí với yêu cầu
khởi kiện nêu trên của bà V. Đề nghị Toà án bác yêu cầu khởi kiện của bà V.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị C1 (Bà C1 là vợ
ông Đ) trình bày: Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà V vì thửa 235a
tờ bản đồ số 8 của vợ chồng bà. Từ năm 1922 gia đình đã đặt ngôi mộ của
người thân tại thửa đất này, bà V không có đất vị trí xung quanh ngôi mnhư
V trình bày. không yêu cầu độc lập, đề nghị Toà án không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của bà V.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Q trình bày:
người thửa đất 235 tờ bản đồ số 8 diện tích 530m
2
(giáp ranh giới thửa
235a tờ bản đồ 8 của ông Đ), trong quá trình sử dụng đất 235 tờ bản đồ số 8 giữa
ông Đ không có tranh chấp, hai gia đình đã ranh giới bằng bờ gạch
ràng. Tuy nhiên, Q không đồng ý tham gia tố tụng xác định không liên
quan đến vụ việc giữa ông Đ và bà V.
- Người làm chứng ông Nguyễn Danh X trình bày: Trước đây, nếu lấy
ngôi mộ của cụ T2 m trung tâm, phía trước ngôi mộ ruộng, phía sau ngôi
mộ đất bãi của ông Đ. Từ khi ông còn nhỏ ông đã thấy một lối đi đường
4
đất vào nhà ông các thửa đất gần nhà ông. Vị trí đường đi (lối đi) đó
phía sau ngôi mộ của cụ T2 và giáp với bãi của ông Đ. Phía trước và xung quanh
ngôi mtrước đây là của gia đình ông sử dụng để trồng tre (gia đình ông trồng
một rặng tre ngang hàng với ngôi mộ để làm bờ rào, phía dưới trồng 2-3 luống
sắn, bên dưới sắn là ruộng).
Năm 1980, ông kết hôn với V. Trước khi cưới V ông đã làm nghề kéo
xe trâu, xe bò, ông thấy đường đi đó bị dốc, hẹp, cong nên ông phá mấy luống sắn
dưới bờ tre để làm đường đi thay thế cho con đường phía sau ngôi mộ. Kể
từ đó gia đình ông cùng dân làng sử dụng đoạn đường mới này để đi lại thay
cho đoạn đường đất phía sau ngôi mộ (con đường ông làm chính con
đường đất thể hiện trên bản đồ 1995).
Kể từ khi đoạn đường ông mới làm, đoạn đường để không, sau đó bờ
tre phát triển ông thu hoạch nhiều lần. Ngôi mộ của cụ T2 đã tồn tại ở đó rất nhiều
năm, ban đầu mộ đất. Trước khi ông chuyển đi nơi khác sống thì ngôi mộ đã
xây kiên cố nhưng chưa lấn ra như bây giờ (trước đây không có sân tông xung
quanh ngôi mộ như hiện nay).
Năm 2011, ông ly hôn với bà V sau đó thì chuyển lên huyện Đ sống từ đó
đến nay. Toàn bộ đất đai của vợ chồng ông đã giao hết cho V quản sử
dụng, ông không còn quyền lợi liên quan nữa.
Trong thời gian V làm nhà, giữa bà V và ông Đ tranh chấp như thế nào thì
ông không biết cụ thể. Phần đất V đang tranh chấp thì bố mẹ ông khi còn sống
cũng như bản thân ông không giấy tờ gì, chủ yếu để làm đường đi. Ông Đ xây
bờ tường gạch như hiện nay rất ảnh hưởng đến việc đi lại vào nV, xe ô
không vào được.
Ông chỉ biết L đo đạc bản đồ năm 1995, khu vực nhà ông (xóm X) t
bản đồ F-48-92 (164a). Trước năm 1995 thì theo ông được biết chưa bản đồ
nào khác. Theo ông thì đề nghị Toà án cứ căn cứ bản đồ địa chính đo năm 1995 để
làm căn cứ giải quyết.
- Người làm chứng Nguyễn Thị M trình bày: Bà sinh ra lớn lên tại tổ
dân phố C, phường L, TP S (trước đây xóm C, L, TP T). Từ khi còn
nhỏ bà đã thấy có một lối đi ở phía sau ngôi mộ của cụ K đi vào phía đất ở nhà
V. Vị tlối đi đó không trùng với vị trí đường đất dân làng hiện nay (đường đi
hiện nay phía trước ngôi mộ). Khu vực đường đi hiện nay trước đây của gia
đình ông X sử dụng để trồng sắn. Sau này ông X làm nghề kéo xe (bà không
nhớ cụ thể năm nào), thì thấy ông X làm đường đất xuống phía trước ngôi mộ,
đường đi ông X làm để kéo xe năm đó chính đường đất hiện nay dân làng
đang sử dụng chung. Còn vị trí lối đi trước đây (sau ngôi mộ) hiện nay không còn
nữa, ông Đ đã san lấp để trồng sắn, trồng màu. Con đường sau mttừ năm
1987 trở lại đây thì không ai đi lại nữa.
- Người làm chứng chị Nguyễn Thị Đ1 trình bày: Chcon gái V, hiện
chị hộ khẩu thường trú tại gia đình V tdân phố X, phường B, tỉnh Thái
Nguyên nhưng hiện chị đi làm ăn Đài Loan thỉnh thoảng mới về thì thấy ông Đ
xây bờ gạch lấn vào lối đi khiến lối đi vào nhà mchbị hẹp xe ô không vào
5
được khiến sinh hoạt của gia đình bất tiện. Trước đây khi chị còn nhỏ thấy một
lối đi nhỏ phía trên ngôi mộ, còn vị trí lối đi hiện nay gia đình chị trồng sắn, trồng
màu nhưng sau này bố chị làm nghề đánh xe bò thuê, vì lối đi cũ khó đi nên bố chị
(ông X) đã mở lối đi mới qua vị trí gia đình chị trồng sắn, trồng màu, lâu dần hình
thành đường đi (đường đất) như hiện nay. Lối đi phía trên ngôi mộ hiện nay
không còn đã bị gia đình ông Đ lấn chiếm, đồng thời lấn chiếm cả phần đất
trước đây trồng sắn của gia đình chị. Con đường sau mthì từ năm 1987 trở lại
đây thì không ai đi lại nữa. vậy chị nhất trí với ý kiến của mẹ chị, đề nghị Toà
án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà V.
* Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ xác định:
Vị tđất tranh chấp thuộc thửa đất số 235a, tờ bản đồ số 8 tại phường L,
thành phố S, tỉnh Thái Nguyên (nay là phường B, tỉnh Thái Nguyên).
Về tứ cận giáp ranh:
- Hướng Nam giáp đường;
- Hướng Tây giáp thửa 235b, tờ bản đồ số 8 (đất nhà bà Q);
- Hướng Bắc giáp đất nhà bà Q (thửa 237) và ông T3;
- Hướng Đông giáp đất nhà bà Q.
Giấy chứng nhận thửa 235a, tờ bản đồ số 8 theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số AK 983818 cấp ngày 22/7/2008 mang tên ông Nguyễn Văn Đ, bà
Nguyễn Thị C1.
Về tài sản trên đất:
Hướng N 01 tường xây gạch không nung, chiều dày 0,3 m, chiều dài
21 m, chiều cao 0,7 m (hướng giáp đường đất).
Các hướng còn lại tường xây gạch không nung, chiều dày 0,15 m, cao
1,45 m.
Tại bản án dân sự thẩm số: 04/2026/DS-ST ngày 22 tháng 01 năm
2026 của Toà án nhân dân khu vực 2 - Thái Nguyên đã quyết định:
Áp dụng các Điều 28, 147, 227, 228Bộ luật tố tụng Dân sự;Điều 166, 167
của Luật đất đai năm 2013. Điều 37 của Luật đất đai 2024; Điều 166 của Bộ luật
Dân sự năm 2015; Nghị quyết s326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị V đối với ông
Nguyễn Văn Đ về việc buộc ông Đ tháo dỡ tài sản, trả lại diện tích 127,8m
2
thuộc thửa 235a tờ bản đồ 8 (bản đồ địa chính đo đạc năm 1995), phường L, TP
S (nay phường B, tỉnh Thái Nguyên) theo vị trí 1,2,3,4,5,6,16,15,14,13,1 (có
sơ đồ kèm theo) tức thửa 2033 tờ 8 theo bản đồ địa chính năm 2015.
6
2. Về chi phí tố tụng: Nguyễn Thị V phải chịu số tiền 4.900.000 đồng
(Bốn triệu chín trăm nghìn đồng) chi pxem xét thẩm định tại chỗ, định giá
tài sản (bà V đã nộp tạm ứng và được thanh quyết toán xong).
3. Về án phí: Nguyễn Thị V được miễn án phí do là người cao tuổi theo
quy định tại Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTVQH ngày 30/1/2016.
Ngoài ra, bản án dân sự thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của các
đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 27 tháng 01 năm 2026, nguyên đơn Nguyễn Thị V kháng cáo
toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm đề nghị Toà án cấp phúc thẩm giải quyết xem xét
lại vụ án.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Nguyên đơn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện và giữ nguyên nội dung
kháng cáo. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả lại diện tích đất
tranh chấp là 127,8 m
2
.
- Người đại diện theo ủy quyền của bđơn: Không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn đề nghị Hội
đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị Q nhất trí với
trình bày và yêu cầu của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Thái Nguyên phát biểu: Việc tuân theo
pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên toà, người
tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, đảm bảo đúng quy định của
pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp
nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án thẩm của Toà án nhân
dân khu vực 2 - Thái Nguyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên tcăn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp
thẩm đã xác định đúng thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật tranh
chấp, người tham gia tố tụng, tiến hành thu thập, tiếp cận, công khai chứng cứ,
hoà giải, trình tự thủ tục tại phiên toà sơ thẩm đúng quy định của pháp luật.
Đơn kháng cáo của nguyên đơn làm đúng theo các quy định của pháp luật
nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà
Nguyễn Thị C1 vắng mặt mặc đã được Toà án triệu tập hợp lệ. Tại phiên tòa
các đương sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đề nghị Hội
7
đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Hội đồng xét xử thấy rằng người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan vắng mặt đã lời khai trong hồ của vụ án, việc vắng
mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết, xét xcủa Toà án nên Hội
đồng xét xử căn cứ vào Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét
xử vắng mặt họ.
[2] Về nội dung: Xét toàn bộ yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn
Nguyễn Thị V, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Diện tích đất tranh chấp là 127,8m
2
nằm trong thửa đất 235a, tờ bản đồ số
8 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 983818 cấp ngày
22/7/2008 mang tên ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị C1.
Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất:
Nguyên đơn cho rằng nguồn gốc đất do bố m chồng cụ Nguyễn
Danh N, cụ Nguyễn Thị E khai phá năm 1967, sau đó năm 1980 cho vợ chồng
nhưng không giấy tờ gì, đất giáp với thửa đất của ông Đ, trên đó
khoảng 5 búi tre và 01 ngôi mộ của người nhà ông Đ (mộ của cụ Tạ Phúc T).
Bị đơn cho rằng nguồn gốc của thửa 235a, tờ bản đồ số 8 là đất bãi của bố
vợ ông Đ cho ông Đ C1 tnhiều năm trước. Gia đình ông Đ C1 sử
dụng ổn định thửa đất này. Đến năm 2008 ông Đ, C1 được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất thửa 235a diện tích 445m
2
, loại đất HNK.
Những người làm chứng gồm ông Nguyễn Danh X (là chồng cũ của bà V)
Nguyễn Thị Đ1 (con gái V) đều cho rằng trước đây một lối đi nhỏ
phía trên ngôi mộ, còn vị trí lối đi gia đình V trồng sắn, trồng màu, sau này
ông X làm nghề đánh xe thuê, lối đi khó đi đã mlối đi mới qua vị trí
gia đình trồng sắn, trồng màu, lâu dần hình thành đường đi (đường đất) như hiện
nay. Lối đi cũ phía sau ngôi mhiện nay không còn mà đã bị gia đình ông Đ lấn
chiếm, đồng thời lấn chiếm cả phần đất trước đây trồng sắn của gia đình V.
Tuy nhiên, những người này đều quan hệ thân thiết với V nên lời khai
không khách quan. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận.
Người làm chứng là bà Nguyễn Thị M trình bày từ khi bà còn nhỏ bà đã thấy
một lối đi phía sau ngôi mcủa cụ T đi vào phía đất nV. Khu vực
đường đi hiện nay trước đây là của gia đình ông X sử dụng để trồng sắn. Còn vị trí
lối đi trước đây (sau ngôi mộ) hiện nay không còn nữa, ông Đ đã san lấp để
trồng sắn, trồng màu. Tại phiên tòa nguyên đơn trình bày bà M biết về nguồn gốc
đất nhưng bà M sinh năm 1971, sinh sau thời điểm nguyên đơn trình bày về nguồn
gốc đất cụ N, cụ E khai phá năm 1967 nên Hội đồng xét xử thấy rằng M làm
chứng cho việc khai phá đất của cụ N, cụ E trong khi M lại sinh sau thời điểm
khai phá nên lời khai này không sở để chấp nhận. Mặt khác, Hội đồng xét
xử thấy rằng ngoài lời khai của bà M đã trình bày tkhông tài liệu, chứng c
nào khác trong hồ vụ án đchứng minh lời khai của M n cứ n
Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận.
Mặt khác, phía nguyên đơn cho rằng nguồn gốc, quá trình quản lý, sử
dụng đất của mình, nguyên đơn cho rằng nguồn gốc đất tranh chấp do bố
8
mẹ chồng cụ Nguyễn Danh N, cụ Nguyễn ThE cho nhưng không giấy tờ
không đưa ra chứng cứ nào ngoài lời trình bày của nguyên đơn những
lời khai của những người làm chứng như đã phân tích trên nên Hội đồng xét
xử không sở để chấp nhận. Nguyên đơn cho rằng quá trình sử dụng gia
đình trồng cây tre, cây sắn trên phần đất tranh chấp nhưng không cung cấp
được tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh. Nguyên đơn cũng cho rằng con
đường đi phía sau ngôi mộ nằm trên phần đất của nguyên đơn đã được thể
hiện trên tbản đồ địa chính năm 1995. Tuy nhiên, Tòa án cấp thẩm đã tiến
hành xác minh thu thập tờ bản đồ địa chính năm 1995, 2015 đối với khu vực
đất tranh chấp ttrên bản đồ không thể hiệncon đường đi nào phía sau ngôi
mộ thuộc phần đất của nguyên đơn như phía nguyên đơn đã trình bày.
Về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn được cấp: Diện tích
đất tranh chấp nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị đơn được
cấp, thửa đất này gia đình bị đơn đã quản lý, sử dụng ổn định không tranh
chấp với ai, do đó đã khai làm các thủ tục đcấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, năm 2008 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK
983818 cấp ngày 22/7/2008 mang tên ông Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị C1,
thửa 235a diện tích 445m
2
, loại đất HNK. Quá trình cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất của bị đơn đảm bảo đúng các quy định của pháp luật. Khi cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2008 đến khi xảy ra tranh chấp với V
năm 2024 thì phía gia đình V cũng không ý kiến gì. Gia đình bị đơn vẫn
quản lý, sử dụng ổn định, liên tục. Phía nguyên đơn không cung cấp được tài
liệu, chứng cứ để chứng minh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
bị đơn là không đúng các quy định của pháp luật.
Như vậy, Toà án cấp thẩm đã xem xét, nhận định đầy đủ, toàn diện,
khách quan các chứng cứ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được thêm tài liệu, chứng cứ
mới để chứng minh yêu cầu kháng o căn cứ pháp luật. Do vậy, yêu cầu
kháng cáo của nguyên đơn không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận,
cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí:
Yêu cầu kháng cáo không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận thì
phải chịu toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy
nhiên, nguyên đơn người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí dân sự phúc
thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, Điều 38, Điều 148, Điều 293, khoản 1 Điều 308 của
Bộ luật tố tụng dân sự;Nghị quyết số 326/2026/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
9
1. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị V.
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số: 04/2026/DS-ST ngày 22 tháng 01 năm
2026 của Toà án nhân dân khu vực 2 - Thái Nguyên.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm cho
Nguyễn Thị V.
3. Các quyết định khác của bản án dân sự thẩm không kháng cáo,
không bị kháng nghị hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi nh án dân
sự quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và
9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định
tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- TAND Khu vực 2 - Thái Nguyên;
- Các đương sự;
- Phòng THA khu vực 2 - Thái Nguyên;
- THA Dân sự tỉnh Thái Nguyên;
- Lưu Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Hoàng Anh Tuấn
Tải về
Bản án số 67/2026/DS-PT Bản án số 67/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 67/2026/DS-PT Bản án số 67/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất