Bản án số 490/2026/DS-PT ngày 14/05/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 490/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 490/2026/DS-PT ngày 14/05/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 490/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà T tranh chấp quyền sử dụng và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 490/2026/DS-PT
Ngày 14 - 5 - 2026
“V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
hủy giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Bà Võ Thị Mỹ Dung
Các Thẩm phán:
Ông Lê Thành Trung
Ông Lê Minh Đạt
- Thư phiên tòa: Tăng Thị Bích Trâm - Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long: Thị Hồng
Vân - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 17 tháng 4 và ngày 14 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án
nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai v án thụ số:
805/2025/TLPT-DS ngày 18 tháng 12 năm 2025 về việc“Tranh chấp quyền sử
dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số: 89/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực C-Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 257/2026/QĐ-PT
ngày 27 tháng 02 năm 2026, Quyết định hoãn phiên a số 409/2026/QĐ-PT
ngày 27 tháng 3 năm 2026, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 515/2026/QĐ-
PT ngày 17 tháng 4 năm 2026 và Thông báo mở lại phiên tòa số 38/TB-TA ngày
08 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Huỳnh Thị T, sinh năm 1970. Địa chỉ: tổ B, khóm T,
phường B, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện theo uỷ quyền của T: Thái Thị G, sinh năm 1988.
Địa chỉ: số A đường A tháng I, Phường T, tỉnh Vĩnh Long (Giấy ủy quyền ngày
13/3/2026 do Văn phòng C1).
2
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T: Ông Nguyễn Minh T1,
Luật sư Công ty TNHH MTV V thuộc Đoàn luật sư tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: Anh Lê Thành S, sinh năm 1989. Địa chỉ: tổ B, khóm T, phường
B, tỉnh Vĩnh Long.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Lê Văn G1, sinh năm 1967.
+ Chị Lê Thị Thu T2, sinh năm 1989.
Người đại diện theo uỷ quyền của chị T2: Huỳnh Thị T, sinh năm
1970 (Theo hợp đồng uỷ quyền số 5030, ngày 20/12/2024, bút lục 157-158).
+ Anh Lê Thành S, sinh năm 1990.
Cùng địa chỉ: tổ B, khóm T, phường B, tỉnh Vĩnh Long.
+ Chị Lê Thị Thu M, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Tổ B, khóm T, phường B, tỉnh Vĩnh Long.
+ Chị Lê Thị Mỹ T3, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Số B, ấp P, xã P, tỉnh Vĩnh Long.
+ Chị Lê Thị Tuyết M1, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Số C, ấp P, xã P, tỉnh Vĩnh Long.
+ Ủy ban nhân dân phường B, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện hợp pháp: Ông Phan Hoàng D - Phó chủ tịch Ủy ban nhân
dân phường B.
- Người kháng cáo: Anh Lê Thành S Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tài liệu chứng cứ và lời khai của nguyên đơn có trong
hồ sơ vụ án thể hiện:
Ông Huỳnh Văn H (chết 1983) cha của Huỳnh Thị T để lại cho
T diện tích 1.450m
2
loại đất lúa, tại ấp T, T, thị B, tỉnh Vĩnh Long.
Nguồn gốc đất là do cụ Lê Thành T4 (C) cho ông Huỳnh Văn H canh tác từ năm
1976 đến năm 1983. Trong quá trình sử dụng ông H người đã gỡ bom, mìn,
bồi đắp, đào mương lên vườn cải tạo thành đất vườn không ai tranh chấp qua các
thời kỳ, sau khi ông H chết thì để lại cho T canh tác từ năm 1984 cho đến
năm 2011 thì phát sinh tranh chấp. Gia đình T canh tác sử dụng ổn định,
không ai tranh chấp từ năm 1976 cho đến năm 2011 trên 35 năm đóng
thuế sử dụng đất hàng năm do ông H và ông Lê Văn G1 nộp. Năm 2011, bà T đi
làm thủ tục đo đạc theo chương trình VLap những người giáp ranh giáp
cận nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì xảy ra tranh
chấp năm 2014 với bà Nguyễn Thị H1. Do đó, bà T khởi kiện yêu cầu:
3
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 34, tờ bản đồ số 70,
diện tích 1.069m
2
loại đất lúa do Nguyễn Thị H1 đứng tên giấy chứng nhận,
số phát hành BK876294, do Ủy ban nhân dân thị xã B, tỉnh Vĩnh Long cấp ngày
26/3/2013, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
- Công nhận cho bà được quyền sử dụng diện tích đo đạc 887,9m
2
đất lúa,
thửa đất 34, tờ bản đồ số 70, tọa lạc tại xã T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
Đối với các chủ giáp cận: Nguyễn Thị Đ, Nguyễn Minh T5, Nguyễn Thị
L, Nguyễn Thanh G2, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Thị H2, Duy P và Nguyễn
Đức Minh T6 đã lấn chiếm như sau: Nguyễn Đức Minh T6 lấn chiếm 17,8m
2
,
Nguyễn Thanh G2 lấn chiếm 7m
2
, Nguyễn Thị L lấn chiếm 8,1m
2
, Nguyễn
Minh T5 lấn chiếm 3,9m
2
Nguyễn Thị Đặng lấn C 7,2m
2
như kết quả đo đạc
hiện trạng khu đất ngày 12/3/2025, T không tranh chấp thống nhất xác
định ranh theo hiện trạng sử dụng thực tế.
Bị đơn anh Thành S trình bày: Nguồn gốc thửa đất số 34, tờ bản đồ số
70, diện tích 1.069m
2
tọa lạc ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long, có từ thời ông
cóc ông Thành T4 chết để lại cho ông nội anh là ông Thành T7, sau đó
ông T7 chết để lại cho cha anh ông Văn Ú, sau khi ông Ú chết để lại cho
mẹ Nguyễn Thị H1 nhận thừa kế đứng tên thửa đất này được Ủy ban nhân
dân thị xã B cấp ngày 26/3/2013. Theo anh S, có nghe mẹ anh nói “trước đây do
thấy hoàn cảnh gia đình của ông Huỳnh Văn H (cha bà T) gặp khó khăn nên cho
gia đình ông H canh tác trồng rau màu ngắn ngày chứ không cho trồng cây lâu
năm”. Sau này thì anh không thấy ai canh tác trên thửa đất này nhưng khi gia
đình anh vào sử dụng thửa đất để canh tác thì Huỳnh Thị T ông Văn
G1 ngăn cản hăm dọa nói đất này của T không cho ai đụng cho đến
nay thửa đất 34 vẫn bỏ hoang, trên đất chỉ có một số loại cây trồng không có giá
trị.
Cha mẹ của anh S ông Văn Ú Nguyễn Thị H1. Ông Ú
H1 03 người con: Thị Mỹ T3; Thành S Thị Tuyết M1. Ông
Văn Ú chết năm 2011, Nguyễn Thị H1 chết năm 2016, các thành viên trong
gia đình gồm: Lê Thị Mỹ T3, Lê Thị Tuyết M1 thống nhất cho giao cho anh
toàn quyền quyết định thửa đất số 34 tờ bản đồ số 70, diện tích 1.069m
2
, đất lúa
với bà T.
Anh S không đồng ý theo yêu cầu của bà Huỳnh Thị T yêu cầu trả lại thửa
số 34, tờ bản đồ số 70, loại đất lúa. Đất tọa lạc ấp T, T, thị B, tỉnh Vĩnh
Long nhưng không đơn yêu cầu phản tố. Anh S thống nhất diện tích theo kết
quả đo đạc còn lại 887,9m
2
đất lúa, thuộc thửa số 34, tờ bản đồ số 70.
4
Đối với các chủ giáp cận: Nguyễn Thị Đ, Nguyễn Minh T5, Nguyễn Thị
L, Nguyễn Thanh G2, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Thị H2, Duy P và Nguyễn
Đức Minh T6 đã lấn chiếm như sau: Nguyễn Đức Minh T6 lấn chiếm 17,8m
2
,
Nguyễn Thanh G2 lấn chiếm 7m
2
, Nguyễn Thị L lấn chiếm 8,1m
2
, Nguyễn
Minh T5 lấn chiếm 3,9m
2
Nguyễn Thị Đặng lấn C 7,2m
2
anh không tranh
chấp với họ để anh thỏa thuận với sau.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Văn G1, chị Thị Thu
T2, anh Lê Thành S bản tự khai thể hiện ý kiến thống nhất theo yêu cầu khởi
kiện của bà T, đề nghị công nhận quyền sử dụng đất và xin vắng mặt.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Thị Thu M thống nhất
theo ý kiến của anh S và xin vắng mặt
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Thị Mỹ T3, chị Thị
Tuyết M1 thống nhất trình bày: Thửa đất số 34, tờ bản đồ số 70, diện tích
1.069m
2
đất trồng lúa do ông Lê Thành T4 để lại cho ông Thành T7, ông T7
chết để lại cho ông Văn Ú, ông Ú chết để lại mẹ Nguyễn Thị H1. Chị M1
chị T3 thống nhất theo ý kiến của anh S, đồng ý đanh S đứng ra giải quyết
tranh chấp với T.
Những người chủ sử dụng đất giáp cận với đất tranh chấp: Nguyễn Thị
Đ, Nguyễn Minh T5, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thanh G2, Nguyễn Văn L1,
Nguyễn Thị H2, Lê Duy P có bản khai ý kiến ngày 15/5/2025 trình bày: Nguyễn
Thị Đ, Nguyễn Minh T5, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thanh G2, Nguyễn Văn L1,
Nguyễn Thị H2, Lê Duy P là chủ giáp ranh với thửa đất đang tranh chấp giữa bà
Huỳnh Thị T với anh Thành S thuộc thửa 34 tờ bản đồ số 70, diện tích
1.069m
2
đất lúa; đất tọa lạc ấp T, T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long, thống nhất
không có yêu cầu độc lập, xin vắng mặt.
Tại biên bản ghi lời khai ông Nguyễn Đức Minh T6 trình bày: Lúc ông
nhận chuyển nhượng thửa đất 164 giáp với thửa số 34 có trụ đá và hàng rào lưới
B40, sau khi mua vài tháng anh xây nhà lấn chiếm qua đất của thửa số 34
theo kết quả đo đạc hiện trạng khu đất ngày 12/3/2025, không yêu cầu độc
lập để thỏa thuận sau với bên bà T hoặc anh S.
Ủy ban nhân dân phường B, tỉnh Vĩnh Long (kế thừa quyền nghĩa vụ
của Ủy ban nhân dân thị xã B) xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Tại Bản án dân sự thẩm số: 89/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực C-Vĩnh Long đã quyết định:
Căn cứ Điều 195, 196 của Bộ luật Dân sự năm 1995; Điều 189, Điều 247
của Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 158, 165, 166, 179, 236 của Bộ luật Dân sự
năm 2015. Các Điều 97, 101; 166, 167, 168, 169, 170 Luật đất đai năm 2013;
5
Điều 131, 132, 133, 134, 135, 136, 138, 235, 236 Luật đất đai năm 2024; khoản
2 Điều 26 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị T.
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành BK 876294, do
Ủy ban nhân dân thị B, tỉnh Vĩnh Long cấp ngày 26/3/2013, số vào sổ cấp
GCN: CH04421 thửa đất số 34, tờ bản đồ số 70, diện tích 1.069m
2
, mục đích sử
dụng: Đất chuyên trồng lúa nước; địa chỉ thửa đất: ấp T, T, thị B, tỉnh
Vĩnh Long do Nguyễn Thị H1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Công nhận cho bà Huỳnh Thị T được quyền sử dụng diện tích theo kết
quả đo đạc hiện trạng khu đất ngày 12/3/2025 887,9m
2
loại đất lúa, thửa số
34, tờ bản đồ số 70 (gồm các mốc 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15,
1) đất tọa lạc xã T, thị xã B (nay là phường B, tỉnh Vĩnh Long).
- Huỳnh Thị T được quyền đi đăng ký, khai tại quan chuyên
môn phần đất thửa 34, tờ bản đồ số 70, diện tích 887,9m
2
theo kết quả đo đạc
hiện trạng khu đất ngày 12/3/2025. Bà T đang quản lý sử dụng thửa đất trên nên
được quyền tiếp tục quản sử dụng cùng các loại cây trồng trên đất theo
biên bản định giá ngày 08/12/2023.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí thẩm, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành
án và quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 29 tháng 9 năm 2025, bị đơn anh Thành
S nộp đơn kháng cáo toàn bộ Bản án thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Huỳnh Thị T vviệc công nhận cho
T diện tích 887,9m
2
loại đất lúa, thửa số 34, tờ bản đồ số 70 tọa lạc T, thị
B; không chấp nhận yêu cầu của T về việc yêu cầu anh S trả lại diện tích
887,9m
2
loại đất lúa, thửa số 34, tờ bản đồ số 70 tọa lạc xã T, thị xã B.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 17/4/2026, anh Thành S trình bày giữ nguyên
kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng không
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của T. Anh S trình bày, nguồn gốc thửa đất của
ông anh để lại cho cha mẹ anh đều được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất qua các chương trình đất. Khi cha anh ông Ú còn sống đã canh tác từ
trước năm 2009 nhưng do bà T ngăn cản nên sau đó không canh tác được, ông Ú
trồng dừa trồng bưởi trên đất. Tại phiên tòa ngày 14/5/2026 anh S đơn
đề nghị xét xử vắng mặt và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh S có
ý kiến trình bày anh S đồng ý tự nguyện bồi hoàn giá trị cây trồng theo số lượng
và giá đã định tại biên bản định giá ngày 07/01/2025 của Tòa án cấp sơ thẩm.
6
Tại phiên tòa ngày 17/4/2026 bà G là người đại diện ủy quyền của bà T và
T vắng mặt nhưng tại phiên tòa ngày 14/5/2026 nguyên đơn T mặt,
T trình bày nguồn gốc thửa đất tranh chấp của ông Huỳnh Văn H chết năm
1983 để lại cho canh tác đến năm 2011 mới phát sinh tranh chấp, khi cha
sử dụng đất không biết ông H khai đăng đất không nhưng đóng
thuế đất, năm 2011 kê khai đăng đo đạc được quan chuyên
môn cung cấp bản tả ranh giới mốc giới chữ của các hộ giáp cận. Từ
năm 2011 T không sử dụng đất đến nay do chính quyền địa phương yêu
cầu chờ giải quyết tranh chấp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn Lê Thành S trình bày:
Nguyên đơn không chứng minh được ông H được ông T4 tặng cho quyền sử
dụng đất, không căn cứ cho rằng ông H con nuôi của ông T4. Nguyên đơn
cho rằng đất của ông H chết để lại cho nguyên đơn canh tác nhưng năm 1983
ông H chết thì T mới 13 tuổi, do đó T cho rằng nhận đất canh tác, trồng
dừa, bưởi không phù hợp. Về phía bị đơn có qtrình khai đăng quyền
sử dụng đất là hợp pháp, Tòa án cấp sơ thẩm dựa vào văn bản trả lời của Ủy ban
nhân dân thị B không còn lưu hồ từ đó suy ra cấp đất cho gia đình bị đơn
sai không đúng. Việc H1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
hợp pháp, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của anh S, không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của T yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất thửa đất
số 34, tờ bản đồ số 70, diện tích 887,9m
2
theo kết quả đo đạc hiện trạng khu đất
ngày 12/3/2025 cho anh S.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn Huỳnh Thị T
trình bày: Việc Tòa án cấp thẩm công nhận quyền sử dụng đất cho T
Tòa án cấp thẩm đã làm đánh giá chứng cứ các bên cung cấp cho Tòa
án. Hồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho phía bị đơn Tòa án
cấp phúc thẩm thu thập là không đúng. Ông T7 có đơn xin cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất năm 1998 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm
1999 nhưng ông Ú không hthừa kế đất của ông T7, không biên lai
đóng thuế nên hồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Ú không
phù hợp khách quan, đất tranh chấp từ năm 2011 được hai bên thừa nhận
nhưng H1 vẫn được xem xét cấp giấy, việc cấp giấy cho ông Ú sai thì việc
cấp giấy cho H1 cũng sai nên H1 để lại đất cho anh S cũng sai. Ngoài ra,
vấn đề sao Tòa án cấp sơ thẩm thu thập thì không hồ cấp giấy Tòa
án cấp phúc thẩm thu thập được thì chưa được làm , việc cấp giấy phải do
quen biết hay không. Bị đơn không bất cứ căn cứ gì chứng minh về quyền sử
dụng đất ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất tranh chấp liền
7
canh liền cư. Bị đơn cũng không sử dụng đất, ông T7 chết không để lại di
chúc xác định thửa đất tranh chấp của ông T7 bà H1 khai thừa kế
không đúng. Nguyên đơn nhiều chứng cứ chứng minh người sử dụng đất,
nhiều người làm chứng đã cung cấp cho Tòa án bản tả ranh giới đo
đạc. T cũng nhiều lần khiếu nại nhưng không được giải quyết. Việc T
không sử dụng đất từ khi tranh chấp tuân thủ theo quy định pháp luật, chính
quyền địa phương yêu cầu. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu: Về việc tuân
theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng, tất c
đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ vụ án đến xét xử phúc
thẩm.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều
308 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh
Thành S. Sửa Bản án dân sự thẩm số 89/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực C-Vĩnh Long.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm
sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bđơn anh Thành S nộp
trong hạn luật định, phù hợp quy định Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân snên
được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Ủy ban nhân dân phường B, tỉnh Vĩnh Long, chị Lê Thị Tuyết M1, chị
Thị Mỹ T3 đều đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vắng
mặt các đương sự theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngày 10/7/2023, bà T
nguyên đơn khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
công nhận thửa đất tranh chấp cho bà T. Ngày 12/7/2023 Tòa án cấp sơ thẩm
Thông báo thụ vụ án số 133/TB-TLVA nội dung thông báo thụ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn bao gồm: yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất công nhận thửa đất tranh chấp cho T và xác định quan hệ pháp
luật tranh chấp quyền sử dụng đất. Ngày 14/4/2025, Tòa án cấp thẩm
Thông báo thụ vụ án bổ sung số 321/TB-TLVA theo đơn kiện sửa đổi bổ
sung ngày 08/4/2025 của bà T đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy
ban nhân dân thB, tỉnh Vĩnh Long tham gia tố tụng, xác định quan hệ pháp
luật tranh chấp quyền sử dụng đất. Tại Bản án thẩm số 89/2025/DS-ST
8
ngày 26/9/2025 xác định quan hệ pháp luật tranh chấp quyền sử dụng đất
đòi tài sản chưa phù hợp theo quy định tại khoản 11 Điều 26 Điều 34 của
Bộ luật Ttụng dân sự, do đó Hội đồng xét xphúc thẩm xác định lại quan hệ
pháp luật tranh chấp quyền sử dụng đất yêu cầu hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất.
[4] Xét nội dung kháng cáo của anh Lê Thành S:
[4.1] Căn cứ công văn số 2105/VPĐKĐĐ-TTLT ngày 05/5/2026 đã xác
định thửa đất số 34 nguồn gốc từ thửa đất số 1639, tờ bản đồ số 4, diện tích
1.050m
2
, loại đất: a, do hộ Thành T7 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, sphát hành N 925868 được Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày
01/10/1999 theo đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất lập ngày 21/5/1998.
Đến năm 2009, ông Văn Ú nhận thừa kế quyền sdụng đất thửa đất
nêu trên từ hộ ông Thành T7, được Văn phòng Đăng quyền sử dụng đất
huyện B xác nhận trang 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngày
10/02/2009.
Năm 2013, Nguyễn Thị H1 nhận thừa kế quyền sdụng đất từ ông
Văn Ú thửa đất số 1639, tờ bản đồ số 4 thành thửa đất số 34, tờ bản đồ 70 (nay
là tờ bản đồ số 131), diện tích 1.069m
2
, loại đất: LUC được Ủy ban nhân dân thị
xã B ký cấp ngày 26/3/2013.
Như vậy, thửa đất 34 nguồn gốc của ông, cha của bị đơn Thành S
đã thực hiện kê khai đăng ký, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, qua
các chương trình đất và không có tranh chấp tại thời điểm cấp giấy.
[4.2] Theo bà T trình bày nguồn gốc thửa đất do ông Thành T4 để lại
cho ông Huỳnh Văn H canh tác từ năm 1976, sau khi ông H chết năm 1983 thì
giao lại cho T tiếp tục canh tác sử dụng nhưng thời điểm này T sinh năm
1970 chỉ khoảng 13 tuổi quá trình sử dụng từ ông H, T đều không có việc
khai, đăng quyền sử dụng đất cũng như T thừa nhận việc được cho đất
thỏa thuận miệng, không lập thành văn bản cũng như không xác nhận
của cơ quan địa chính về việc sử dụng đất của gia đình bà T.
[4.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T thừa nhận sinh sống tại khóm T từ
khi nhỏ tuổi đến nay, ngoài phần đất tranh chấp bà còn thửa đất gia đình bà đang
sinh sống, việc không khai thửa đất tranh chấp không hiểu biết pháp
luật. T trình bày rằng đã canh tác lâu dài trên phần đất tranh chấp từ năm
1983 nhưng không cung cấp được bất kỳ giấy tờ nào theo Điều 137 Luật Đất đai
2024 để chứng minh đã được giao đất, nhận chuyển nhượng hoặc khai hoang
xác nhận hợp pháp.
9
[4.4] Mặt khác, tại thời điểm đo đạc lại theo Dự án V thì H1 người
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 34, có xác nhận
của tứ cận và không có tranh chấp nên mới có cơ sở để cơ quan chuyên môn cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho H1. T cho rằng khi đo đạc Vlap
tiến hành đo đạc cho T thể hiện tại Bản tả ranh giới mốc giới do T
cung cấp (tại bút lục 02) nhưng bản mô tả này không xác nhận, đóng dấu của
quan chuyên môn, không ghi họ tên chữ của n bộ đo đạc, không
thể hiện ai là người lập bản, ngoài ra bà T không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào
khác chứng minh cơ quan chuyên môn tiến hành khảo sát đo đạc việc bà kê khai
đăng ký đất theo chương trình đất chính quy như nguyên đơn trình bày.
[4.5] Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 07/01/2025 thửa đất
tranh chấp đất trồng a nước nhưng chỉ các cây trồng chuối, dừa, sắn,
bưởi, đu đủ số lượng ít, giai đoạn phát triển không đồng đều số năm sinh
trưởng thấp. Tại phiên tòa ngày 31/7/2025 người đại diện hợp pháp của T
thừa nhận T không canh tác đất từ hơn mười năm qua; tại phiên tòa phúc
thẩm ngày 17/4/2026 bị đơn Thành S cũng trình bày đất phát sinh tranh chấp
từ năm 2009 khi ông Văn Ú còn sống phù hợp với tài liệu Thơ mời ngày
23/10/2010 giải quyết tranh chấp đất của Trưởng ban N (bút lục 110), như vậy
không căn cứ xác định bà T thực hiện việc canh tác đúng mục đích sử
dụng đất, liên tục, ổn định trên thực tế.
[4.6] Từ việc canh tác đất không đăng ký, khai, không giấy tờ
chứng minh của người sử dụng đất, hiện tại T không còn canh tác trên đất
cũng như hiện trạng đất không có công trình, vật kiến trúc, cây trồng do bà T tạo
lập, phát triển nên không căn cứ công nhận quyền sử dụng đất đối với thửa
đất số 34, tờ bản đồ số 70, diện tích đo đạc thực tế là 887,9m
2
, loại đất LUC cho
T. Do đó, bà T yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số
34, tờ bản đồ s70, loại đất lúa, tọa lạc tại khóm T, phường B, tỉnh Vĩnh Long
do bà H1 đứng tên quyền sử dụng đất là không có căn cứ chấp nhận.
[5] Bị đơn ông S ý kiến yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất với thửa
đất số 34, tờ bản đồ số 70, diện tích đo đạc thực tế là 887,9m
2
loại đất LUC, tọa
lạc tại khóm T, phường B, tỉnh Vĩnh Long do H1 đứng tên quyền sdụng
đất. Tuy nhiên quá trình Tòa án cấp thẩm giải quyết vụ án, anh S không nộp
đơn yêu cầu phản tố, không nộp tạm ứng án phí nên không có cơ sở xem xét yêu
cầu của anh S. Do thửa đất số 34 H1 mẹ anh S đứng tên đăng quyền sử
dụng đất nên anh S quyền khởi kiện liên quan đến yêu cầu công nhận quyền
sử dụng đất ở vụ án khác.
10
[6] Tại phiên tòa phúc thẩm, anh S vắng mặt nhưng Luật D bảo vệ
quyền lợi ích hợp pháp cho anh S trình bày ý kiến của anh S tự nguyện bồi
hoàn giá trị cây trồng cho T gồm số lượng giá trị cây trồng theo biên bản
định giá ngày 07/01/2025, cụ thể: 36 cây chuối trị giá 720.000 đồng; 03 cây dừa
loại C trị giá 6.000.000 đồng; 02 cây dừa loại A trị giá 700.000 đồng; 01 cây sắn
đường kính > 40cm trị giá 500.000 đồng; 02 cây sắn trị giá 300.000 đồng; 02
y còng trị giá 1.200.000 đồng; 03 cây bưởi trị giá 1.050.000 đồng và 02 cây đu
đủ trị giá 420.000 đồng. Tổng cộng giá trị các cây trồng trên là 10.089.000 đồng.
Do phía bị đơn ý kiến tự nguyện đồng ý bồi hoàn giá trị cây trồng cho T
nên Hội đồng xét xghi nhận sự tự nguyện này của bị đơn buộc bị đơn bồi
hoàn cho bà T số tiền 10.089.000 đồng giá trị cây trồng trên phần đất tranh chấp.
Từ nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thảo luận thống nhất chấp nhn
kháng cáo của anh Lê Thành S. Sửa Bản án sơ thẩm số: 89/2025/DS-ST ngày 26
tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3-Vĩnh Long.
[7] Về chi phí tố tụng và án phí:
[7.1] Chi phí đo đạc hiện trạng khu đất, thẩm định giá tài sản xem xét
thẩm định tại chỗ: Buộc bà Huỳnh Thị T phải chịu chi phí khảo sát, đo đạc,
thẩm giá và xem xét thẩm định tại chỗ là 7.527.000 đồng. Bà T đã nộp đủ.
[7.2] Án phí thẩm: T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự
thẩm, T được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
đồng) theo biên lai thu số 0001956, ngày 12/7/2023 Chi cục Thi hành án dân sự
thị xã Bình Minh (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực C-Vĩnh Long).
Anh Thành S phải chịu 545.000 đồng (Năm trăm bốn mươi lăm nghìn
đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
[7.3] Án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự
Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Do sửa án thẩm nên anh S không
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho anh S tiền tạm ứng án phí phúc
thẩm.
[8] Phát biểu bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn phù hợp quy
định của pháp luật nên có căn cứ chấp nhận.
[9] Phát biểu bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn không
căn cứ chấp nhận.
[10] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phù
hợp với nhận định trên có căn cứ chấp nhận.
11
[11] Các quyết định khác của Bản án thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bluật Tố tụng dân sự; Điều 160, 165 của
Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26, 134, 135, 137 236 Luật đất đai năm
2024; Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn anh Thành S. Sửa Bản án
dân sự thẩm số 89/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân
dân khu vực C-Vĩnh Long.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị T về việc yêu cầu
hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành BK 876294, do Ủy ban
nhân dân thị B, tỉnh Vĩnh Long cấp ngày 26/3/2013, số vào sổ cấp GCN
CH04421 thửa đất số 34, tờ bản đồ số 70, diện tích 1.069m
2
, mục đích sử dụng:
Đất chuyên trồng lúa nước; địa chỉ thửa đất ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long
do bà Nguyễn Thị H1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Không chấp nhận yêu cầu của Huỳnh Thị T về việc công nhận cho bà
T được quyền sử dụng thửa đất 34, tờ bản đsố 70 diện tích 887,9m
2
loại đất
lúa (gồm các mốc 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 1) đất tọa lạc
T, thị B (nay phường B, tỉnh Vĩnh Long) (kèm theo Kết quả đo đạc hiện
trạng khu đất ngày 12/3/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đăng đất đai thị xã
B, tỉnh Vĩnh Long).
Buộc bị đơn anh Lê Thành S phải bồi hoàn giá trị cây trồng cho bà Huỳnh
Thị T số tiền 10.089.000 đồng (Mười triệu không trăm tám mươi chín nghìn
đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải
chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định
tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về chi phí tố tụng và án phí dân sự:
2.1 Chi phí đo đạc hiện trạng khu đất, thẩm định giá tài sản xem xét
thẩm định tại chỗ: Buộc bà Huỳnh Thị T phải chịu chi phí khảo sát, đo đạc,
thẩm giá và xem xét thẩm định tại chỗ là 7.527.000 đồng. Bà T đã nộp đủ.
2.2 Án phí thẩm: T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự
thẩm, T được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
12
đồng) theo biên lai thu số 0001956, ngày 12/7/2023 Chi cục Thi hành án dân sự
thị xã Bình Minh (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3-Vĩnh Long). Bà T
đã nộp đủ.
Anh Thành S phải chịu 545.000 đồng (Năm trăm bốn mươi lăm nghìn
đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
2.3 Về án phí phúc thẩm: Anh Thành S không phải chịu án phí dân s
phúc thẩm. Hoàn trả cho anh Thành S số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng
(Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005829 ngày 15/10/2025 của Thi
hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Vụ GĐKT II - TATC;
- VKSND tỉnh Vĩnh Long;
- Phòng GĐ,KT,TT&THA TAND TVL;
- TAND khu vực C - Vĩnh Long;
- Phòng THADS KV C-Vĩnh Long;
- Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long;
- Lưu Văn phòng;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký tên và đóng dấu)
Võ Thị Mỹ Dung
Tải về
Bản án số 490/2026/DS-PT Bản án số 490/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 490/2026/DS-PT Bản án số 490/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất