Bản án số 414/2026/DS-PT ngày 12/05/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 414/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 414/2026/DS-PT ngày 12/05/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 414/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
——————————
Bản án số: 414/2026/DS-PT
Ngày: 12 - 5 - 2026
V/v tranh chấp Xác định quyền
sở hữu, quyền sử dụng tài sản
quyền sử dụng đất chấm dứt
hành vi cản trở quyền sử dụng
đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
——————————————————
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Tuyền.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng
Bà Lưu Thị Thu Thủy
- Thư phiên tòa: Trần Lưu Hồng Hạnh - Thư Tòa án nhân n
tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Nguyễn Thị Cẩm T -
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong ngày 12 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng
Tháp xét xphúc thẩm công khai vụ án thụ số: 982/2025/TLPT-DS ngày 17
tháng 12 năm 2025 về tranh chấp: Xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài
sản là quyền sử dụng đất và chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số: 186/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đồng Tháp bị kháng nghị, kháng cáo.
Theo định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 195/2026/QĐ-PT ngày 08
tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1965.
Địa chỉ: khu phố B, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Tạ Kim T1, sinh năm 1963;
Địa chỉ: số E, đường C, khu phố A, phường C, tỉnh Đồng Tháp, là người đại diện
theo uỷ quyền của nguyên đơn “văn bản uỷ quyền ngày 21/2/2023” ( có mặt).
2. Bị đơn:
2.1 Bà Lê Thị H, sinh năm 1961;
2.2 Anh Đỗ Văn T2, sinh năm 1987;
2
Địa chỉ: khu phố B, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Chị Nguyễn Thị Kim N, sinh năm
1998; Địa chỉ: 1 L, khu phố C, phường C, tỉnh Đồng Tháp, người đại diện
theo uỷ quyền của bị đơn “văn bản uỷ quyền ngày 10/8/2023” (có mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bđơn: Ông Thanh V1
Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh T (nay là Đoàn luật sư tỉnh Đ).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1 Bà Võ Thị M, sinh năm 1963.
Địa chỉ: khu phố B, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
3.2 Chị Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh năm 1983.
Địa chỉ: ấp H, xã H, tỉnh Đồng Tháp.
3.3 Chị Nguyễn Thị Thúy K, sinh năm 1985
3.4 Anh Nguyễn Văn Thanh T3, sinh năm 1988
3.5 Chị Nguyễn Thị Thùy T4, sinh năm 1990
Cùng địa chỉ: khu phố B, phường C, thị C, tỉnh Tiền Giang (nay khu
phố B, phường M, tỉnh Đồng Tháp)
Người đại diện hợp pháp của M, chị Á, chị K, anh T3, chị T4: Tạ
Kim T1, sinh năm 1963; Địa chỉ: số E, đường C, khu phố A, phường C, tỉnh
Đồng Tháp, người đại diện theo uquyền của người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan “văn bản uỷ quyền ngày 18/4/2023” (có mặt).
4. Người kháng cáo: bị đơnLê Thị H và anh Đỗ Văn T2
5. Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân khu vực 4 -
Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo án sơ thẩm:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 27/12/2022 các lời khai trong quá
trình giải quyết vụ án tại phiên tòa Tạ Kim T1 đại diện ủy quyền nguyên
đơn ông Nguyễn Văn V trình bày:
Vào năm 1996 ông Trần Văn B khoảng 5.000m
2
đất chuyển nhượng
cho vợ chồng ông Đỗ Văn Bé B1 và bà Lê Thị H 1.000m
2
phần đất giáp rạch Bà
T5 hiện nay, phần còn lại bên trong một nhà, đất ruộng đường bom
nước từ phần đất còn lại ra đến rạch T5 chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn
Văn V. Sau khi nhận chuyển nhượng tnăm 1996 đến năm 2004 đoàn đo đạc
nhà nước đo thực tế cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa ông V ông
B1 chứng kiến đo đạc phần đất ông B1 mua của ông B phần đường
nước ông V mua của ông B.
Sau đó ông V được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất n ruộng
thửa số 181, diện tích 3.925m
2
; phần đường nước thửa số 158, diện tích
3
174m
2
. Đồng thời, từ khi mua đến nay thì ông V vẫn cho ông B2 Ba sử dụng
chung hai bên không tranh chấp gì, do ông B1 chết khu vực này lên làm
vườn do không đường đi nên ông V ý định lắp phần đường ớc này để
làm đường đi thì H anh T2 tranh chấp cản trở cho rằng phần đường
nước này là của gia đình bị đơn.
Do đó, nay nguyên đơn ông V yêu cầu Tòa án giải quyết:
Xác định thửa đất số 158, tờ bản đồ s26, diện tích 174m
2
tọa lạc tại khu
phố B, Phường C, thị C, tỉnh Tiền Giang (nay khu phố B, Phường M, tỉnh
Đồng Tháp) do UBND huyện C cấp ngày 25/10/2004 của hộ gia đình ông
Nguyễn Văn V; Yêu cầu Thị H, anh Đỗ Văn T2 chấm dứt hành vi cản trở
đối với thửa đất này.
Tại bản tự khai ngày 27/3/2023 các lời khai trong quá trình giải quyết vụ
án tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Kim N đại diện y quyền của bà Thị H
và anh Đỗ Văn T2 trình bày:
Vào năm 1983 ông Trần Văn B bán cho ông Đỗ Văn B1 (là chồng
H, cha của anh T2) 01 thửa đất mua thời bao cấp thửa 154, tờ bản đồ số 26,
diện tích 1.511,6m
2
tọa lạc tại khu phố B, Phường C, thị C, tỉnh Tiền Giang
(nay khu phố B, Phường M, tỉnh Đồng Tháp) khi bán làm giấy tay nhưng
chưa sang tên quyền sử dụng đất.
Sau đó ông B bán cho ông Nguyễn Văn V rồi ông V sang tên qua đất
của ông, do lúc đó ông B1 nhờ ông V làm giấy tđất dùm. Nay ông V
được cấp giấy thửa số 158, diện tích 174m
2
ông n định lấp đường nước này
làm đường đi thì ba H anh T2 không đồng ý khi ông V được cấp giấy thì
gia đình không tên giáp ranh, đường nước này của chung hai bên sử
dụng để tưới tiêu thoát nước vào ruộng, hiện tại bị đơn sử dụng đường nước
này để nuôi cá.
Thửa số 158 tại thời điểm đo đạc năm 2003 thì cán bộ đo đạc xác định là
đường nước công cộng chứ không thuộc quyền sử dụng của ai, lúc đó ông V
ông B1 không ý kiến gì. Theo bị đơn xác định phần đường nước này của
gia đình bị đơn, do lúc đó làm giấy đất sợ phải đóng thuế nên mới để làm đường
công cộng sử dụng từ trước đến nay.
Do đó, nay H và anh T2 không đồng ý xác định thửa đất số 158, tờ bản
đồ số 26, diện tích 174m
2
tọa lạc tại khu phố B, Phường C, thị xã C, tỉnh Tiền
Giang (nay khu phố B, Phường M, tỉnh Đồng Tháp) do UBND huyện C cấp
ngày 25/10/2004 cho ông Nguyễn n V đại diện hộ gia đình đứng tên của
nguyên đơn.
Tại bản tự khai ngày 18/3/2023 các lời khai trong quá trình giải quyết vụ
án tại phiên tòa T Kim T1 đại diện ủy quyền của những người
4
quyền lợi nghĩa vụ liên quan Thị M, chị Nguyễn Thị Ngọc Á, chNguyễn
Thị Thúy K, anh Nguyễn Văn Thanh T3 và chị Nguyễn Thị Thùy T4 trình bày:
Những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Thị M, chị Nguyễn
Thị Ngọc Á, chị Nguyễn Thị Thúy K, anh Nguyễn Văn Thanh T3 và chị
Nguyễn Thị Thùy T4 thành viên trong hộ gia đình của ông Nguyễn Văn V
thống nhất với ý kiến trình bày yêu cầu khởi kiện của ông V, hộ gia đình ông
V xác định thửa đất số 158, tờ bản đồ số 26, diện tích 174m
2
tọa lạc tại khu phố
B, Phường C, thị C, tỉnh Tiền Giang (nay khu phố B, Phường M, tỉnh
Đồng Tháp) do UBND huyện C cấp ngày 25/10/2004 cho ông Nguyễn Văn V
đại diện hộ gia đình đứng tên, nguồn gốc đất này do gia đình nhận chuyển
nhượng của ông Trần Văn B.
Do đó, nay người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Thị M, chị
Nguyễn Thị Ngọc Á, chị Nguyễn Thị Thúy K, anh Nguyễn Văn Thanh T3
chị Nguyễn Thị Thùy T4 yêu cầu xác định thửa đất số 158, tờ bản đồ số 26, diện
tích 174m
2
tọa lạc tại khu phố B, Phường C, thị C, tỉnh Tiền Giang (nay
khu phố B, Phường M, tỉnh Đồng Tháp) do UBND huyện C cấp ngày
25/10/2004 cho ông Nguyễn Văn V đại diện hộ gia đình đứng tên là của gia đình
ông V; Yêu cầu bị đơn chấm dứt hành vi cản trở đối với thửa đất này.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn H anh T2 phát
biểu ý kiến đề nghị: Ông V không cung cấp được hồ nguồn gốc thửa đất
158 từ đâu có, thửa 154 của ông B1 và thửa 158 của ông V làm thủ tục cấp
giấy cùng thời điểm, do ông B1 nhờ ông V làm dùm giấy đất nên ông V đã
làm thủ tục cấp luôn thửa 158 này. Phần đường nước này có hộ giáp ranh liền kề
xác định được nguồn gốc đất này của ai, nên cần thiết yêu cầu Tòa án xác
minh làm rõ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của ông V.
* Bản án dân sự thẩm số: 186/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đồng Tháp căn cứ Điều 102, 158, 169, 212 Bộ
luật dân sự; Điều 157, 165, 271, 272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 23, Điều
26 Luật đất đai năm 2024; Điều 2 Luật người cao tuổi; Điều 12, Điều 26 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn V.
Xác định thửa đất số 158, tờ bản đồ s26, diện tích 174m
2
tọa lạc tại khu
phố B, Phường C, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay khu phố B, Phường M, tỉnh
Đồng Tháp) do UBND huyện C cấp ngày 25/10/2004 của hộ gia đình ông
Nguyễn Văn V, bà Võ Thị M, chị Nguyễn Thị Ngọc Á, chị Nguyễn Thị Thúy K,
anh Nguyễn Văn Thanh T3, chị Nguyễn Thị Thùy T4.
Buộc Thị H anh Đỗ Văn T2 chấm dứt hành vi cản trở trái pháp
luật đối với thửa đất số 158, tờ bản đồ số 26, diện tích 174m
2
tọa lạc tại khu phố
5
B, Phường C, thị C, tỉnh Tiền Giang (nay khu phố B, Phường M, tỉnh
Đồng Tháp) do UBND huyện C cấp ngày 25/10/2004 cho ông Nguyễn Văn V
đại diện hộ đứng tên.
Phần đất thửa số 158, tờ bản đồ số 26, diện tích 174m
2
tọa lạc tại khu phố
B, Phường C, thị C, tỉnh Tiền Giang (nay khu phố B, Phường M, tỉnh
Đồng Tháp) có tứ cận như sau:
+ Hướng Đông giáp đất ông Nguyễn Văn V và ông Trần Văn H1.
+ Hướng Tây giáp đất anh Đỗ Văn T2.
+ Hướng Nam giáp đất ông Nguyễn Văn V.
+ Hướng Bắc giáp rạch.
Ghi nhận sự tnguyện của ông Nguyễn Văn V hoàn trả cho bà Thị H
anh Đỗ Văn T2 giá trị 06 cây dừa với số tiền 2.992.000 đồng (Hai triệu chín
trăm chín mươi hai ngàn đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án ối
với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án
xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản
tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2
Điều 468 Bộ luật dân sự.
Về chi phí tố tụng: Buộc bà Lê Thị H và anh Đỗ Văn T2 có nghĩa vụ hoàn
trả lại chi phí tố tụng cho ông Nguyễn Văn V với số tiền 6.197.000 đồng (Sáu
triệu một trăm chín mươi bảy ngàn đồng).
Sau khi ông Nguyễn Văn V hoàn trả xong giá trị 06 cây dừa trồng trên
thửa 158 cho Thị H và anh Đỗ Văn T2 thì ông V được quyền sở hữu 06
cây dừa (trong đó 02 cây dừa loại B2, 04 cây dừa loại C).
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về án p quyền kháng cáo của
đương sự theo quy định.
* Ngày 16 tháng 10 năm 2025, Thị H và anh Đỗ Văn T2 đơn
kháng cáo bản án thẩm với nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản
án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Ngày 14 tháng 10 năm 2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành
phố khu vực 4 - Đồng Tháp ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số
09/QĐ-VKS-DS đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án thẩm chuyển
hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
* Tại phiên tòa hôm nay: Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn
vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đại diện theo ủy quyền của bị đơn vẫn giữ
nguyên yêu cầu kháng cáo, hai n đương sự không thỏa thuận với nhau việc
giải quyết vụ án.
6
* Luật bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bđơn phát biểu đề
nghị: ông V2 mua phần đất tranh chấp vào năm 1995, nhưng năm 1996 tông
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 158, đất ông V2 tăng
nhưng chưa được cấp thẩm m . Thửa đất 154 của ông B2 Ba không giáp
rạch T5, nguyên đơn cho rằng mình quản sử dụng không đúng đất
tranh chấp là đường nước công cộng, do bđơn sử dụng, nguyên đơn không
sử dụng, lịch sử biến động của thửa 154 chưa được làm , hồ cấp chứng
nhận quyền sử dụng đất chưa được thu thập đầy đủ. Đề nghị hủy bản án sơ thẩm
giao về tòa sơ thẩm giải quyết lại.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến về việc
tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa của
người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án giai đoạn phúc thẩm
đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: quyết định
kháng nghị số 09/QĐ-VKS-DS ngày 14/10/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu
vực 4 - Đồng Tháp, đề nghị án thẩm giao hồ về cấp thẩm giải quyết lại
chưa thu thập đầy đtài liệu chứng cứ. Tuy nhiên những thiếu sót của cấp
thẩm đã được cấp phúc thẩm khắc phục, nên không cần phải hủy bản án
thẩm. Đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn, nguồn gốc các thửa đất 158, 154,
181 của ông Trần Văn B khai tại thửa 2133, bị đơn cho rằng khi chuyển
nhượng 154 chuyển nhượng luôn thửa 158 nhưng không tài liệu chứng cứ
nào để chứng minh. Hồ cấp giấy chứng nhận thửa 154 của ông B2 Ba do
chị T6 con của ông B2 Ba đi đăng ký, không thửa 158, thửa 158 do ông V2
đăng và được cấp chứng nhận quyền sử dụng đất, khi ông B1 còn sống
hoàn toàn không tranh chấp đối với việc ông V2 được cấp chứng nhận
quyền sử dụng đất thửa 158. Do đó không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị
đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được tranh tụng tại phiên
tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng, nghe ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội
đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: n cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án, Tòa án thẩm xác định quan hệ
pháp luật tranh “Xác định quyền sở hữu, quyền sdụng tài sản quyền sử
dụng đất chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đấtđúng theo quy định
Điều 102, 158, 169, 212 Bộ luật sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp xác định quyền sở hữu, quyền sử
dụng tài sản quyền sử dụng đất chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng
đất thuộc thẩm quyền giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân khu vực 4 Đồng
Tháp đúng quy định tại khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 điểm a
khoản 1 Điều 39 Bộ luật tụng dân sự.
[3] Đơn kháng cáo của bị đơn Thị H anh Đỗ Văn T2, kháng nghị
của Viện kiểm sát đúng quy định tại Điều 272, Điều 273, Điều 278 Điều 280
Bộ luật Tố tụng dân sự.
7
[4] Về nội dung:
* Ngày 16 tháng 10 năm 2025, Thị H và anh Đỗ Văn T2 đơn
kháng cáo bản án thẩm với nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản
án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Ngày 14 tháng 10 năm 2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu
vực 4 - Đồng Tháp ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 09/QĐ-VKS-
DS đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án thẩm và chuyển hồ vụ án
cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm. Với các căn cứ: chưa
lấy lời khai của những người thừa kế của ông Trần Văn B để xác định ông B bán
phần đường nước cho ai, làm thửa 154 nguồn gốc thửa nào theo tài liệu
299, ông H1 chủ sử dụng thửa 159 không có ký giáp ranh với thửa 154 mà ký
với thửa 154, cán bộ nói phần đất tranh chấp là đường nước công cộng chưa
được làm rõ.
[5] Xét các căn cứ kháng nghị để đề nghị hủy bản án sơ thẩm. Tại giai đoạn
phúc thẩm đã được khắc phục cụ thể: về việc cho rằng cán bộ đo đạc xã định đất
tranh chấp là đường nước công cộng, đây chỉ lời của cán bộ đo đạc nói còn tài
liệu chứng cứ có giá trị pháp lý thể hiện tại bản đồ địa chính chính quy do Văn P
đăng đất đai thuộc Sở tài nguyên môi trường tỉnh Đ cung cấp thì phần đất
tranh chấp thửa 158 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông
Nguyễn Văn V.
Đối với yêu cầu làm rõ phần đất tranh chấp ông B bán cho ai: Biên bản xác
minh ngày 16/4/2026 của Trần Thị Ú con của ông Trần Văn B, không
việc ông B bán phần đất tranh chấp cho ông B1. Ngay cả ông Trần Văn H1
con của ông B, hiện nay đang tranh chấp đất với ông V cũng xác định
ông B chỉ bán cho ông B2 Ba phần đất diện tích 1 công đất, nhưng hiện nay ông
B2 Ba sử dụng và được cấp chứng nhận quyền sử dụng đất 1.511,6m
2
.
Theo công văn số 1094 ngày 07/4/2026 của Văn Phòng đăng đất đai
thuộc Sở tài nguyên môi trường tỉnh Đ công văn số 231 ngày 18/3/2026
của Chi nhánh Văn phòng Đ cung cấp thông tin:
Thửa đất số 181 tứ cận như sau: - H: giáp với Nguyễn Thị L (thửa
153), giáp với Nguyễn Văn V (thửa 159) và giáp với Đỗ Văn Bé B1 (thửa 154) -
Hướng Nam: giáp với hộ ông Văn Ú1 (thửa 185) giáp với Huỳnh Văn H2
(thửa 184)- ớng Đông: giáp với Nguyễn Văn V (thửa 158) và giáp với Trần
Văn H1 (thửa 157)- Hướng Tây: giáp với Nguyễn Thị L (thửa 152) giáp với
hộ ông Lê Văn Ú1 (thửa 160)
Thửa đất số 154 tứ cận như sau:- H: giáp với kênh- Hướng Nam: giáp
với Nguyễn Văn V (thửa 159 thửa 181)- Hướng Đông: giáp với Nguyễn Văn
V (thửa 158)- Hướng Tây: giáp với Nguyễn Thị L (thửa 153).
Hồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 181, 158 của
ông Nguyễn Văn V thửa 154 của ông Đỗ Văn B1 thể hiện tại đơn xin cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 16/7/2002 của ông Nguyễn Văn V
8
đăng ký thửa 181 diện tích 3.925m
2
, thửa 158 diện tích 174m
2
. Đơn xin cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 19/7/2002 của ông Đỗ Văn B1 đăng
thửa 154 diện tích 1.512m
2
. Hồ đăng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất của ông B2 Ba do chị Đỗ Thị Thanh T6 con của ông B2 Ba đi đăng
theo giấy uỷ quyền ngày 19/7/2002, chứ không phải là do ông V đi đăng ký như
bị đơn trình bày.
Trong quá trình hoà giải chính bđơn bà Thị H trình bày là ông B2 Ba
chuyển nhượng đất của ông B diện tích 1.511,6m
2
, ông B1 chuyển nhượng
của ông B diện tích 1.511,6m
2
, đơn đăng cấp giấy chứng nhận diện ch
1.512m
2
, hiện nay được cấp giấy chứng nhận diện tích đo đạc thực tế hiện
nay là 1.511,6m
2
.
Tại biên bản xác minh ngày 16/4/2026 của ông Trần Văn H1 con của
ông Trần Văn B và cùng đang sử dụng thửa đất 157 ông H1 trình bày: năm 1983
thì ông B bán cho ông B2 Ba phần đất diện tích khoảng 1 công đất, đến năm
1995 bán cho ông V diện tích khoảng 4 công đất và phần đường nước thửa 158
do ông V người sử dụng, còn thửa đất 154 của ông B2 Ba thì giáp với rạch
T5. Tại phiên tòa phúc thẩm anh T2 trình bày giữa gia đình anh với ông
Huỳnh Văn H2 không quan hệ con hay mâu thuẩn gì, theo biên bản xác
minh ngày 16/4/2026 ông Huỳnh Văn H2 tổ trưởng tổ nhân dân tự quản trình
bày nguồn gốc phần đất tranh chấp của ông Trần Văn B bán cho ông V, do
ông V mua phần đất bên trong nên phải mua phần đường nước mới sử dụng
được đường nước từ rạch T5 vào, ngoài ông V sử dụng đường nước trên thì
không ai sdụng đường nước tranh chấp trên. Hiện nay đất của ông B2 Ba
được cấp thửa 154 diện tích 1.511,6m
2
, hai thửa đất 181 158 của ông V
được cấp tổng cộng 4.099m
2
.
Tại đồ đo đạc theo bản đồ chính quy đã thể hiện thửa 154 được bao
quanh tứ cận rạch T5. Còn thửa 181, tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền
của bđơn trình bày: đất thửa 181 của ông V trồng lúa, thửa 158 là đường
nước giáp rạch Bà T5 kéo đến thửa 181 của ông V là kết thúc, ngoài ra không có
qua thửa đất nào khác và không có ai khác sử dụng đường nước trên.
Từ những căn cứ trên kháng nghị của Viện kiểm sát đã được khắc phục
giai đoạn phúc thẩm và không còn căn cứ để hủy bản án sơ thẩm.
[7] Xét yêu cầu kháng cáo không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn đề nghị bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn V yêu cầu xác định thửa đất số 158, tờ bản
đồ số 26, diện tích 174m
2
tọa lạc tại khu phố B, Phường C, thị C, tỉnh Tiền
Giang (nay khu phố B, Phường M, tỉnh Đồng Tháp) do UBND huyện C cấp
ngày 25/10/2004 cho ông Nguyễn n V đại diện hộ gia đình đứng tên của
gia đình ông V; Yêu cầu bị đơn Thị H và anh Đỗ Văn T2 chấm dứt hành
9
vi cản trở đối với thửa đất này; Bị đơn bà H và anh T2 không đồng ý với toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của ông V.
Xét, nguồn gốc thửa đất số 158, tờ bản đồ số 26, diện tích 174m
2
tọa lạc
tại khu phố B, Phường C, thị C, tỉnh Tiền Giang (nay là khu phố B, Phường
M, tỉnh Đồng Tháp) do UBND huyện C cấp ngày 25/10/2004 cho ông Nguyễn
Văn V đại diện hgia đình đứng tên, theo nguyên đơn, bị đơn xác định của
ông Trần Văn B. Tại tòa T1 đại diện ủy quyền ông V xác định phần đất này
do ông V nhận chuyển nhượng của ông B vào năm 1996, khi nhận chuyển
nhượng đất thì ông B chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau
khi mua xong thì ông V đi khai được cấp giấy đất. Căn cứ công văn số
298/CN.KVVII-ĐKCG-TL ngày 16/9/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng
đấy đai khu vực VII xác định thửa đất số 158 do ông Trần Văn B được khai
đăng theo tài liệu 299 vào ngày 10/7/1996 được UBND huyện C cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00438. Sau đó, ông V được UBND
huyện C cấp đổi lại giấy chứng nhận có số vào sổ 00709 vào ngày 25/10/2004 từ
khi nhận chuyển nhượng đất thửa đất này đến nay ông V người trực tiếp quản
lý, sdụng phần đất này đlàm đường dẫn thoát nước, đồng thời cho hộ gia
đình bà H sử dụng nhờ phần đường nước này.
Mặc khác, chị N đại diện ủy quyền bị đơn cho rằng thửa 158 này trước
đây là của hộ gia đình ông B2 Ba nhận chuyển nhượng của ông Trần Văn B vào
năm 1983 thửa số 154, tờ bản đồ số 26, diện tích 1.511,6m
2
tọa lạc tại khu phố
B, Phường C, thị C, tỉnh Tiền Giang (nay khu phố B, Phường M, tỉnh
Đồng Tháp) do UBND huyện C cấp ngày 25/10/2004 cho ông B2 Ba đứng tên
hiện tại thửa 154 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 18/3/2022
cho anh Đỗ Văn T2 đứng tên, khi bán làm giấy tay nhưng đã thất lạc giấy
không còn và khi đoàn đo đạc đo cấp giấy thì ông Bé B1 và ông V thống nhất để
thửa đất số 158 làm đường nước công cộng sdụng chung chứ không cấp giấy
cho ai là không có cơ sở chấp nhận, vì tại bản đồ chính quy đã thể hiện đất tranh
chấp là thửa 158 không phải là đường nước công cộng như kháng nghị đã nêu.
Như đã phân tích các tài liệu chứng cứ thì bị đơn cho rằng thửa 158
ông Bé B1 mua vào năm 1983 nhưng không cung cấp được giấy tờ mua bán hay
tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh không có giấy tờ gì để chứng minh
ông Ba đăng khai đối với thửa đất tranh chấp bị đơn cho rằng
thửa 158 đường nước công cộng, nhưng căn cứ vào toàn bộ hồ sơ cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 158 do Chi nhánh Văn phòng đăng đất
đai cung cấp (bút lục từ 100 – 108) ông V đi đăng ký cấp giấy vào năm 2004 các
thửa 116, 128, 158, 159, 181, 257 (26) theo công văn số 1076/VPĐKĐĐ-
TTLT ngày 24/9/2025 của Văn phòng đăng đất đai, Sở nông nghiệp môi
trường tỉnh Đ cung cấp sổ mục kê ruộng đất tại thời điểm năm 1996 thì thửa 158
do ông V kê khai đăng ký theo tài liệu 299 ngày 10/7/1996, thửa 158 này có chủ
10
sở hữu khai đăng chứ không phải đường nước công cộng. Cũng theo
công văn 1076 thì thửa 158, 154, là từ thửa 2133 do ông Trần văn B kê khai theo
sổ mục 299. Đồng thời, thửa đất số 154, tờ bản đồ số 26, diện tích 1.511,6m
2
ông B1 mua của ông B đã được UBND huyện C cấp ngày 25/10/2004 cho
ông B2 Ba đứng tên hiện tại anh Đỗ Văn T2 được Sở tài nguyên môi
trường tỉnh T cấp ngày 18/3/2022 thì thửa 154, tờ bản đồ số 26, diện tích
1.511,6m
2
không thay đổi diện tích hay diện tích đất giảm so với trước đây. Do
đó, căn cứ xác định thửa đất số 158 của hộ gia đình ông V được cấp giấy
hợp pháp, trong quá trình hộ gia đình bị đơn bà H và anh T2 sử dụng nhờ đường
nước này hành vi ngăn cản ông V quản sử dụng thửa đất này, nên ông V
yêu cầu xác định thửa đất 158, tờ bản đồ số 26, diện tích 174m
2
thuộc quyền s
dụng hợp pháp gia đình ông V yêu cầu H và anh T2 chấm dứt hành vi cản
trở đối với quyền sdụng hợp pháp thửa đất này căn cứ phù hợp với quy
định tại Điều 158, Điều 169 Bộ luật dân sự. Ngoài ra, trên thửa đất 158 bị đơn tự
ý trồng 02 cây dừa loại B2 giá 2.140.000 đồng và 04 cây dừa loại C giá 852.000
đồng, T1 đại diện ủy quyền ông V đồng ý hoàn trả lại toàn bộ gtrị 06 cây
dừa với số tiền 2.992.000 đồng (Hai triệu chín trăm chín mươi hai ngàn đồng)
đây là sự tự nguyện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Từ những căn cứ trên xác định phần đất tranh chấp của ông B bán cho
ông V. Bị đơn không tài liệu chứng cnào để chứng minh phần đất đang
tranh chấp của ông B1 đã mua của ông B, khi ông B1 được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất không phần đường nước tranh chấp giấy
cấp hình thể giáp với thửa 158 phần đất tranh chấp của ông V nhưng ông
B1 hoàn toàn không có ý kiến tranh chấp gì về việc cấp giấy chứng nhận hay
sử dụng thửa đất 158 của ông V, chỉ đến khi ông B2 Ba chết thì vợ con ông
B1 mới tranh chấp.
Án thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn căn cứ
phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ quy định pháp luật. Bị đơn
kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào mới để chứng
minh cho yêu cầu kháng cáo. Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu
cầu kháng cáo của bị đơn.
[8] Các phần khác của án thẩm không kháng cáo, kháng nghị nên
phát sinh hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và kháng nghị của Viện kiểm sát
nhân dân khu vực 4 -Đồng Tháp căn cứ theo như đã phân tích nên được
hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Xét đề nghị của luật bảo vquyền lợi ích hợp pháp của bị đơn
không có căn cứ, không được hội đồng xét xử chấp nhận.
11
[11] Về án phí phúc thẩm: H không phải chịu án pphúc thẩm do
người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền án phí, anh T2 phải chịu án phí phúc
thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đồng
Tháp.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị H, anh Đỗ Văn T2.
Giữ nguyên bản án dân sự thẩm số: 186/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đồng Tháp.
Áp dụng các Điều 102, 158, 169, 212 Bộ luật dân sự; Điều 157, 165, 271,
272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 23, Điều 26 Luật đất đai năm 2024; Điều
2 Luật người cao tuổi; Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí lệ phí
Toà án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn V.
Xác định thửa đất số 158, tờ bản đồ s26, diện tích 174m
2
tọa lạc tại khu
phố B, Phường C, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay khu phố B, Phường M, tỉnh
Đồng Tháp) do UBND huyện C cấp ngày 25/10/2004 của hộ gia đình ông
Nguyễn Văn V, bà Võ Thị M, chị Nguyễn Thị Ngọc Á, chị Nguyễn Thị Thúy K,
anh Nguyễn Văn Thanh T3, chị Nguyễn Thị Thùy T4.
Buộc Thị H anh Đỗ Văn T2 chấm dứt hành vi cản trở trái pháp
luật đối với thửa đất số 158, tờ bản đồ số 26, diện tích 174m
2
tọa lạc tại khu phố
B, Phường C, thị C, tỉnh Tiền Giang (nay khu phố B, Phường M, tỉnh
Đồng Tháp) do UBND huyện C cấp ngày 25/10/2004 cho ông Nguyễn Văn V
đại diện hộ đứng tên.
Phần đất thửa số 158, tờ bản đồ số 26, diện tích 174m
2
tọa lạc tại khu phố
B, Phường C, thị C, tỉnh Tiền Giang (nay khu phố B, Phường M, tỉnh
Đồng Tháp) có tứ cận như sau:
+ Hướng Đông giáp đất ông Nguyễn Văn V và ông Trần Văn H1.
+ Hướng Tây giáp đất anh Đỗ Văn T2.
+ Hướng Nam giáp đất ông Nguyễn Văn V.
+ Hướng Bắc giáp rạch.
12
Ghi nhận sự tnguyện của ông Nguyễn Văn V hoàn trả cho bà Thị H
anh Đỗ Văn T2 giá trị 06 cây dừa với số tiền 2.992.000 đồng (Hai triệu chín
trăm chín mươi hai ngàn đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án ối
với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án
xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản
tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2
Điều 468 Bộ luật dân sự.
Về chi phí tố tụng: Buộc bà Lê Thị H và anh Đỗ Văn T2 có nghĩa vụ hoàn
trả lại chi phí tố tụng cho ông Nguyễn Văn V với số tiền 6.197.000 đồng (Sáu
triệu một trăm chín mươi bảy ngàn đồng).
Sau khi ông Nguyễn Văn V hoàn trả xong giá trị 06 cây dừa trồng trên
thửa 158 cho Thị H và anh Đỗ Văn T2 thì ông V được quyền sở hữu 06
cây dừa (trong đó 02 cây dừa loại B2, 04 cây dừa loại C).
2. Về án phí: Miễn toàn bộ tiền án phí cho Thị H số tiền 150.000
đồng (Một trăm năm mươi ngàn đồng).
Buộc anh Đỗ Văn T2 phải chịu 150.000 đồng (Một trăm năm mươi ngàn
đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Miễn toàn bộ tiền án phí cho ông Nguyễn Văn V số tiền 300.000 đồng
(Ba trăm ngàn đồng).
H3 lại cho ông Nguyễn Văn V 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng
án phí đã nộp theo biên lai thu số 0018387 ngày 20/02/2023 của Chi cục Thi
hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (nay là Phòng thi hành án dân s
khu vực 4 - Đồng Tháp).
Anh Đỗ Văn T2 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ
vào 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sphúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số
0005061 ngày 16/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7
Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- VKSND khu vực 4 - Đồng Tháp;
- TAND khu vực 4 - Đồng Tháp;
- Phòng THADS khu vực 4 - Đồng Tháp;
- THADS Tỉnh;
- Các đương sự;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
13
- Cổng thông tin điện tử;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
Lâm Ngọc Tuyền
Thành viên Hội đồng xét xử
Nguyễn Thị Thúy Hằng – Lưu Thị Thu Thủy
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà
Lâm Ngọc Tuyền
Tải về
Bản án số 414/2026/DS-PT Bản án số 414/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 414/2026/DS-PT Bản án số 414/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất