Bản án số 18/2026/HNGĐ-PT ngày 20/05/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 18/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 18/2026/HNGĐ-PT ngày 20/05/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 18/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/05/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Anh Nguyễn Văn L khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với chị Nguyễn Thị Đ và yêu cầu chia tài sản chung
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 18/2026/HNGĐ-PT
Ngày 20 - 5 - 2026
V/v Tranh chấp ly hôn, chia tài sản
chung khi ly hôn
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Trọng
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
- Thư phiên toà: Nguyễn Th- Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ: Phạm Ngọc Hoa -
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 15 tháng 5 và ngày 20 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân
tỉnh Phú Thọ (cơ sở B, phường V) xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số:
06/2026/TLPT-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2026, về việc “Tranh chấp ly hôn,
chia tài sản chung khi ly hôn”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 62/2025/HNGĐ-ST
ngày 29 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Phú Thọ
kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 14/2026/QĐ-PT
ngày 24 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1976; đa ch: Thôn H,
V, tnh Phú Th, (Có mt).
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn H, V,
tnh Phú Th, (Có mt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của Nguyễn Thị Đ: Ông
Nguyễn Văn T, sinh năm 1970 - Luật thuộc Văn phòng L6; địa chỉ: Số A,
đường N, phường V, tỉnh Phú Thọ, (Có mặt).
3. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu độc lập: Đỗ
Thị C sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn H, V, tỉnh Phú Thọ, (Vắng mặt, đơn
2
xin xử vắng mặt).
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Thị T1 (mchĐ) sinh năm 1941; địa chỉ: Thôn F, Đ,
tỉnh Gia Lai, (Vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị Đ1 sinh năm 1975 (chị gái chị Đ); địa chỉ: Thôn F,
Đ, tỉnh Gia Lai, (Vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt).
- ChNguyễn Thị T2 sinh năm 1980 (em gái chị Đ); địa chỉ: Thôn F,
Đ, tỉnh Gia Lai, (Vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt).
- Nguyễn Thị B (mẹ anh L), sinh năm 1934; địa chỉ: Thôn H, V,
tỉnh Phú Thọ, (Vắng mặt).
- Chị Nguyễn Hương L1 sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn V, phường V, tỉnh
Phú Thọ.
- Anh Nguyễn ng L2 sinh năm 2000; địa chỉ: Thôn H, V, tỉnh Phú
Thọ.
Người đại diện theo uỷ quyền của chị L1 anh L2: Chị Nguyễn Thị Đ,
sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn H, xã V, tỉnh Phú Thọ, (Có mặt).
5. Những người làm chứng:
- Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn F, xã Đ, tỉnh Gia Lai,
(Vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1962; Địa chỉ: Thôn V, V, tỉnh Phú
Thọ, (Vắng mặt).
- Anh n C1, sinh năm 1974; Địa chỉ: Thôn A, V, tỉnh Phú Thọ,
(Vắng mặt).
- Anh Nguyễn Đắc D, sinh năm 1977; Địa chỉ: Thôn C, V, tỉnh Phú
Thọ, (Vắng mặt).
- Anh Trương Trọng N, sinh năm 1974; Địa chỉ: Thôn D, V, tỉnh Phú
Thọ, (Vắng mặt).
- Ông Hoàng Văn M, sinh năm 1969; Địa chỉ: Thôn G, V, tỉnh Phú
Thọ, (Vắng mặt).
- Anh Ngô Hoàn S sinh năm 1971; Đa ch: S nhà G, Ngõ I, ngách A,
phường Đ, thành ph Hà Ni, (Vắng mặt).
6. Do có kháng cáo của: Bị đơn chNguyễn Thị Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
3
Tại đơn khởi kiện đề ngày 23/6/2025 cùng các lời khai tiếp theo tại
phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Văn L trình bày:
Anh chị Nguyễn Thị Đ kết hôn ngày 27 tháng 02 năm 1996, đăng
kết hôn tại UBND N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Nay V, tỉnh Phú
Thọ). Sau khi kết hôn hai vợ chồng về sống chung với gia đình anh, đến năm
2023 v chng sng ly thân.
Nguyên nhân mâu thun v chng phát sinh t năm 2019 - 2020, do v
chồng không tin ng nhau v kinh tế, ch Đ làm kinh doanh bán hàng đưc
tiền để riêng, không h tr anh v kinh tế; khoảng năm 2019 anh mua đất canh
tác của gia đình anh chị em rut nhà ch Đ, nhưng chị Đ và anh ch em nhà ch Đ
không công nhn việc anh mua đất không chia tr đất đã mua cho anh dn
đến v chng mâu thun. T đó đến nay v chồng đã nhiu ln xy ra mâu
thuẫn, không ai quan tâm đến ai, anh đi làm thợ xây thành ph Hà Ni, còn ch
Đ nhà bán hàng kinh doanh, t năm 2023 đến nay anh ch sng ly thân, cuc
sng v chng không tình cảm nên anh xác định tình cm v chng không
còn xin được ly hôn vi ch Đ.
- V con chung: V chng hai con chung Nguyễn Hương L1, sinh
năm 1998 (đã chng con riêng) Nguyn Công L2 sinh năm 2000 (sinh
viên). Ly hôn anh L không yêu cu Toà án gii quyết các con đã trưởng
thành.
- V tài sn chung: Vchồng còn tài sản chung duy nhất ngôi nhà xây
ba tầng làm trên thửa đất số 147, tờ bản đồ số 26 diện tích 122,8m
2
đã được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt GCNQSDĐ) đứng tên hộ ông
Nguyễn Văn L. Nguồn gốc đất của gia đình anh từ trước khi kết hôn với
chị Đ gia đình anh cho anh đại diện đứng tên. Ngoài ra, vợ chồng còn 01
chiếc xe ô nhãn hiệu ViOS BKS 88A 133.81 mua từ năm 2016, 01 cửa hàng
bán hàng tạp hoá, 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Future BKS 88S4- 8421 01 xe
máy nhãn hiệu Wave cùng các đồ dùng sinh hoạt gia đình theo như biên bản
định giá của Toà án, anh không có ý kiến gì.
Ngoài ra, anh L thừa nhận vợ chồng có mua 02 thửa đất ở Gia Lai từ năm
2009 - 2010 giá 240 triệu đồng 01 thửa đất đất Gia Lai mua với giá 80
triệu. Năm 2014 vợ chồng làm nhà chi phí hết 1.015.000.000đ, 2016 anh vay số
tiền 980 triệu của anh chị Sinh Ư để mua xe ô tô.
Năm 2018 vợ chồng bán 03 thửa đất ở tỉnh Gia Lai được số tiền 860 triệu,
anh đã sử dụng số tiền đó để trả nợ tiền làm nhà.
Cùng năm 2018 vợ chồng vay Quỹ tín dụng nhân dân Ngũ Kiên số
tiền 400 triệu đồng để mua thửa đất ở phường H với giá 760 triệu đồng, đến năm
4
2022 bán được 1.600.000.000đ, anh sử dụng tiền vào việc trả nợ anh chị Sinh
Ưng số tiền 980 triệu, trả Quỹ tín dụng 400 triệu đồng, cho con gái 200 triệu
đồng để làm nhà.
Năm 2021 vợ chồng anh vay Ngân hàng B2 chi nhánh Y số tiền
1.700.000.000đ để mua 01 thửa đất số 817 ở T với giá 1.490.000.000đ, đến năm
2023 vợ chồng đã bán thửa đất đó cho ông Nguyễn Văn B1 với giá
1.300.000.000đ, số tiền đó anh đã sử dụng để trả nợ Ngân hàng B2, do không đủ
tiền trả nợ Ngân hàng nên anh đã vay thêm của anh Hoàng Văn M số tiền 400
triệu đồng để trả nợ Ngân hàng B2.
Đối với thửa đất số 816 T do mấy anh em mua chung nhau (bao gồm
anh Nguyễn Đắc D, anh Văn C1, anh Trương Trọng N con gái anh góp
tiền) nhờ anh đứng tên hộ, mỗi người góp 200 triệu đồng để mua đất với giá 800
triệu đồng, sau đó bán cho ông Phùng Đình D1 bố của anh Phùng Đình C2
với giá 1 tỷ đồng, số tiền bán đất đã được chia đều cho 4 người, mỗi người được
250 triệu đồng.
Nguồn gốc tiền để mua sắm tài sản là do anh đi làm có tiền để đầu tư mua
sắm xong lại bán tài sản để đầu tư, toàn bộ số tiền bán đất đến nay không còn vì
hiện nay anh đã đầu làm trang trại trên đất canh tác của gia đình chị Đ, hiện
hai bên chưa giải quyết xong. Do vậy anh không yêu cầu giải quyết đối với số
tiền bán đất vì hiện nay không còn tiền. Nếu chị Đ yêu cầu chia tài sản là số tiền
bán đất nói trên thì anh yêu cầu chia đôi số nợ 1.700.000.000đ anh đã vay
của Ngân hàng B2 và số nợ 400 triệu đồng anh đã vay của anh M để lấy tiền trả
nợ cho Ngân hàng. Tổng nợ là 2.100.000.000đ.
Nếu chị Đ không yêu cầu giải quyết số tiền bán đất, thì anh cũng không
yêu cầu chị Đ phải gánh công nợ anh đã trả khi bán tài sản sự đồng ý
của cả hai vợ chồng anh sdụng tiền đđầu làm ăn trả nợ nên chị Đ
cũng phải có trách nhiệm cùng anh. Ly hôn anh L yêu cầu giải quyết tài sản theo
hướng anh xin sử dụng Nhà xây ba tầng, xe ô , 01 chiếc xe máy nhãn hiệu
Futrure, bàn ghế, tranh treo tường bằng đồng, để chị Đ sử dụng 01 chiếc tivi
chiếc xe máy WAVE quản lý, sdụng toàn bộ số hàng hoá mà chị Đ đang
bán hàng tạp hoá. Anh tự nguyện thanh toán trả chị Đ số tiền 1/2 gtrị tài sản
nói trên. Đối với quyền sử dụng đất anh nhất trí chia làm 5 phần, anh sẽ thanh
toán trả chị Đ giá trị quyền sử dụng đất là 1/5 bằng tiền để chị Đào tạo L3 nơi ở
mới do đất là của ông cha để lại không phải vợ chồng mua sắm được. Anh
xin sử dụng đất và thanh toán tiền chênh lệch cho chĐ.
Về đất canh tác: Anh Nguyễn Văn L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về ng nợ: Do anh L đã bán tài sản trả hết các khoản nợ nên đến nay
5
không còn nợ của ai. Ly hôn anh L không yêu cầu Toà án giải quyết vcông
nợ. Về công sức: Anh L không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về chi phí tố tụng: Trong thời hạn giải quyết vụ án anh L đã nộp tiền chi
phí cho việc xem xét thẩm định định giá tài sản. Anh L không yêu cầu các
đương sự trong vụ án thanh toán chi phí tố tụng cho anh.
V án phí: Anh L yêu cu Toà án gii quyết theo quy định pháp lut.
B đơn chị Nguyn Th Đ trình bày: Về thời gian kết hôn, quá trình chung
sống theo như anh L đã trình bày đúng. Năm 2023 vchồng phát sinh mâu
thuẫn và sng ly thân t đó cho đến nay, v nguyên nhân mâu thun v chng
do anh L làm nhà trên phần đất canh tác mượn ca b m chị, nhưng chị không
đồng ý vì lý do đó là đt ca m ch, khi các anh ch bán đất cho anh L không có
s đồng ý ca m ch, nên m ch không nhất trí giao đt. T đó đến nay v
chng xy ra mâu thun nhiu ln, ch đã nhiều ln mong mun hàn gn tình
cm v chồng nhưng anh L không đồng ý. Nay anh L xin ly hôn thì quan điểm
ch cũng đồng ý ly hôn và yêu cu Toà án gii quyết cho được ly hôn.
V con chung: V chồng hai con chung như anh L đã trình bày trên.
Ly hôn ch Đ không yêu cu Toà án gii quyết vì các con đã trưởng thành.
V tài sn chung: Toàn b tài sản chung theo như anh L đã trình bày
trên. Ngoài ra, v chng còn tài sn toàn bộ số tiền bán đất bao gồm: 03
thửa đất mua ở tỉnh Gia Lai mua từ năm 2009 với giá 320 triệu đồng, sau đó anh
L đã u quyền cho em trai chị là Nguyễn Hữu P1 đứng ra bán hộ được
1.020.000.000đ.
01 thửa đất phường H mua năm 2018, sau đó anh L bán được khoảng
1.600.000.00để mua 02 thửa đất H, huyện T (cũ) sau đó anh L đã bán
được hơn 3 tỷ đồng (số tiền cụ thchị không biết mà do anh L nói lại với chị
bán được hơn 3 tỷ đồng).
Việc làm nhà, mua xe ô tô là do vợ chồng tích cóp có tiền không phải vay
của ai. Chị thừa nhận có vay số tiền 400.000.000đ của Quỹ tín dụng nhân dân
N và vay của Ngân hàng B2 số tiền 1.700.000.000đ nhưng hiện nay đã trả nợ (số
tiền vay Ngân ng để mua đất trả nợ Quỹ tín dụng), do vậy đến nay v
chồng không nợ chung của Ngân hàng. Toàn bộ số tiền bán đất anh L cầm
và sử dụng chi tiêu riêng, chị không được sử dụng.
Ly hôn, chị Đ yêu cầu phân chia toàn bộ tài sản chung của vợ chồng, c
thể: Về đất chia bằng hiện vật làm năm phần bao gồm vợ chồng chị, hai con
chung manh L, đối với toàn bộ tài sản trên đất bao gồm nhà xây ba tầng,
các tài sản do vợ chồng mua sắm được, cũng như tiền bán đất chđề nghị chia
6
làm đôi, chị xin sdụng nhà đất, các đồ dùng sinh hoạt chị nhất tgiao cho
anh L sử dụng 01 xe máy FUTURER, tranh treo tường bằng đồng, bàn ghế đồng
kỵ, xe ô tô, còn lại chị xin được sử dụng 01 chiếc tivi và chiếc xe máy WAVE a,
số tiền bán đất anh L đã cầm sử dụng riêng thì phải trách nhiệm thanh toán
trả chị 1 giá trị tài sản. Nếu được sử dụng nhà đất chị sẽ thanh toán trả anh L giá
trị đất 25.000.000đồng/m
2
. Trường hợp chị không được sử dụng đát thì chị
yêu cầu anh L phải thanh toán trả chị giá trị đất ở là 25.000.000đ/m
2
.
Ngoài ra, chị Đ còn đơn yêu cầu giải quyết số tiền vàng mừng cưới
con, cụ thể: Số tiền mừng cưới con gái tổng 114.400.000đ theo bảng danh
sách do anh L tự viết, chi phí cho việc tổ chức cưới con hết 58.000.000đ số tiền
còn lại 56.400.000đ là do anh L cầm sử dụng việc riêng chị không biết. Số vàng
mừng cưới con gái bao gồm: Mẹ đẻ chị là bà Nguyễn Thị T1 mừng 03 chỉ vàng,
chị gái chị là Nguyễn ThĐ1 em gái chị Nguyễn Thị T2 mỗi người
01 chỉ vàng. Tổng cộng là 05 chỉ vàng.
Ly hôn, chị yêu cầu anh L phải có trách nhiệm nghĩa vụ thanh toán trả chị
1 số tiền mừng cưới, thanh toán trả chị 1 giá trị vàng nói trên để chị trách
nhiệm mừng lại khi gia đình công việc. Tại phiên toà chị Đ yêu cầu Toà án
giải quyết số tiền vợ chồng cho em trai chị là anh Nguyễn Hữu P1 vay số tiền 50
triệu đồng, năm 2024 anh P1 đã chuyển khoản trả vào tài khoản riêng của anh L
số tiền trên, quá trình chung sống vợ chồng mừng anh chị Minh N1 làm nhà
số tiền 30 triệu đồng. Nay ly hôn chị yêu cầu chia đôi số tiền nói trên, anh L
phải có nghĩa vụ thanh toán trả chị 1 số tiền nói trên.
Anh Nguyễn Văn L thừa nhận số tiền do anh em họ hàng mừng cưới cho
con gái theo như chị Đ đã trình bày đúng, còn về số vàng mẹ các chị em
gái gia đình chị Đ cho con gái như thế nào anh không biết; việc chi phí cho đám
cưới là anh đứng ra lo cho con, sau đó tiền mừng cưới anh đã trả các khoản chi
phí đám cưới không đủ, anh tự trả bằng tiền của anh nên anh không đồng ý với
yêu cầu chia số tiền mừng cưới của chị Đ. Về svàng theo yêu cầu của chị Đ,
anh L không đồng ý vì anh không được biết và đó không phải là khoản nợ mà do
mọi người tự nguyện tặng cho con gái cháu Nguyễn Hương L1 hiện nay
cháu L1 vẫn đang quản lý, sử dụng số vàng nói trên.
Về số tiền do anh P1 nợ chuyển khoản trả từ năm 2024 cũng như tiền
mừng làm nhà cho anh chị MInh Nhung số tiền 30 triệu đồng, sau đó anh chị đã
trả từ năm 2023 đến nay, toàn bộ số tiền đó anh đã sử dụng vào việc chi tiêu gia
đình, đóng học cho con hàng năm nên không còn số tiền nói trên. Ly hôn anh
không đồng ý yêu cầu của chị Đ về việc chia số tiền nói trên vợ chồng đã chi
tiêu việc chung của gia đình.
7
Về đất canh tác: Chị Nguyễn Thị Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ: Chị Nguyễn Thị Đ không yêu cầu Toà án giải quyết đã
thanh toán trả hết các khoản nợ. Ngày 09/12/2025 chị Nguyễn Thị Đ nộp giấy
vay nợ đề ngày 25/12/2024 của Đỗ Thị C nhưng đến nay C đã đơn xin
rút yêu cầu độc lập thì chị Đ cũng hoàn toàn nhất trí không yêu cầu đề
nghị gì đối với khoản vay của bà Đỗ Thị C.
Về công sức: Chị Đ không yêu cầu Toà án giải quyết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Nguyễn Thị B trình bày: Bà
mẹ của anh Nguyễn Văn L. Năm 1996 anh L kết hôn với chị Nguyễn Thị Đ, sau
đó chung cùng vợ chồng đến năm 2004 chồng chết, bà cùng vchồng
Lệ Đ2, do chị Đ2 đối xử không tốt với nên phải về cùng vợ chồng con trai
lớn, từ năm 2004 cho chị Đ2 bán quán trên đất của vợ chồng bà, hàng ngày
bán hàng hộ chị Đ2 nhưng chị Đ2 không cho tiền cũng không trách
nhiệm gì với bà. Nay anh chị không với nhau thì không ý kiến do
anh chị tquyết định. Về thửa đất thổ của gia đình chồng bà khoảng 12
thước đất thổ cư, từ khi chồng còn sống thì gia đình đã thống nhất là cắt
chia cho hai con trai Nguyễn n L4 (anh trai anh L) anh Nguyễn Văn L,
mỗi người một phần diện tích đất, sau đó các con đã làm thủ tục xin cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên các con trai của bà. Vợ chồng cho
con trai đất, không cho con dâu và cũng không cho các cháu. Hiện nay vợ chồng
anh L đã làm nhà trên đất nhưng tiền làm nhà do con trai đi làm Nội
tiền gửi về để làm nhà, con dâu bà chị Đ2 không đóng góp gì. Nay anh
chị ly hôn liên quan đến tài sản của gia đình thì quan điểm bà đề nghị Toà
án giải quyết theo quy định pháp luật, nếu phải chia tài sản là quyền sử dụng đất
chung của hộ gia đình, phần diện tích đất bà được chia thì bà cho con trai anh
Nguyễn Văn L được quyền sử dụng.
Tại phiên toà bà Nguyễn Thị T1 vắng mặt, tại bản tự khai đề ngày
04/11/2025 Nguyễn Thị T1 trình bày: mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị Đ,
năm 2019 khi vợ chồng anh L chị Đ tổ chức cưới con gái cháu Nguyễn
Hương L1, bà đã vay mượn và tiết kiệm được tiền mua 01 lắc đeo tay trọng
lượng 03 chỉ vàng 9999 để mừng cho cháu L1. Nay anh L chị Đ ly hôn,
liên quan đến việc phân chia tài sản, bà yêu cầu anh L phải có trách nhiệm trả
chị Đ 1/2 số vàng trên, sau này chị Đ phải trách nhiệm trả 03 chỉ vàng
9999 đã mừng cho cháu L1. Do sức khoẻ, tuổi cao khoảng cách địa
xa xôi nên bà đề nghị Toà án xét xử vắng mặt bà.
Tại phiên toà Nguyễn Thị T2 Nguyễn Thị Đ1 đều vắng mặt, tại
bản tkhai đề ngày 04/11/2025 bà Nguyễn Thị T2 Nguyễn Thị Đ1 đều
8
trình bày: Các chị gái em gái của chị Nguyễn Thị Đ, năm 2019 khi vợ
chồng anh L chị Đ tổ chức cưới con gái là cháu Nguyễn Hương L1, Bà T2
Đ1, mỗi người trao cho cháu L1 ch01 nhẫn vàng đeo tay trọng lượng
01 chỉ vàng 9999 để mừng cho cháu L1. Theo phong tục tập quán tại địa phương
khi bố mẹ đứng ra lo tổ chức cưới hỏi cho con, người thân, bạn bè, hàng xóm
đến chúc mừng cho hạnh phúc của con mình bằng tiền hay vàng thì sau này bố
mẹ phải trách nhiệm trả nợ thay cho con. Nay anh L và chị Đ ly hôn, liên
quan đến việc phân chia tài sản, các bà yêu cầu anh L phải có trách nhiệm trả chị
Đ 1/2 số vàng trên, sau này chị Đ phải trách nhiệm trả T2 và bà Đ1 số
vàng mà các đã mừng cưới cho cháu L1. Do bận công việc khoảng cách
địa lý xa xôi nên các bà đề nghị Toà án xét xử vắng mặt bà.
Tại phiên toà, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là
Đỗ Thị C vắng mặt, tuy nhiên tại phiên tngày 12/12/2025 Đỗ Thị C
trình bày: Ngày 25/12/2024 cho chị Nguyễn Thị Đ (là cháu gọi bằng cô)
vay stiền 500 triệu đồng, khi cho vay hai bên viết giấy vay tiền, chị Đ
nói là vay để giúp con gái là cháu Nguyễn Hương L1 trả nợ tiền Ngân hàng (Chị
L1 vay tiền Ngân hàng để làm nhà), việc vay tiền chỉ chị Đ biết,
cũng không nói lại cho anh L được biết. Ngày 15/12/2025 C đơn yêu cầu
độc lập đề nghị Toà án giải quyết buộc anh L chị Đ phải trách nhiệm trả
số tiền 500 triệu đồng nói trên. Tuy nhiên, ngày 23/12/2025 Đỗ Thị C đã
đơn xin rút toàn bộ yêu cầu độc lập của mình do chị Đ đã nhận trách
nhiệm trả nợ cho bà số tiền trên.
Những người làm chứng vắng mặt tại phiên toà nhưng bản tự khai
biên bản lấy lời khai như sau:
Anh Nguyễn Văn P trình bày: Anh em trai của chị Nguyễn Thị Đ, vợ
chồng anh chị L7 mua được 03 mảnh đất tỉnh Gia Lai, năm 2018 vợ chồng
anh chị đã uỷ quyền cho anh bán hộ một mảnh đất được số tiền 140 triệu đồng,
năm 2020 anh tiếp tục bán hộ anh chị 02 mảnh đất cho anh Đình C3 quê
Nam Định được số tiền 880 triệu đồng. Tổng số tiền anh bán đất hộ anh chị hai
lần được 1.020.000.000đ và anh đã đưa trực tiếp anh L là người nhận tiền.
Ông Nguyễn Văn B1 trình bày: Ông anh dể của anh Nguyễn Văn L.
Khoảng năm 2023 ông nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất với anh
Nguyễn Văn L chị Nguyễn Thị Đ đối với thửa đất số 817, tờ bản đồ số 6 diện
tích 100m
2
địa chỉ Khu G, H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) với giá
1.300.000.000đ. Khi nhận chuyển nhượng hai bên lập Hợp đồng chuyển
nhượng đề ngày 04/12/2023 tại Văn phòng C5, tỉnh Vĩnh Phúc. Theo Hợp đồng
thì hai bên thoả thuận số tiền chuyển nhượng là 400 triệu đồng nhưng thực tế hai
bên nhận chuyển nhượng 1.300.000.000đ. Ông đã trả đủ số tiền trên cho anh
9
L cầm tiền anh L được nhận uỷ quyền của chị Đ nên chỉ anh L giao dịch
với ông. Sau khi chuyển nhận chuyển nhượng ông đã làm thủ tục sang tên
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Nguyễn Văn B1.
Sau đó khoảng 01 m tông cần tiền nên đã bán lại thửa đất trên cho người
khác nên hiện nay ông không sử dụng thửa đất đó nữa. Nay ông khẳng định việc
hai bên chuyển nhượng đất thật hai bên chuyển nhượng với giá
1.300.000.000đ là đúng.
Anh Văn C1, anh Nguyễn Đắc D anh Trương Trọng N đều trình
bày: Các anh đều bạn của anh Nguyễn Văn L, khoảng năm 2022 các anh
cùng nhau góp vốn để đầu tư mua đất ở T - Vĩnh Phúc cũ. Khi đi mua đất các
anh cùng nhau đi xem cùng nhau góp tiền để mua đất, cụ thể gồm Nguyễn
Văn L (đứng hộ con gái Nguyễn Hương L1), Nguyễn Đắc D, Văn C1
Trương Trọng N, mỗi người đóng góp 200triệu đồng, tổng cộng 800triệu
đồng. Khi mua đất các anh để vợ chồng Lệ Đ2 đứng tên vi lý do đều là bạn cùng
nhau nên cũng tin tưởng nhau. Khi mua chung bản thân chị Đ2 biết hay
không thì các anh không nhưng bản thân chị L1 con gái của anh lệ chị Đ2
cũng góp tiền mua đất chung nhau nên thể chị Đ2 cũng phải biết. do con
gái anh L góp tiền anh L không tiền mua đất nên đã đứng ra góp cùng
các anh mua đất, số tiền mà anh L góp của chị L1 (con gái anh L). Đến
khoảng tháng 3/2024 thì anh L đứng ra bán đất cho gia đình anh C2 (hợp đồng
do ông Phùng Đình D1 người nhận chuyển nhượng) được số tiền 1 tỷ đồng,
số tiền bán đất nói trên sau khi nhận được tiền thì các anh cùng nhau chia nhau
tiền mỗi người được 250triệu đồng, các anh đã nhận lại tiền mua đất, còn tiền
của chị D2 anh L cầm, anh L có đưa chL1 hay không thì các anh không rõ.
Nay các anh đều khẳng định việc mua đất chung nhau và bán đất, chia nhau tiền
là có thật.
Anh Nguyễn Hoàn S1 trình bày: Anh anh em kết nghĩa với anh L,
khoảng năm 2010 - 2011 anh Nguyễn Văn L hỏi vay anh số tiền 100 triệu
đồng nên anh đưa anh L vay số tiền 100 triệu đồng, đến năm 2016 anh L vay
tiếp anh số tiền 980 triệu đmua xe ô tô. Khi vay thì hai bên chỉ nói miệng,
không văn bản giấy tờ cũng không thoả thuận về lãi suất. Đến
khoảng năm 2022 anh L đem tiền trả cho anh tổng số tiền 1.080.000.000 đ,
anh L nói do bán được đất nên đã đem tiền trả nợ cho anh. Đến nay anh L
đã trả hết nợ cho anh nên không còn nợ gì nữa.
Ông Hoàng Văn M trình bày: Ông anh dể của anh Nguyễn Văn L.
Khoảng năm 2020 ông cho anh L vay số tiền 300 triệu đồng, khi vay anh L nói
vay để mua đất nông nghiệp của gia đình, vì là anh em trong gia đình nên hai
bên không làm văn bản giấy tờ gì và cũng không thoả thuận gì về lãi suất và thời
10
hạn vay, khi nào có thì trả. Đến khoảng tháng 3/2025 anh L tiếp tục hỏi vay ông
số tiền 400 triệu đồng để trả nợ cho Ngân hàng do anh L vay tiền ngân
hàng nên cần tiền để trả nợ, do vậy anh đã đứng ra Hợp đồng vay tiền của
Ngân hàng N2 chi nhánh V - phòng G để vay số tiền 500 triệu đồng, ông đưa
anh L vay lại số tiền 400tr còn lại ông sử dụng 100 triệu đồng, hàng tháng anh L
nộp lãi số tiền 400 triệu gốc (anh L nộp trực tiếp tại Ngân hàng). Như vậy anh L
đã vay của anh tổng số tiền 700 triệu đồng. Hiện nay anh L vẫn còn nợ tiền của
ông chưa trả nhưng ông không yêu cầu Toà án giải quyết mà để hai anh em tự
giải quyết với nhau về số nợ trên. Ông cũng không yêu cầu chị Đ2 phải trả
khoản nợ trên.
Xác minh tại UBND V ngày 05/11/2025 cho biết: Về tình cảm vợ
chồng con chung như anh chị đã trình bày trên, quan điểm địa phương đề
nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật. Về tài sản chung của anh L
chị Đ2: Hiện nay ở địa phường có nhìn thấy anh chị đang sử dụng tài sản là thửa
đất số 147, tờ bản đồ số 26 diện tích 122,8m
2
, đã được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đứng tên hộ ông Nguyễn Văn L. Trên đất có 01 nhà xây ba
tầng của vợ chồng anh chị Lệ Đào xây dựng. Hàng ngày anh L đi làm xây dựng
nên ít khi mặt nhà, còn chị Đ2 mở cửa hàng kinh doanh bán hàng tạp hoá
tại nhà. Còn lại các anh chị những tài sản thì địa phương chúng tôi không
rõ. Đối với việc anh chị mua sắm được những tài sản bán tài sản như thế
nào trong thời gian chung sống thì địa phương không biết. Về nguồn gốc thửa
đất số 147, tờ bản đồ số 26 diện tích 122,8m
2
của gia đình anh L từ trước
khi anh L kết hôn với chị Đ2. Căn cứ theo sổ mục thể hiện: Thửa đất số 33,
tờ bản đồ số 05 diện ch 294 m
2
đứng tên chủ sử dụng ông Nguyễn Văn L5
(bố đẻ anh Nguyễn Văn L). Căn cứ theo bản đồ 299 thể hiện: Thửa đất số 33, tờ
bản đồ số 05 diện tích 294m
2
; Căn cứ theo scấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thể hiện: năm 2004 gia đình ông L5 đã tách thửa đất số 33, tờ bản đồ số
05 diện tích 294m
2
thành 2 thửa cụ thể: Thửa số 33 diện tích 130m
2
đứng tên
anh Nguyễn Văn L và thửa số 33a, tờ bản đồ 05 diện tích 164m
2
đứng tên
Nguyễn Thị B (mẹ đẻ anh Nguyễn Văn L). Căn cứ bản đồ VN 2000 thể hiện:
Thửa số 147, tờ bản đồ số 26 diện tích 122,8m
2
đứng tên hộ ông Nguyễn Văn L
ngày 05/10/2020. Thửa s145 tờ bản đồ số 26 diện tích 165,8m
2
đứng tên anh
Nguyễn Mạnh T3 (cháu trai của anh Nguyễn Văn L, do Nguyễn Thị B tặng
cho sang tên đất) Lý do diện tích đất có sự thay đổi là vì năm 2010 Nhà nước có
quyết định thu hồi 1 phần diện tích đất để làm đường trong đó thửa đất đứng
tên anh L bị thu hồi diện tích 7,2m
2
. Do vậy diện tích đất còn lại 122,8m
2
.
Ngày 05/7/2021 Công an N (nay là Công an V) đã xác nhận về hộ gia
đình anh Nguyễn Văn L bao gồm Nguyễn Thị B (mẹ anh L) vợ chồng anh
Nguyễn Văn L, chị Nguyễn Thị Đ cùng hai con Nguyễn Hương L1
11
Nguyễn Công L2. Căn cứ vào đồ hiện trạng thửa đất do công ty cổ phần Đ3
đo ngày 12/9/2025 thể hiện thửa đất đứng tên ông Nguyễn Văn L diện tích
theo hiện trạng 126,1m
2
trong đó diện tích nằm trong GCNQSDĐ đứng tên
ông Nguyễn Văn L 121,9m
2
(thiếu 0.9m
2
) và phần diện tích đất nằm ngoài
giấy chứng nhận là 4.2m
2
(phần diện tích đất này là lo gia đình ông Nguyễn Văn
L lấn ra đường ngõ xóm). Đối với phần diện tích đất này UBND V sgiải
quyết bằng con đường hành chính, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án
này. Trường hợp nếu phải chia tài sản quyền sử dụng đất của vợ chồng anh L
chĐ thì Tòa án xem xét phân chia trong phạm vi diện tích đất được giao đứng
tên anh L. Về công nợ anh chị nợ của ai hay cho ai vay tài sản thì địa
phương không rõ. Do vậy việc ly hôn giữa anh L chị Đ liên quan đến tài sản
của anh chị thì quan điểm địa phương đề nghị Toà án giải quyết theo quy định
pháp luật.
Ngày 12/9/2025 Toà án nhân dân dân Khu vực 10 - Phú Thọ đã tiến hành
xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, anh L và chị Đ cũng tự thống nhất
giá trị đối với tài sản cụ thể như sau: 01 chiếc xe máy BKS 88S4-8421, 01 chiếc
me xáy nhãn hiệu Wavea BKS 88H3-6503 anh L chĐ tự thống nhất giá trị
mỗi chiếc xe 5 triệu đồng; 01 ti vi nhãn hiệu SoNy 55 inh trị g3.000.000đ;
01 bức tranh đồng treo tường trị giá 10 triệu đồng, 01 xe ô nhãn hiệu VIOS
BKS 88A- 13381 trị g300 triệu đồng; 01 nhà xây ba tầng diện tích sử dụng
247,8m
2
trị giá 600.000.000đ, 01 bộ bàn ghế đồng kỵ trị giá 50 triệu đồng,
quyền sử dụng đất trị giá 10.000.00đ/m
2
. Đối với quyền sử dụng đất thửa đất số
147, tbản đồ số 26 diện tích 122,8m
2
(theo giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất), qua kiểm tra đo đạc thực tế có diện tích là 121,9m
2
(có sơ đồ kèm theo).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho chị Nguyễn Thị Đ trình bày:
Căn cứ vào các lời khai của đương sự, biên bản xác minh của Toà án đề nghị
Hội đồng xét xxem xét giải quyết cho anh L chị Đ được ly n, về con
chung anh L chị Đ đều không yêu cầu Toà án giải quyết các con đã thành
niên. Về việc phân chia tài sản chung của anh L chị Đ đnghị Hội đồng xét
xử áp dụng khoản 5 Điều 59 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, khoản 1, 2 Điều
5, khoản 1 Điều 102, khoản 1, 2 Điều 212 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 25
Điều 3 luật đất đai năm 2024 để phân chia tài sản chung cụ thnhư sau: Về
quyền sử dụng thửa đất số 147, tờ bản đồ số 26 diện tích 122,8m
2
được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ ông Nguyễn Văn L được chia làm 5
phần cho 5 thành viên hộ gia đình bao gồm: anh L, bà B, chị Đ và hai con chung
cháu L1 cháu L2, về giá trị quyền sử dụng đất theo Hội đồng định giá
10.000.000đ/m
2
nhưng theo giá thực thế chuyển nhượng 25.000.000đ/m
2
; Về
nhà xây ba tầng trị giá 600 triệu đồng chia làm hai phần mỗi người 300 triệu
12
đồng, đối với các tài sản đồ dùng do vợ chồng mua sắm được bao gồm: bức
tranh đồng trị giá 10 triệu đồng anh L sử dụng thanh toán trả chị Đ 5 triệu
đồng, bộ bàn ghế uống nước trị giá 50 triệu đồng anh L sử dụng thanh toán
trả chị Đ 25 triệu đồng, 01 chiếc xe ô trị giá 300 triệu đồng anh L sử dụng
thanh toán trả chị Đ 150 triệu đồng. Ngoài ra, theo phong tục tập quán tại địa
phương thì anh L còn phải thanh toán trả chị Đ số tiền bao gồm: Năm 2015 vợ
chồng giúp anh chị Nhung M1 làm nhà 30 triệu đồng (anh L phải thanh toán trả
chị Đ 15 triệu đồng), năm 2024 anh P chuyển khoản trả nợ anh L 50 triệu đồng
(anh L phải thanh toán trả chị Đ 55 triệu đồng), năm 2019 anh L chị Đ tổ
chức cưới con gái cháu L1 được số tiền mừng cưới 114.400.000đ (chi phí
cưới hết 58.000.000đ, số còn lại là 56.400.000đ (anh L phải thanh toán trả chị Đ
28 triệu đồng) 05 chỉ vàng do người thân nhà chị Đ mừng cưới cháu L1 tại
thời điểm m 2019 trị giá 70 triệu đồng (anh L phải thanh toán trả chị Đ 35
triệu đồng).
Đối với số tiền bán đất bao gồm: số tiền bán 03 thửa đất tại tỉnh Gia Lai là
1.020.000.000đ (anh L phải thanh toán trả chị Đ 510 triệu đồng), đối với 02 thửa
đất H anh L đã bán được số tiền 3.100.000.000đ, chị Đ không được sử
dụng số tiền trên nên anh L phải thanh toán trả chi Đào 1.550.000.000 đ.
Để đảm bảo quyền lợi cho chị Đ người phụ nữ không nơi ăn nào
khác, hiện nay cháu L2 con trai chưa lấy vợ đang cùng chị Đ, bản thân anh
L thường xuyên đi làm xa nhà nên đề nghị giao cho chị Đ sử dụng nhà và đất, về
chênh lệch tài sản các bên sẽ thanh toán bằng tiền.
Với nội dung trên, tại Bản án số 62/2025/HNGĐ-ST ngày 29/12/2025 của
Toà án nhân dân khu vực 10 - Phú Th đã căn cứ vào các Điều 51, 56, 29, 33,
59, 62 của Luật Hôn nhân Gia đình; khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 147
244 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 357 Điều 468 của Bộ luật Dân sự
năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản s
dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:
Về tình cảm: Cho anh Nguyễn Văn L được ly hôn với chị Nguyễn Thị Đ.
Về con chung: Anh Nguyễn Văn L chị Nguyễn Thị Đ không yêu cầu
Toà án giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ:
Đình chỉ yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Đỗ Thị C đối với yêu cầu buộc anh L và chị Đ trả nợ.
Giao cho anh Nguyễn Văn L được quyền sử dụng thửa đất số 147, tờ bản
13
đồ số 26, diện tích theo GCNQSD đất đã cấp là 122,8m
2
(diện tích đất thực đo là
121,9m
2
) (có đồ chi tiết kèm theo) quyền sở hữu tài sản bao gồm: 01 nhà
xây ba tầng làm trên thửa đất nói trên; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Future BKS
88S4-8421, 01 xe đạp thể thao, 01 bức tranh đồng treo tường, 01 bộ bàn ghế
đồng kỵ 01 xe ô nhãn hiệu VIOS BKS 88A - 13381. Giao cho chị Đ sở
hữu 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Wave α BKS 88H3 - 6503, 01 chiếc ti vi số
hàng tạp hoá tại cửa hàng bán tạp hoá.
Anh L thanh toán chênh lệch giá trị tài sản bằng tiền cho chị Đ số tiền
722.300.000đ.
Về công sức và đất canh tác: Anh Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị Đ tự
nguyện không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ngoài ra bản án thẩm còn tuyên về án phí, quyền yêu cầu thi hành án
và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 12/01/2026 chị Đ đơn kháng cáo có nội dung: Không đồng ý với
một phần của bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm sửa một phần bản án
thẩm về tài sản chung. Tại phiên tòa phúc thẩm ch Đ giữ nguyên nội dung
kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; các đương sự
đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đề nghị
Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của chị Đ. Căn cứ khoản 2 Điều
308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa một phần Bản án số 62/2025/HNGĐ-ST
ngày 29/12/2025 của Toà án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ theo hướng ghi
nhận sự tự nguyện của anh L giải quyết quyền lợi của anh L2 chị L1 ngay
trong vụ án buộc anh L thanh toán giá trị bằng tiền cho anh L2, chị L1 mỗi
người số tiền 243.800.000đ. Về án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của chị Đ làm trong hạn luật định, đơn
hợp lệ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận để xem xét giải quyết theo trình tự
phúc thẩm.
[1.1]. Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Nguyễn
14
Thị T1, chị Nguyễn Thị Đ1 chị Nguyễn Thị T2, Nguyễn Thị B, anh
Nguyễn Công L2; những người làm chứng anh Nguyễn Hữu P1, ông Nguyễn
Văn B1, anh Văn C1, anh Nguyễn Đắc D, anh Trương Trọng N, ông Hoàng
Văn M, anh Ngô Hoàn S được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng
mặt, căn cứ khoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét
xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
[1.2]. Quá trình giải quyết tại cấp thẩm, các đương sự yêu cầu chia
tài sản chung Toà án cấp thẩm thực hiện việc phân chia tài sản chung của
hộ gia đình anh L quyền sử dụng 121,9m
2
đất, thửa số 147, tờ bản đồ số 26
làm 5 phần cho bà B (mẹ anh L), chị Đ, anh L, hai con L2L1. Tuy nhiên, cấp
thẩm không buộc anh L phải thanh toán kỷ phần cho anh L2 chị L1 ngay
trong vụ án tách ra giải quyết bằng 1 vụ án khác không đúng, cần nghiêm
túc rút kinh nghiệm. Tại cấp phúc thẩm, anh L có đơn trình bày tự nguyện thanh
toán giá trị bằng tiền mà chL1 anh L2 được hưởng đề nghị Tòa án giải
quyết ngay trong vụ án; chị Đ (đại diện theo ủy quyền của chị L1 anh L2)
cũng đề nghị Toà án giải quyết việc phân chia tài sản, giải quyết quyền lợi của
hai con liên quan đến thửa đất là tài sản chung của hộ gia đình ngay trong vụ án
xem xét ngay tại cấp phúc thẩm. Trên sở đề nghị của các bên tại cấp phúc
thẩm, để đảm bảo vụ án giải quyết triệt để, tránh phát sinh tranh chấp kéo dài
không cần thiết, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận giải quyết ngay trong vụ
án và xem xét giải quyết tại cấp phúc thẩm.
[1.3]. Đối với nội dung kháng cáo đề nghị xem xét số tiền 35.000.000đ
tiền vàng 28.000.000đ tiền mừng cưới của con. Tại phiên tòa phúc thẩm chị
Đ xin tự nguyện rút nội dung yêu cầu này, xét thấy việc rút yêu cầu này của chị
Đ là tự nguyện nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2]. Về nội dung, xét yêu cầu kháng cáo của chị Đ đề nghị Toà án phúc
thẩm sửa bản án thẩm, buộc anh L thanh toán cho chị ½ số tiền bán ba thửa
đất Gia Lai hai thửa đất s816 817, Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với
nội dung kháng o yêu cầu chia số tiền bán 03 thửa đất tại Gia Lai: Về giá trị
chuyển nhượng 03 thửa đất, chị Đ cho rằng thực tế các thửa đất được bán với
tổng stiền 1.020.000.000đ. Người trực tiếp đứng ra giao dịch chuyển nhượng
anh Nguyễn Hữu P1 (em trai chị Đ) cũng xác nhận nội dung này. Tuy nhiên,
ngoài lời trình bày của mình của anh P1, chị Đ không cung cấp được bất kỳ
tài liệu, chứng cứ nào chứng minh giá chuyển nhượng thực tế là 1.020.000.000đ
như: hợp đồng chuyển nhượng, giấy nhận tiền, tài liệu giao dịch, chứng từ thanh
toán hoặc xác nhận của bên nhận chuyển nhượng. Trong khi đó, anh L trình bày
thừa nhận vào năm 2018 vợ chồng đã chuyển nhượng 03 thửa đất tại Gia Lai
với số tiền 860.000.00đ. vậy, chcăn cứ xác định số tiền chuyển nhượng
15
03 thửa đất tại Gia Lai là 860.000.000đ.
[2.1]. Về việc quản lý, sử dụng số tiền bán đất, anh L trình bày quá trình
xây dựng nhà năm 2014, tổng chi phí xây dựng khoảng 1.015.000.000đ, do
không đủ khả năng tài chính nên vchồng phải vay ợn thêm, sau khi bán
đất tại Gia Lai đã sử dụng toàn bộ số tiền này để thanh toán các khoản nợ phát
sinh trong quá trình làm nhà. Trong khi đó, chị Đ cho rằng tại thời điểm y
nhà, vợ chồng đã khoảng 700.000.000đ tiền tích lũy, khoảng 100.000.000đ
tiền lãi từ hoạt động buôn bán chỉ vay thêm Quỹ tín dụng nhân dân Ngũ
Kiên 150.000.000đ để hoàn thiện nhà, do đó số tiền bán đất tại Gia Lai không
được sử dụng để trả nợ xây nhà hiện vẫn do anh L quản lý, sử dụng riêng.
Tuy nhiên, chị Đ không cung cấp được tài liệu, chứng cứ hợp pháp nào chứng
minh việc vợ chồng khoản tiền tích lũy 700.000.000đ như trình bày. Tại
phiên tòa phúc thẩm, chĐ xuất trình 02 giấy xác nhận vay tiền của 02 nhân
với tổng số tiền 700.000.000đ. Song, các tài liệu này chỉ thể hiện việc vay tiền,
không chng minh được vợ chồng đã sẵn nguồn tài chính tích lũy lớn để
phục vụ việc xây nhà như chị Đ trình bày.
[2.2]. Mặt khác, chính chị Đ cũng thừa nhận năm 2009 vợ chồng phải vay
15 chỉ vàng hơn 300.000.000đ để mua đất tại Gia Lai và đến cuối năm 2011 mới
trả hết nợ; đồng thời xác nhận bản thân chỉ buôn bán nhỏ tại nhà, thu nhập chủ
yếu đủ chi tiêu sinh hoạt, còn anh L làm công trình với thu nhập không ổn định,
tháng thu nhập thì đưa cho chị Đ tích cóp nhưng không đều. Trong giai
đoạn này, các con của anh chị còn nhỏ, chi phí sinh hoạt và nuôi dưỡng cao, nên
việc cho rằng chỉ trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến năm 2014 vợ chồng
thể tích lũy được 700.000.000đ là thiếu cơ sở thực tế mâu thuẫn với chính
lời trình bày của chị Đ về điều kiện kinh tế, thu nhập của gia đình.
[2.3]. Ngoài ra, nếu thực tế vợ chồng vẫn còn khoản tiền lớn như chị Đ
trình bày thì không căn cứ hợp lý, năm 2018 hai vợ chồng tiếp tục vay Quỹ
tín dụng nhân dân xã Ngũ Kiên số tiền 200.000.000đ và đầu năm 2019 vay thêm
200.000.000đ, tổng cộng 400.000.000đ. Tại thời điểm này, quan hệ hôn nhân
giữa hai bên vẫn bình thường, việc quản lý, sử dụng i sản kinh tế gia đình
vẫn do vợ chồng cùng thống nhất thực hiện, chưa phát sinh mâu thuẫn hay quản
lý tài sản riêng biệt (cuối năm 2023 vợ chồng mới phát sinh mâu thuẫn). Vì vậy,
lời trình bày của chị Đ cho rằng anh L vẫn quản lý, sử dụng riêng số tiền bán đất
tại Gia Lai là không phù hợp với diễn biến khách quan của vụ việc.
[2.4]. Do đó, căn cứ xác định số tiền chuyển nhượng 03 thửa đất tại
Gia Lai đã được sử dụng vào mục đích chung của gia đình, cụ thể thanh toán
các khoản nợ phát sinh trong quá trình xây dựng nhà ở; không căn cứ xác
định hiện nay anh L còn quản lý, chiếm hữu riêng khoản tiền này. vậy, Tòa
16
án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của chị Đ về việc phân chia số tiền bán
03 thửa đất tại Gia Lai căn cứ, đúng quy định pháp luật; nội dung kháng
cáo này của chị Đ không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3]. Đối với nội dung kháng cáo đề nghị chia số tiền bán thửa đất số 816
thửa đất 817. Tại phiên toà thẩm, phúc thẩm chị Đ trình bày thửa đất số
817 được mua với giá 1.490.000.000đ, nên việc anh L trình bày bán với giá
1.300.000.00không hợp lý; thửa đất 816 giá cũng bằng tiền với giá thửa
đất số 817. ChĐ cho rằng anh L đã chuyển nhượng cả hai thửa đất số 816
817 với tổng giá trị khoảng 3.100.000.000đ, chị đề nghị chia đôi số tiền bán hai
thửa đất này. Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét
xử nhận thấy:
[3.1]. Đối với thửa đất số 817, theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất thể hiện vợ chồng anh L, chị Đ mua với giá là 100.000.000đ, căn cứ
Giấy đặt cọc ngày 07/02/2021 giữa các bên thể hiện giá chuyển nhượng
1.490.000.000đ, nên việc chị Đ khai về giá mua thửa đất này là sở. Đối
với giá bán thửa đất số 817, mặc dù Hợp đồng chuyển nhượng ghi
400.000.000đ, nhưng qua xác minh người mua ông Nguyễn Văn B1 thừa
nhận, thực tế giá chuyển nhượng thửa đất 1.300.000.000đ; việc ghi giá thấp hơn
trong hợp đồng nhằm giảm nghĩa vụ tài chính. Việc giá bán có thấp hơn giá mua
hơn 100.000.000đ điều bình thường, giá bất động sản luôn sbiến động
tăng giảm điều này tùy thuộc vào nhu cầu của thị trường. Tòa án cấp thẩm
trên sở xem xét các tài liệu chứng cứ, xác định giá chuyển nhượng thực tế
của thửa đất số 817 là 1.300.000.000đ là có căn cứ.
[3.2]. Đối với thửa đất số 816, chị Đ cho rằng đây tài sản chung của vợ
chồng, trong khi anh L trình bày đây không phải tài sản của vợ chồng, tài
sản góp vốn chung giữa anh Nguyễn Văn L (đứng tên hộ con gái chị Nguyễn
Hương L1), ông Hà Văn C1, ông Nguyễn Đắc Dông Trương Trọng N để đầu
chung mua bán đất. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến
hành xác minh, lấy lời khai ông C1, ông D ông N những người liên quan,
các ông đều thống nhất tnh bày nội dung về việc mua chung thửa đất, trong đó
mỗi người góp 200.000.000đ để cùng mua thửa đất số 816, với giá
800.000.000đ thống nhất để anh L đứng tên trên giấy chứng nhận. Chị Đ
trình bày mua thửa đất này với giá hơn 1 tỷ đồng (bằng với giá của thửa đất 817)
nhưng chị không chứng minh được nguồn tiền mua đất của hai vợ chồng đối với
thửa đất này. Người nhận chuyển nhượng thửa đất 816 ông Phùng Đức C4
trình bày xác nhận việc mua thửa đất trên của 04 người gồm anh L, anh C1, anh
D anh N với giá 1.000.000.000đ, thời điểm ngày 04/11/2024; anh L người
viết giấy tờ, anh C1 người nhận tiền. Bản thân chị Nguyễn Hương L1 con
17
gái chị Đ, anh L trình bày xác nhận việc đưa cho anh L số tiền
230.000.000đ để góp mua đất, sau đó năm 2024 anh L bán đất đưa lại chị
230.000.000đ cho cháu ngoại 5.000.000đ trùng khớp với thời gian anh L
chuyển nhượng thửa đất 816. Cấp thẩm sau khi xem xét đã xác định thửa đất
số 816 tài sản chung giữa anh L (đứng đại diện thay con gái H), anh L2, anh
C1, anh N anh D, sau khi bán mọi người đều đã nhận lại tiền đây không phải
tài sản chung của vợ chồng anh L, chị Đ nên không chia là đúng quy định.
[3.3]. Về việc sử dụng số tiền 1.300.000.000đ bán thửa đất 817: Ngày
05/8/2021 anh L, chị Đ vay Ngân hàng B2 số tiền 1.700.000.000đ; anh L
trình bày khoản vay này dùng để mua thửa đất số 817, thời điểm vay tiền và thời
điểm mua thửa đất số 817 gần nhau (vay tiền trước nhận chuyển nhượng gần 3
tháng). Chị Đ cho rằng vợ chồng làm ăn tích cóp được và trả Ngân hàng, không
phải sử dụng tiền bán đất để trả Ngân hàng, tuy nhiên chị Đ không đưa ra được
tài liệu, chứng cứ chứng minh hai vợ chồng sử dụng nguồn tiền khác của hai vợ
chồng để trả món nợ này. Tại phiên tòa phúc thẩm chị Đ trình bày công việc
chính của chị từ trước đến nay là bán hàng tạp hóa tại nhà, cửa hàng nhỏ, vốn
đầu ít, thu nhập từ bán hàng cũng hạn chế, không dả; anh L làm xây dựng
nhận khoán công trình tư nhân thu nhập không cao. Ngoài ra anh chị không kinh
doanh thêm khác. Với điều kiện kinh tế, công việc, thu nhập của cả anh L
chị Đ như vậy, trong khi phải nuôi mẹ già và hai con ăn học, do đó việc chị Đ
trình bày không phải sử dụng tiền bán đất để trả nợ số tiền 1.700.000.000đ tại
Ngân hàng không phù hợp, không đúng thực tế. Anh L trình bày sử dụng số
tiền 1.300.000.000đ bán thửa đất 817 đã phải vay thêm 400.000.000đ đtrả
khoản nợ 1.700.000.000đ tại ngân hàng B2 đã vay để mua đất trước đó
sở. Cấp sơ thẩm sau khi xem xét đã xác định số tiền 1.300.000.000đ bán thửa
đất 817 đã được anh L sử dụng để trả khoản vay chung không còn đphân
chia là có căn cứ, đúng quy định, nội dung kháng cáo này của chĐ không được
Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4]. Đối với nội dung kháng cáo cho rằng tiền mua ô tài sản tích cóp
của hai vợ chồng không phải sử dụng tiền bán đất để trả. Chị Đ trình bày năm
2016 vợ chồng khoản tiền tiết kiệm 900.000.000đ, trong đó sử dụng
500.000.000đ để mua xe ô trả góp cho anh T4 vay 400.000.000đ nên
không phải sử dụng tiền bán thửa đất tại phường H để trả nợ mua xe. Trong khi
đó, anh L trình bày đã sử dụng tiền bán thửa đất tại phường H để trả khoản nợ
980.000.000đ vay mua xe ô tô. Nội dung này phù hợp với lời khai của anh
Nguyễn Hoàn S1 về việc, đã cho anh L vay tiền để mua xe sau đó anh L đã
dùng tiền bán đất để thanh toán khoản vay.
[4.1]. Chị Đ trình bày năm 2016 vợ chồng khoản tiền tiết kiệm
18
900.000.000đ, nhưng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh có số
tiền trên và cũng không cung cấp được giấy tờ, tài liệu thể hiện việc cho anh T4
vay số tiền 400.000.000đ. Và như phân tích ở trên điều kiện công việc của chị Đ
chỉ là bán hàng tạp hóa, thu nhập không dư dả, trong khi công việc của anh L có
thu nhập không cao. Năm 2014 xây nhà, vợ chồng vẫn phải vay nợ thêm
2015 vẫn duy trì vay lãi của Quỹ tín dụng đến tháng 5 năm 2015 mới trả hết nợ.
Trong khoảng thời gian từ giữa năm 2015 đến 2016 hai vợ chồng tích cóp được
khoản tiền 900.000.000đ cũng là không phù hợp, không đúng thực tế, việc anh L
trình bày giải trình, sử dụng tiền bán đất để thanh toán khoản nợ mua xe phù
hợp, căn cứ. Nội dung kháng cáo này của chị Đ cũng không được Hội đồng
xét xử chấp nhận.
[5]. Đối với nội dung chị Đ là đại diện cho chị L1 và anh L2, đề nghị Toà
án giải quyết việc phân chia tài sản chung thửa đất số 147, tờ bản đồ số 26
diện tích thực đo 121,9m
2
của hộ gia đình ngay trong vụ án này. Trong đơn
trình bày trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm,
chị Đ trình bày chị nhất trí nhận thanh toán giá trị bằng tiền đối với phần của
chị, còn đối với cháu L1 cháu L2 đề nghị được chia bằng hiện vật (chia bằng
đất), cháu L2 hiện đang sinh viên, chưa nhà đất riêng. Sau khi xem xét ý
kiến của các bên, Hội đồng xét xử xét thấy:
[5.1]. Đối với thửa đất số 147, tbản đồ số 26 diện tích thực tế đo đạc
121,9m
2
, tại phiên tòa thẩm phúc thẩm các bên đều thống nhất tài sản
chung của hộ gia đình đnghị chia thành 5 phần bằng nhau; về diện tích
121,9m
2
đất và giá đất 10.000.000đ/1m
2
theo kết quả xem xét thẩm định và định
giá tài sản các bên đều thống nhất, không ý kiến không đề nghị thẩm
định hay định giá lại, do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào kết quả thẩm
định, định giá tại cấp sơ thẩm để giải quyết theo quy định.
[5.2]. Về việc phân chia tài sản: Anh L, B, chị L1 anh L2 đề ngh
được chia bằng hiện vật, chị Đ nhất trí nhận giá trị bằng tiền. Đề nghị của anh L,
B, chị L1 anh L2 về việc xin nhận bằng hiện vật đều chính đáng, tuy
nhiên trong vụ án này phần tài sản anh L1 chị L2 mỗi được hưởng
24,38m
2
đất sẽ không đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận theo quy định,
hơn nữa trên đất có i sản là công trình nhà ở 3 tầng của anh L và chị Đ. Chị L1
đã đi lấy chồng lập gia đình riêng ở nơi khác, anh L2 hiện đang là sinh viên sống
phụ thuộc vào gia đình, tiền học của anh L2 vẫn do chính anh L chu cấp nên
việc giao đất cho anh L2 để anh L2 thanh toán giá trị cho anh L B
không khả thi, không đúng không phù hợp với điều kiện thực tế của anh L2.
Mặt khác, xét về nguồn gốc thửa đất do bố mẹ đẻ của anh L tặng cho anh L,
chị Đ do đó về nguyên tắc phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, thì
19
thửa đất này sẽ được chia đôi cho anh L chị Đ, đồng thời cần phải xem xét
phân chia cho anh L được phần nhiều hơn. Tuy nhiên do anh L đồng ý xác định
tài sản chung của hộ gia đình đồng ý chia làm 5 phần bằng nhau, nên Tòa
án tôn trọng ý chí của các bên, để chia làm 5 phần là đã có phần châm trước cho
anh L2, chị L1.
[5.3]. Thửa đất đang tranh chấp nguồn gốc của ông cha để lại, trên đất
có nhà 3 tầng mà anh L, chị Đ xây dựng, anh L đề nghị chia bằng hiện vật để lấy
làm nơi thờ tự, chăm sóc nuôi dưỡng mẹ già (bà B). Bản thân B từ trước đến
nay vẫn cùng anh L, hiện không nhà đất chnào khác, khi anh L
chị Đ tranh chấp B đã phải đi nhờ nhà của cháu gần đó. Do đó, đề nghị
của anh L về việc chia bằng hiện vật hợp tình hợp lý, căn cứ, đúng quy
định.
[5.4]. Từ phân tích trên Hội đồng xét xử sẽ phân chia kỷ phần anh L1
chL2 được hưởng giá trị bằng tiền, cụ thể: Tài sản chung diện tích 121,9m
2
đất trị giá 1.219.000.000đ (10.000.000đ/1m
2
x 121,9m
2
); trong đó anh L2 chị
L1 mỗi người được hưởng 1/5 giá trị thửa đất 243.800.0000đ
(1.219.000.000đ/5). Do anh L được nhận bằng hiện vật nên anh L trách
nhiệm thanh toán giá trị bằng tiền cho chị L1, anh L2 mỗi người số tiền
243.800.000đ.
[5.5]. Như vậy anh L được quyền quản lý, sử dụng toàn bộ thửa đất số
147, tờ bản đồ số 26, diện tích 121,9m
2
; địa chỉ: Thôn H, N, huyn V, tnh
Vĩnh Phúc (Nay V, tnh Phú Thọ), đứng tên h ông Nguyễn Văn L tài
sản là 01 nhà xây ba tầng làm trên thửa đất nói trên. Tuy nhiên do diện tích thực
tế và diện tích trong giấy chứng nhận schênh lệch, và trong giấy chứng
nhận ghi tên hộ ông Nguyễn Văn L. Do đó, anh L quyền nghĩa vụ liên hệ
với các quan Nhà nước thẩm quyền, thực hiện các quyền, nghĩa vụ của
người sử dụng đất, để được điều chỉnh, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất theo quy định của pháp luật phù hợp với quyết định của Bản án.
[6]. Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm tuy không chấp nhận
kháng cáo của chị Đ, nhưng vẫn sửa bản án thẩm theo sự thỏa thuận đề
nghị của các đương sự. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Phú Thọ tại phiên
tòa căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận. Các nội dung khác không
kháng cáo kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật.
[7]. Về án phí:
[7.1]. Án phí sơ thẩm: Anh L phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.
Án phí giá ngạch chia tài sản: Tổng tài sản chung của anh L, chị Đ trị giá
1.460.600.00chia đôi, mỗi người được hưởng tài sản trị giá 730.300.000đ,
20
nên mỗi người phải chịu án phí là 33.212.000đ (20 triệu + (4% x
330.300.000đ)). Chị L1 anh L2 mỗi người phải chịu 12.190.00 án phí
(243.800.000đ x 5%).
[7.2]. Về án phí phúc thẩm: Do sửa bản án phúc thẩm nên chị Đ không
phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự: Không chấp nhận
kháng cáo của chị Nguyễn Thị Đ, sửa Bản án số: 62/2025/DS-ST ngày 29 tháng
12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ.
Áp dụng các Điều 51, 56, 29, 33, 59 62 của Luật Hôn nhân Gia
đình; khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 147 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 357, Điều 468 của Bluật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14
của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử.
1. Về tình cảm: Cho anh Nguyễn Văn L được ly hôn với chị Nguyễn Thị
Đ.
2. Về con chung: Anh Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị Đ không yêu cầu
Toà án giải quyết.
3. Đình chỉ yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Đỗ Thị C đối với yêu cầu buộc anh L và chị Đ trả nợ.
4. Về chia tài sản chung:
- Chia cho anh Nguyễn Văn L được quyền quản lý, sử dụng thửa đất số
147, tờ bản đồ số 26, diện tích 121,9m
2
; địa chỉ: Thôn H, N, huyn V, tnh
Vĩnh Phúc (Nay V, tnh Phú Thọ), đứng tên h ông Nguyễn Văn L tài
sản là 01 nhà xây ba tầng làm trên thửa đất nói trên (có sơ đồ chi tiết kèm theo).
- Anh Nguyễn Văn L được quyền quản lý, sử dụng định đoạt các tài
sản gồm: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Future BKS 88S4-8421, 01 xe đạp thể thao,
01 bức tranh đồng treo tường, 01 bộ bàn ghế đồng k01 xe ô nhãn hiệu
VIOS BKS 88A - 13381 đứng tên anh Nguyễn Văn L.
- Chia cho chị Nguyễn Thị Đào sở H 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Wave α
BKS 88H3-6503, 01 chiếc ti vi số hàng tạp hoá tại cửa hàng B3 (chị Đ đang
quản lý).
- Anh Nguyễn Văn L nghĩa vụ thanh toán chênh lệch tài sản giá trị
bằng tiền cho chị Nguyễn Thị Đ, số tiền 722.300.000đ.
21
- Anh Nguyễn Văn L nghĩa vụ thanh toán cho chị Nguyễn Hương L1
và anh Nguyễn Công L2, mỗi người số tiền 243.800.000đ.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật chị Nguyễn Thị Đ, chị Nguyễn
Hương L1 và anh Nguyễn Công L2 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Nguyễn
Văn L không thanh toán số tiền trên, thì hàng tháng anh L còn phải chịu khoản
tiền lãi, theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân
sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Anh L quyền và nghĩa vụ liên hệ với các quan nhà nước thẩm
quyền, thực hiện các quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất, đ được điều
chỉnh, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật
phù hợp với quyết định của Bản án.
5. Về án phí:
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn L phải chịu
300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí
đã nộp 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0002527 ngày 23/6/2025 của Chi cục
thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường (Nay phòng Thi hành án dân sự khu
vực 10 - Phú Thọ). Anh L đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
- Về án phí phân chia tài sản chung:
Chị Nguyễn Thị Đ phải chịu án phí giá ngạch tài sản là 33.212.000đ.
Anh Nguyễn Văn L phải chịu án phí giá ngạch tài sản 33.212.000đ
được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 40.000.000đ theo biên lai thu tiền s
0001396 ngày 13/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Anh Nguyễn
Văn L được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.788.000đ.
Chị Nguyễn Hương L1 anh Nguyễn Công L2 mỗi người phải chịu
12.190.000đ án phí giá ngạch chia tài sản.
- Về án phí phúc thẩm: Chị Nguyễn Thị Đ không phải chịu, được hoàn trả
lại số tiền 300.000đ tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số
0000254 ngày 13/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bcưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự./.
22
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- TAND khu vực 10 - Phú Thọ;
- VKSND khu vực 10 - Phú Thọ;
- Phòng THADS khu vực 10 - Phú Thọ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Xuân Trọng
Tải về
Bản án số 18/2026/HNGĐ-PT Bản án số 18/2026/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 18/2026/HNGĐ-PT Bản án số 18/2026/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất