Bản án số 684/2026/DS-PT ngày 20/05/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 684/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 684/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 684/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 684/2026/DS-PT ngày 20/05/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Tây Ninh |
| Số hiệu: | 684/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 20/05/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | ĐỖ QUỐC Đ - ĐỖ THỊ HOÀNG O |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Hoàng Thị Thuý Lành
Các Thẩm phán:
Bà Phạm Thị Hồng Vân
Bà Dương Thuý Hằng
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Ngọc Nhẩn Thư ký Tòa án nhân
dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Gọn, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh mở phiên
tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1145/2025/TLPT-DS ngày
24 tháng 12 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2025/DS-ST ngày 22-7 -2025 Tòa án nhân
dân Khu vực 3 - Tây Ninh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 255/2026/QĐ-PT ngày
04 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
1.Ông Đỗ Quốc Đ, sinh năm 1965.
Địa chỉ HKTT: 92/16, N, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
2. Bà Lê Thị V, sinh năm 1933.
Địa chỉ: 9, N, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
3. Ông Đỗ Quốc T, sinh năm 1965.
Địa chỉ: 9, N, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)
4. Bà Đỗ Thị Nguyệt T1, sinh năm 1960.
Địa chỉ: A B, Phường B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)
5. Ông Đỗ Quốc V1, sinh năm 1956.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 684/2026/DS-PT
Ngày: 20- 5- 2026
Về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Địa chỉ: 9, N, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
6. Ông Đỗ Quốc T2, sinh năm 1969.
Địa chỉ: E Khối D Lô J ha Phường A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
7. Ông Đỗ Quốc T3, sinh năm 1962. Địa chỉ: 9, N, phường A, Thành phố Hồ
Chí Minh (vắng mặt).
Bị đơn:
1.Bà Đỗ Thị Hoàng O, sinh năm 1968.
Địa chỉ: Ấp S, xã H, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt).
2. Bà Đỗ Thị Thúy H, sinh năm 1966.
Địa chỉ: Ấp S, xã H, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Đỗ Oanh L, sinh năm 1976.
Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
2. Ông Đỗ Minh N, sinh năm 1970.
Địa chỉ: Ấp H, xã H, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
3. Bà Đỗ Thị Hồng Q, sinh năm 1972.
Địa chỉ: Ấp H, xã H, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
4. Ủy ban nhân dân huyện Đ kế thừa quyền và nghĩa vụ là Ủy ban nhân dân
xã H.
Địa chỉ: Ô, Khu B, xã H, tỉnh Tây Ninh do ông Trương Minh H1 làm chủ tịch
(vắng mặt).
5. Bà Đỗ Thị Nguyệt T4, sinh năm 1959.
Địa chỉ: A N, Ấp B, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)
6. Bà Đỗ Ánh H2, sinh năm 1998 (vắng mặt)
7. Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1961 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: D Ấp B, xã N, Thành phố Hồ Chí Minh.
8. Bà Nguyễn Thị Kim X, sinh năm 1993 (vắng mặt)
9. Ông Nguyễn Quang T5, sinh năm 1967 (vắng mặt)
10.Cháu Nguyễn Thị Hoàng T6, sinh năm 1999 (vắng mặt)
11. Cháu Nguyễn Gia P, sinh năm 2014
Cùng địa chỉ: Ấp S, xã H, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
Người kháng cáo: Bị đơn bà Đỗ Thị Hoàng O và bà Đỗ Thị Thúy H; người
có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Minh N
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06 tháng 10 năm 2023 và các lời trình bày tiếp theo
tại Toà án và tại phiên toà các nguyên đơn trình bày như sau:
3
Ông Đỗ Ngọc P1 có vợ là bà Lê Thị V (sống) sinh ra được 09 người con tên
Đỗ Quốc Đ, Đỗ Quốc T, Đỗ Thị Nguyệt T1, Đỗ Quốc V1, Đỗ Quốc T7, Đỗ Quốc
T2, Đỗ Quốc T3, Đỗ Quốc T8 (chết có con là Đỗ Ánh H2 và vợ là Nguyễn Thị G)
và bà Đỗ Thị Nguyệt T4. Ông Đỗ Ngọc P1 (chết 1995) được bà Trương Thị Đ1 (mẹ
ông P1) cho phần đất khoảng 3.300m
2
đất tại ấp S, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long
An (nay là xã H, tỉnh Tây Ninh). Ông Đỗ Ngọc M (cha bà O và bà H chồng của bà
G1) cũng được bà Trương Thị Đ1 cho phần đất giống như ông P1, hai phần đất này
giáp ranh với nhau. Nay phần đất của ông P1 và ông M là thửa 19, 20 tờ bản đồ số
14 xã H, tỉnh Tây Ninh. Quá trình tương phân đất xảy ra từ năm 1959 bà Đ1 có lập
tờ tương phân có chính quyền thời bấy giờ chứng thực. Sau khi được phân chia đất
ông Đỗ Ngọc P1 cùng vợ là Lê Thị V cất nhà ở. Do trước giải phóng vợ chồng bà V
có tham gia hoạt động cách mạng nhà để cho mẹ chồng là bà Trương Thị Đ1 ở trông
coi vợ chồng bà V, các con bà V cũng ở trong căn nhà này. Sau đó các con bà V và
ông P1 lớn nên về Thành phố cùng bà V, còn ông P1 đi đi về về chăm sóc mẹ là bà
Đ1. Năm 1981, bà Đ1 chết. Đối với ông Đỗ Ngọc M với bà G1 ly thân với nhau bà
G1 về H sinh sống, ông M không có nhà ở nên năm 1985, ông P1 có cho ông M vào
nhà ông P1 ở (hiện nay là bà O ở). Năm 1986, ông M chết thì bà G1 cùng các con O
và H tự ý vào nhà của ông P1 tiếp tục ở từ 1987 không chịu đi. Do đó từ năm 1987,
ông P1 cũng làm đơn khiếu nại gửi đến UBND thị trấn H đòi lại nhà. Sau đó ông P1
chết bà V tiếp tục khiếu nại. Ngày 04/11/1995 UBND huyện Đ ban hành quyết định
số 400/QĐ-UB về việc công nhận giải quyết tranh chấp giữa bà Lê Thị V với bà
Nguyễn Thị G1 – thị trấn H. Quyết định có nội dung: “Nay công nhận giải quyết
tranh chấp đất giữa bà Lê Thị V với bà Nguyễn Thị G1, nội dung thống nhất như
sau:
Buộc bà Nguyễn Thị G1 trả lại 2.764,65m
2
(Hai ngàn bảy trăm sáu mươi bốn,
phẩy sáu mươi lăm) cho bà Lê Thị V theo tờ bản đồ địa chính thị trấn H, tờ bản đồ
01 thửa 1264 -1266. Vị trí:
+Đông giáp đất bà Nguyễn Thị G1
+Tây giáp đất Đỗ Ngọc P2
+Nam giáp: đất Nguyễn Văn P3
+Bắc giáp: Lộ đất”.
Ngày 10/9/1996, UBND tỉnh L ban hành quyết định số 1491/QĐ.UB ngày
10/9/1996 có nội dung: “Nay chuẩn y quyết định số 400/QĐ.UB ngày 04/11/1995
của UBND huyện Đ với giải quyết tranh chấp thân tộc giữa bà Lê Thị V với bà
Nguyễn Thị G1 là đúng có giá trị thi hành. Lý do: có tờ cha mẹ thuận phân, công
nhận biên bản giải quyết của thân tộc là đúng”.
Ngày 03/4/2001, UBND tỉnh L ban hành quyết định số 935/QĐ-UB về việc
điều chỉnh tên đối tượng thi hành trong quyết định số 1491/QĐ.UB ngày 10/9/1996
của UBND tỉnh L. Nội dung: “Điều chỉnh tên đối tượng thi hành trong quyết định
số: 1491/QĐ-UB ngày 10/9/1996 của UBND tỉnh L về việc giải quyết tranh chấp
đất thân tộc giữa bà Lê Thị V và bà Nguyễn Thị G1, đất tọa lạc thị trấn H, huyện Đ
như sau: Giữ nguyên quyết định số 400/QĐ-UB ngày 04/11/1995 của UBND huyện
Đ về việc giải quyết đất thân tộc giữa bà Lê Thị V với bà Nguyễn Thị G1, đất tọa lạc
tại thị trấn H, huyện Đ. Lý do: có tờ cha mẹ thuận phân, công nhận biên bản giải
4
quyết của thân tộc là đúng”.
Sau khi có quyết định có hiệu lực pháp luật, bà G1 và các con không chấp
hành quyết định. Sau đó G1 về H sinh sống, bà O và bà H tiếp tục ở trên đất tranh
chấp.
Năm 1995 khi ông Đỗ Ngọc P1 chết, gia đình các ông bà đào huyệt mộ chôn
trên phần đất của ông P1 thì bà G1 và các con bà G1 ra ngăn cản và xãy ra xô xác
nhưng nhờ những người xung quanh giúp đỡ gia đình các ông bà mới chôn được
ông P1 trên phần đất này. Sau đó gia đình các ông bà tiếp tục sử dụng đất rào hàng
rào thì xãy ra xô xác.
Năm 2005, bà O và bà H cất nhà kiên cố trên đất nên gia đình các ông bà có
báo chính quyền lập biên bản đình chỉ xây dựng ngày 22/5/2005 nhưng các bà O và
H vẫn ngang nhiên xây dựng trên phần đất của gia đình các ông bà. Mặc dù gia đình
bà O vẫn có phần đất giáp ranh nhưng không cất.
Gia đình các ông bà vẫn tiếp tục tranh chấp yêu cầu UBND huyện Đ thi hành
các quyết định có hiệu lực pháp luật nói trên nhưng các con bà G1 và bà G1 không
thi hành.
Ngày 31/5/2017, UBND tỉnh L ban hành quyết định số 1950/QĐ-UBND ngày
31/5/2017 về việc thu hồi quyết định giải quyết tranh chấp giữa bà Lê Thị V với bà
Nguyễn Thị G1, đất tọa lạc tại thị trấn H, huyện Đ.
Ngày 11/8/ 2017, UBND huyện Đ ban hành quyết định số 6430/ QĐ-UBND
về việc thu hồi Quyết định số 400/QĐ.UB ngày 04/11/1995 của UBND huyện Đ về
việc công nhận giải quyết tranh chấp giữa bà Lê Thị V với bà Nguyễn Thị G1, đất
tọa lạc tại thị trấn H. Lý do thu hồi: đất được chồng bà Lê Thị V là ông Đỗ Ngọc P1
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mẫu Tỉnh 1994.
Sau khi nhận các quyết định nói trên bà Lê Thị V khiếu nại đến Chủ tịch
UBND tỉnh L, ngày 12/12/2017 Chủ tịch UBND tỉnh L có văn bản số 5594/UBND
-TCD trả lời cho bà Lê Thị V rằng đất ông Đỗ Ngọc P1 đã được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất mẫu Tỉnh năm 1994, việc giải quyết tranh chấp thuộc thẩm
quyền của Tòa án nhân dân.
Nay các nguyên đơn xác định phần thửa 19, 20 ( phần đất hướng tây) tờ bản
đồ số 14 xã H có nguồn gốc của ông Đỗ Ngọc P1 được mẹ ông P1 tặng cho năm
1953 cùng với ông Đỗ Ngọc M (em ông P1) diện tích khoảng 3.300m
2
trên đất có
mộ phần của ông Đỗ Ngọc P1 bị bà Đỗ Thị Hoàng O và bà Đỗ Thị Thúy H chiếm
giữ. Do đó các ông bà đề nghị Tòa án buộc bà O và bà H cùng những người ở trên
đất tháo dỡ di dời tài sản trả đất cho các ông bà.
Riêng bà T4 còn yêu cầu phía bà O và bà H phải bồi thường cho bà T4 là
1.700.000.000 đồng (Một tỷ bảy trăm triệu đồng) tiền thiệt hại do không có chỗ ở.
Bị đơn bà Đỗ Thị Hoàng O trình bày: bà là con của ông Đỗ Ngọc M và bà
Nguyễn Thị G1. Ông Đỗ Ngọc M và ông Đỗ Ngọc P1 (chồng và cha các nguyên
đơn) là anh em ruột. Cha bà ông M chết 1986 và mẹ bà là bà G1 chết 2020. Cha mẹ
bà có 05 người con tên: Đỗ Thị Hoàng O, Đỗ Thị Thúy H, Đỗ Thị Hồng Q, Đỗ Minh
N và Đỗ Oanh L. Ngoài ra cha mẹ bà không có con nuôi và con riêng nào khác.
Nguồn gốc đất thửa 19, 20 tờ bản đồ 14 xã H của ông bà nội bà chết để lại cho cha
5
bà ở đến khi cha bà chết thì chị em bà ở. Bà không đồng ý trả đất theo yêu cầu các
nguyên đơn.
Bị đơn bà Đỗ Thị Thúy H: thống nhất lời trình bày của bà O và cho rằng đất
của ông Đỗ Ngọc P1 ở khu vực khác không phải đất mà chị em bà đang ở.
Bà O và bà H có đơn phản tố:
1.Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bìa trắng cấp cho ông Đỗ Ngọc P1
ngày 10/3/1994 tại các thửa 1264, 2438, 2439, 1266 tờ bản đồ 1 với tổng diện tích
2.836m
2
, đất tọa lạc tại thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
2.Công nhận thửa đất số 19, tờ bản đồ số 14 diện tích 4.758,9m
2
và thửa 20
diện tích 609m
2
cùng tọa lạc tại thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An cho các bà được
quản lý sử dụng.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Minh N, bà Đỗ Thị Hồng Q
và ông Đỗ Oanh L trình bày: Các ông bà có lời trình bày thống nhất với lời trình
bày của bà O và bà H và các ông bà không có tranh chấp gì trong vụ án này.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị G và bà Đỗ Ánh H2: là
vợ và con ông Đỗ Quốc T8 (con ông P1) đã chết xác định không có tranh chấp gì
trong vụ án này. Đồng thời xin xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim X, Ông Nguyễn
Quang T5, Nguyễn Thị Hoàng T6 (là những người đang ở trên đất): đã được Tòa án
triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không phản hồi ý kiến gì về việc giải quyết vụ án cho
Tòa án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan UBND huyện Đ kế thừa quyền và
nghĩa vụ là UBND xã H, tỉnh Tây Ninh có văn bản gửi cho Tòa án – Khu vực 3, tỉnh
Tây Ninh ông Trương Minh H1 trình bày: vụ việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa
bà Lê Thị V và bà Nguyễn Thị G1 đã được UBND huyện Đ tại quyết định số số
400/QĐ-UB về việc công nhận giải quyết tranh chấp giữa bà Lê Thị V với bà Nguyễn
Thị G1 – thị trấn H. Quyết định có nội dung: “Nay công nhận giải quyết tranh chấp
đất giữa bà Lê Thị V với bà Nguyễn Thị G1, nội dung thống nhất như sau:
Buộc bà Nguyễn Thị G1 trả lại 2.764,65m
2
(Hai ngàn bảy trăm sáu mươi bốn,
phẩy sáu mươi lăm) cho bà Lê Thị V theo tờ bản đồ địa chính thị trấn H, tờ bản đồ
01 thửa 1264 -1266. Vị trí:
+Đông giáp đất bà Nguyễn Thị G1
+Tây giáp đất Đỗ Ngọc P2
+Nam giáp: đất Nguyễn Văn P3
+Bắc giáp: Lộ đất”.
Ngày 10/9/1996, UBND tỉnh L ban hành quyết định số 1491/QĐ.UB ngày
10/9/1996 có nội dung: “Nay chuẩn y quyết định số 400/QĐ.UB ngày 04/11/1995
của UBND huyện Đ với giải quyết tranh chấp thân tộc giữa bà Lê Thị V với bà
Nguyễn Thị G1 là đúng có giá trị thi hành. Lý do: có tờ cha mẹ thuận phân, công
nhận biên bản giải quyết của thân tộc là đúng”.
Ngày 03/4/2001, UBND tỉnh L ban hành quyết định số 935/QĐ-UB về việc
6
điều chỉnh tên đối tượng thi hành trong quyết định số 1491/QĐ.UB ngày 10/9/1996
của UBND tỉnh L. Nội dung: “Điều chỉnh tên đối tượng thi hành trong quyết định
số: 1491/QĐ-UB ngày 10/9/1996 của UBND tỉnh L về việc giải quyết tranh chấp
đất thân tộc giữa bà Lê Thị V và bà Nguyễn Thị G1, đất tọa lạc thị trấn H, huyện Đ
như sau: Giữ nguyên quyết định số 400/QĐ-UB ngày 04/11/1995 của UBND huyện
Đ về việc giải quyết đất thân tộc giữa bà Lê Thị V với bà Nguyễn Thị G1, đất tọa lạc
tại thị trấn H, huyện Đ. Lý do: có tờ cha mẹ thuận phân, công nhận biên bản giải
quyết của thân tộc là đúng”.
Ngày 31/5/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh L có ban hành quyết định số 1950/QĐ-
UBND có nội dung: “Thu hồi Quyết định số 1491/QĐ-UB ngày 10/9/1996 và Quyết
định số 935/QĐ-UB ngày 03/4/2001 của Ủy ban nhân dân tỉnh L về việc giải quyết
tranh chấp của bà Lê Thị V với bà Nguyễn Thị G1.
Giao Ủy ban nhân dân huyện Đ thu hồi Quyết định số 400/QĐ-UB ngày
04/11/1995 của Ủy ban nhân dân huyện Đ về việc giải quyết tranh chấp giữa bà Lê
Thị V với bà Nguyễn Thị G1.
Lý do đất chồng của bà V là ông Đỗ Ngọc P1 đã được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất mẫu tỉnh 1994”.
Ngày 11/8/2017, Ủy ban nhân dân huyện Đ ban hành Quyết định số 6430/QĐ-
UBND về việc thu hồi Quyết định số 400/QĐ.UB ngày 04/11/1995 của Ủy ban nhân
dân huyện Đ với lý do đất chồng bà Lê Thị V là ông Đỗ Ngọc P1 đã được cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất mẫu tỉnh năm 1994.
Qua kiểm tra hồ sơ thể hiện đất tranh chấp đã được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất mẫu T9 (bìa trắng) vào năm 1994. Do đó UBND tỉnh L đã có
quyết định số 1950/QĐ/UBND ngày 31/5/2017 về việc thu hồi Quyết định giải quyết
định giải quyết tranh chấp giữa bà Lê Thị V với bà Nguyễn Thị G1, đất tọa lạc tại
thị trấn H và UBND huyện Đ có Quyết định số 6430/QĐ-UBND về việc thu hồi
Quyết định số 400/QĐ.UB ngày 04/11/1995 của UBND huyện Đ về việc giải quyết
tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thị V với bà Nguyễn Thị G1, đất tọa lạc
tại thị trấn H.
Do đó UBND huyện Đ nay là UBND xã H đề nghị Tòa án giải quyết vụ án
theo quy định.
Tại Bản án sơ thẩm 33/2025/DS-ST ngày 22-7 -2025 Tòa án nhân dân Khu
vực 3- Tây Ninh quyết định:
Căn cứ vào Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 483; Điều 227,
Điều 228, Điều 244, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 234, Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100 và
Điều 166 Luật đất đai 2013;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
7
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện các ông bà Đỗ Quốc Đ, Lê Thị V,
Đỗ Quốc T, Đỗ Thị Nguyệt T1, Đỗ Quốc V1, Đỗ Quốc T7, Đỗ Quốc T2, Đỗ Quốc
T3 và Đỗ Thị Nguyệt T4 “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với bà Đỗ Thị Thúy H và
Đỗ Thị Hoàng O.
Buộc bà Đỗ Thị Hoàng O và Đỗ Thị Thúy H liên đới trả cho các nguyên đơn
Đỗ Quốc Đ, Lê Thị V, Đỗ Quốc T, Đỗ Thị Nguyệt T1, Đỗ Quốc V1, Đỗ Quốc T7,
Đỗ Quốc T2, Đỗ Quốc T3 và Đỗ Thị Nguyệt T4 số tiền 9.854.152.750 đồng (Chín
tỷ tám trăm năm mươi bốn triệu một trăm năm mươi hai ngàn bảy trăm năm mươi
đồng) ½ trị giá quyền sử dụng đất thửa 19 tờ bản đồ 14 xã H, tỉnh Tây Ninh.
Áp dụng khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tính lãi chậm thi hành.
2.Không chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị Hoàng O và bà Đỗ Thị Thúy H về
việc Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bìa trắng cấp cho ông Đỗ Ngọc P1
ngày 10/3/1994 tại các thửa 1264, 2438, 2439, 1266 tờ bản đồ 1 thị trấn H với tổng
diện tích 2.836m
2
, đất tọa lạc tại thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An. Nay là phần
thửa 19, 20 tờ bản đồ 14 xã H, tỉnh Tây Ninh.
3. Chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị Hoàng O và bà Đỗ Thị Thúy H về việc
công nhận ½ diện tích thửa đất số 19, tờ bản đồ số 14 diện tích 2.379,4m
2
(phần ông
M được bà Đ1 cho) thuộc quyền sử dụng của các bà. Công nhận ½ diện tích thửa
đất số 19, tờ bản đồ số 14 diện tích 2.379,4m
2
(phần ông P1 được bà Đ1 cho) thuộc
quyền sử dụng đất các bà nhưng phải thối hoàn tiền 9.854.152.750 đồng (Chín tỷ
tám trăm năm mươi bốn triệu một trăm năm mươi hai ngàn bảy trăm năm mươi
đồng) cho các nguyên đơn.
4. Các nguyên đơn Đỗ Quốc Đ, Lê Thị V, Đỗ Quốc T, Đỗ Thị Nguyệt T1, Đỗ
Quốc V1, Đỗ Quốc T7, Đỗ Quốc T2, Đỗ Quốc T3, Đỗ Thị Nguyệt T4 cùng với phía
Đỗ Thị Hoàng O và Đỗ Thị Thúy H được liên hệ cơ quan có thẩm quyền kê khai
đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 20 tờ bản đồ 14 xã H, tỉnh
Tây Ninh (đất nghĩa địa) theo Mãnh trích đo địa chính được Công ty TNHH N1 lập
được Chi nhánh Văn phòng Đ2 duyệt ngày 23/4/2024.
5. Bà Đỗ Thị Hoàng O và bà Đỗ Thị Thúy H được liên hệ cơ quan có thẩm
quyền kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 19 tờ bản đồ
14 xã H, tỉnh Tây Ninh (đất thổ +Vườn) theo Mãnh trích đo địa chính được Công ty
TNHH N1 lập được Chi nhánh Văn phòng Đ2 duyệt ngày 23/4/2024.
6.Không chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị Nguyệt T4 yêu cầu bà Đỗ Thị
Hoàng O và Đỗ Thị Thúy H bồi thường 1.700.000.000 đồng (Một tỷ bảy trăm triệu
đồng).
7. Về chi phí thẩm định, đo đạc, định giá và lập bản vẽ: Bà Đỗ Thị Hoàng O
và Đỗ Thị Thúy H liên đới nộp 65.000.000 đồng (Sáu mươi lăm triệu đồng) hoàn trả
cho các nguyên đơn Đỗ Quốc Đ, Lê Thị V, Đỗ Quốc T, Đỗ Thị Nguyệt T1, Đỗ Quốc
V1, Đỗ Quốc T7, Đỗ Quốc T2, Đỗ Quốc T3, Đỗ Thị Nguyệt T4.
Áp dụng khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tính lãi chậm thi hành.
8. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Đỗ Thị Hoàng O và Đỗ Thị Thúy H liên đới nộp 117.854.152 đồng (Một
trăm mười bảy triệu tám trăm năm mươi bốn ngàn một trăm năm mươi hai đồng).
8
Số tiền bà O và bà H được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mỗi 300.000 đồng
theo các biên lai 0006989 và 0006988 cùng ngày 06/12/2024 tại Chi cục thi hành án
huyện Đức Hòa (nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 3- Tây Ninh). Như vậy
bà O và bà H liên đới phải nộp tiếp 117.254.152 đồng.
H3 lại tiền tạm ứng án phí cho các nguyên đơn Đỗ Quốc T 1.475.000 đồng
theo biên lai số 0006055, 0006056 ngày 11/10/2023; ông Đỗ Quốc Đ 1.475.000
đồng theo biên lai số 0006059, 0006059 ngày 11/10/2023; ông Đỗ Quốc T2 số tiền
1.475.000 đồng theo biên lai số 0006061, 0006062 ngày 11/10/2023 tất cả các biên
lai đã nộp tại Chi cục thi hành án huyện Đức Hòa (nay là Phòng thi hành án dân sự
Khu vực 3- Tây Ninh).
Ngày 01/8/2025, các bị đơn Đỗ Thị Thúy H, Đỗ Thị Hoàng O và người có
quyền nghĩa vụ liên quan Đỗ Minh N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị cấp
phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
Ngày 05/8/2025, bà Đỗ Thị Nguyệt T4, là người có quyền và nghĩa vụ liên
quan trong vụ án kháng cáo bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị đơn Đỗ Thị Thúy H, Đỗ Thị Hoàng O và người có quyền nghĩa vụ
liên quan Đỗ Minh N đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng
mặt không có lý do.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà H, bà O chấm dứt uỷ quyền theo văn
bản ngày 21/4/2026
Người có quyền nghĩa vụ liên quan Đỗ Thị Nguyệt T4 làm rõ nội dung yêu
cầu kháng cáo:
- Yêu cầu buộc các bị đơn trả đất với diện tích 3.095m
2
, không đồng ý nhận
tiền.
- Yêu cầu bị đơn di dời nhà cửa, không đồng ý bồi thường tài sản trên đất
cho các bị đơn.
- Yêu cầu các bị đơn bồi thường thiệt hại do phía các bị đơn đã phá bỏ, làm
hư hại tài sản là căn nhà do cha mẹ bà và gia đình xây dựng từ năm 1959 và cây
trồng trên đất và bồi thường thiệt hại do gia đình bà nhiều năm không có nơi ở.
Bà T4 không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ.
Các nguyên đơn có mặt: ông Đỗ Quốc T, bà Đỗ Thị Nguyệt T1 đồng ý với
Bản án sơ thẩm, không thống nhất yêu cầu kháng cáo của bà Đỗ Thị Nguyệt T4.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên
tòa:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký
phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật
Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết phúc thẩm đối với
yêu cầu kháng cáo của các bị đơn bà Đỗ Thị Thúy H, bà Đỗ Thị Hoàng O và người
9
có quyền nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Minh N; Không chấp nhận kháng cáo của bà
Đỗ Thị Nguyệt T4, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
tra tại phiên tòa; ý kiến Tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát,
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của các bị đơn bà Đỗ Thị Thúy H, bà Đỗ Thị Hoàng O
và người có quyền nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Minh N, bà Đỗ Thị Nguyệt T4 nộp
trong thời hạn luật định. Về hình thức và nội dung kháng cáo phù hợp với quy định
tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét giải quyết theo
thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Các bị đơn bà Đỗ Thị Thúy H, bà Đỗ Thị Hoàng O và người có quyền
nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Minh N đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai
nhưng vắng mặt không có lý do.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà O, bà H có văn bản chấm dứt uỷ quyền
đối với bà H, bà O.
Như vậy, bà H, bà O, ông N coi như từ bỏ quyền kháng cáo. Cấp phúc thẩm
đình chỉ giải quyết phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà H, bà O, ông N
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu kháng cáo của bà Đỗ Thị Nguyệt T4, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Xét yêu cầu đòi lại đất, không đồng ý nhận tiền: Tại cấp sơ thẩm, các
nguyên đơn đề nghị Tòa án buộc các ông bà Đỗ Thị Hoàng O và Đỗ Thị Thúy H
cùng những người ở trên đất di dời tài sản trả đất cho các ông bà thuộc phần thửa
19, 20 ( phần đất hướng tây) tờ bản đồ số 14 xã H, tỉnh Tây Ninh diện tích khoảng
3.300m
2
trên đất có mộ phần của ông Đỗ Ngọc P1.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2025/DS-ST ngày 22-7 -2025 nhận định, bà
O và bà H (con ông M) là người chiếm giữ phần đất của ông P1 phải trả lại quyền
sử dụng đất cho những người thừa kế của ông P1. Nội dung này, các nguyên đơn và
người có quyền nghĩa vụ liên quan, bà T4 không kháng cáo. Bị đơn và người liên
quan kháng cáo nhưng không có mặt tại phiên toà phúc thẩm, không có đơn xin giải
quyết vắng mặt nên cấp phúc thẩm không xem xét lại. Qua thẩm định thực tế tại cấp
sơ thẩm, bà O và bà H cất nhà kiên cố nằm giữa thửa 19 tờ bản đồ 14 xã H, không
di dời được, nếu di dời ảnh hưởng kiến trúc căn nhà nên cần buộc bà O và và H trả
lại trị giá quyền sử dụng đất cho những người thừa kế của ông P1 là ½ giá trị quyền
sử dụng đất thửa 19 tờ bản đồ 14 xã H với số tiền là 9.854.152.750 đồng (Chín tỷ
tám trăm năm mươi bốn triệu một trăm năm mươi hai nghìn bảy trăm năm mươi
đồng) là có cơ sở. Bà T4 kháng cáo yêu cầu trả đất, không đồng ý bồi thường cho bà
H, bà O. Tuy nhiên, phần đất tranh chấp là tài sản của ông P1, nay được xác định là
tài sản của các người thừa kế của ông P1. Những người thừa kế của ông P1 không
kháng cáo, ngoại trừ bà T4. Xét thấy, yêu cầu kháng cáo về việc buộc trả đất của bà
T4 không đại diện cho toàn bộ những người thừa kế và cũng không phù hợp với thực
tế nên không được chấp nhận.
10
Đối với thửa 20 tờ bản đồ 14 toạ lạc tại xã H với diện tích 611m
2
loại đất
nghĩa địa (có mộ ông P1 và người thân của bà O và bà H) nên các đương sự được kê
khai đăng ký đứng tên chung là phù hợp với đạo lý và thực tế. Cấp sơ thẩm tuyên
xử như trên là phù hợp.
[2.2]. Đối với yêu cầu độc lập của bà T4 về việc yêu cầu bà O, bà H bồi thường
1.700.000.000 đồng (Một tỷ bảy trăm triệu đồng): Bà T4 yêu cầu bà O, bà H bồi
thường 1.700.000.000 đồng (Một tỷ bảy trăm triệu đồng) là giá trị căn nhà do vợ
chồng ông P1 xây dựng từ năm 1959, bồi thường cây cối gồm xoài, mít, sầu riêng…
được trồng trên đất và bồi thường thiệt hại do gia đình bà nhiều năm không có nơi
ở: Xét thấy, tại cấp sơ thẩm bà T4 không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì chứng
minh cho yêu cầu này. Tại phiên toà phúc thẩm, bà T4 cũng không bổ sung thêm
được tài liệu chứng cứ. Như đã phân tích ở trên, phần đất tranh chấp thuộc quyền sử
dụng của ông Đỗ Ngọc P1, nay là của những người thừa kế của ông P1. Những người
thừa kế của ông P1 không yêu cầu bồi thường, ngoại trừ bà T4. Bà T4 không chứng
minh được thiệt hại của riêng bà nên không có căn cứ chấp nhận.
Từ những phân tích trên, xét thấy bản án sơ thẩm đã đánh giá đầy đủ và khách
quan. Không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bà Đỗ Thị Nguyệt T4.
[3] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà có cơ sở chấp nhận.
[4] Án phí phúc thẩm dân sự: Tiền tạm ứng án phí phúc thẩm do bà Đỗ Thị
Hoàng O, Đỗ Thị Thúy H và ông Đỗ Minh N nộp được sung công quỹ nhà nước. Bà
Đỗ Thị Nguyệt T4 không phải nộp án phí do thuộc trường hợp người cao tuổi có yêu
cầu xin miễn nộp tạm ứng án phí và án phí.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 5 Điều 308, 312 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà Đỗ Thị Hoàng
O, Đỗ Thị Thúy H và ông Đỗ Minh N.
2. Căn cứ khoản 1, Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Đỗ Thị Nguyệt T4.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2025/DS-ST ngày 22-7-2025 của
Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Tây Ninh.
3. Về án phí phúc thẩm: Áp dụng Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 18,
Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Sung công quỹ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tại
biên lai thu số 0002229 ngày 05/8/2025 do bà Đỗ Thị Hoàng O nộp; 300.000 đồng
(ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu số 0002232 ngày 05/8/2025 do bà Đỗ Thị Thúy
H nộp; 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tại lai thu số 0002365 ngày 06/8/2025
do ông Đỗ Minh N nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
11
Bà Đỗ Thị Nguyệt T4 được miễn nộp án phí phúc thẩm.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
của Luật Thi hành án dân sự.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tối cao tại TP.HCM;
- VKSND tối cao tại TP.HCM;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND Khu vực 3 - Tây Ninh;
- Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh;
- Đương sự;
- Phòng HCTP-TAND tỉnh TN;
- Phòng GĐ, TT, KT&THA.TANDTTN;
- Lưu. hồ sơ, lưu trữ, tập án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hoàng Thị Thuý Lành
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 21/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 19/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 18/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 14/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 13/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 12/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 11/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 11/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 08/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 08/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 07/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 07/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 07/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 06/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 06/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 06/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 06/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 06/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 06/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm