Bản án số 05/2026/HC-PT ngày 20/05/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 05/2026/HC-PT

Tên Bản án: Bản án số 05/2026/HC-PT ngày 20/05/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 05/2026/HC-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/05/2026
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: bà đề nghị Tòa án xác định hành vi không làm thủ tục hành chính, để bà có đủ tài liệu để yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ cho bà, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà và yêu cầu UBND xã Đ cũ, nay là UBND xã H phải bồi thường số tiền bà bị thiệt hại trong thời gian từ năm 2022 đến nay bà phải đi lại làm thủ tục tại UBND xã, khởi kiện tại Tòa án với tổng số tiền 5.065.000.000đồng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 05/2026/HC-PT
Ngày 20 - 5 - 2026
V/v khiếu kin hành vi hành chính
trong lĩnh vực quản lý đất đai và yêu
cầu bồi thường thiệt hại”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Trọng.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh và ông Nguyễn Duy Sơn.
- Thư phiên toà: Nguyễn Thị - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ: Thị Loan -
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 20 tháng 5 năm 2026, ti tr s Toà án nhân dân tnh Phú Th xét
x phúc thm ng khai v án th s: 03/2026/TLPT- HC ngày 13 tháng 3
năm 2026 về việc “Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vc quản lý đất đai
và yêu cu bồi thường thit hi”. Do bản án hành chính sơ thẩm s 01/2026/HC-
ST ngày 08 tháng 01 năm 2026 ca Tòa án nhân dân khu vc 11 Phú Th
kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét x phúc thm s: 07/2026/
QĐXXPT-HC ngày 14 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Lỗ Thị H, sinh năm 1965; CCCD số 026165010909
cấp ngày 11/8/2022; Địa chỉ: Thôn T, xã H, tỉnh Phú Thọ, “có mặt”.
- Người b kin: UBND Đ, huyn S, tỉnh Vĩnh Phúc; Người đại din
theo pháp lut: Ông Nguyễn Văn T - Ch tch UBND xã.
Kế tha quyền và nghĩa vụ t tng: UBND xã H, tnh Phú Th;
Người đại din theo pháp lut: Ông Đỗ Huy C - Ch tch UBND xã.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phó Khắc C1 - Phó Chủ tịch UBND
xã, “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo đơn khởi kiện đề ngày 19/3/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án
người khởi kiện bà Lỗ Thị H trình bày:
Gia đình thửa đất đã đang sử dụng thửa đất số 168, tờ bản đồ
số 04, diện tích 944m
2
tại thôn T, Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) nay
H, tỉnh Phú Thọ (trong đó có 300m
2
đất thổ cư và 694m
2
đất vườn), đã được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt GCNQSDĐ) đứng tên hộ ông
Nguyễn Văn D (là chồng H), do Ủy ban nhân dân (UBND) huyện L, tỉnh
Vĩnh Phúc (cũ) cấp ngày 20/10/1999, số phát hành 0745042, số vào sổ
00266. Trên đất gia đình bà đã xây nhà từ lâu. Năm 1996, gia đình bà xây tường
rào bao quanh, có sự chứng kiến của 05 hộ giáp ranh và sống đoàn kết yên ổn t
đó đến nay. Năm 2009 ông D chết, đến năm 2022 bà có làm đơn nhận thừa kế
đổi sổ đỏ từ tên ông D sang tên bà. Khi đó anh Nguyễn Văn N (là hộ giáp ranh)
làm đơn đnghị ra UBND vu khống cho gia đình là mượn đất của gia
đình anh N (trước đó bà A là mẹ anh N đã ký vào hộ giáp ranh).
Nhưng khi nộp hồ lên UBND Đ thì hồ sơ bị lỗi nên phải đi xin
chữ ký lại của 05 hộ giáp ranh, thì anh N con trai bà A nhất quyết không ký, anh
N cũng không có đơn khởi kiện bà ra Tòa án, nhưng UBND xã Đ vẫn từ chối hồ
của thời hạn. Ngày 14/6/2023, đơn đề nghị UBND Đ giải
quyết, đến ngày 19/5/2023, UBND Đ mời luật của về làm
việc, nhưng anh N hôm đó vắng mặt không do, UBND biết trước việc
anh N không về làm việc nhưng cũng không báo lại cho bà, trong khi đó bà phải
mất tiền chi trả cho luật sư. Sau đó, làm đơn khởi kiện anh N ra Tòa án nhân
dân huyện Sông Lô (cũ) giải quyết về tranh chấp đất đai, Tòa án nhân dân huyện
Sông xét xử đã chấp nhận ranh giới đất giữa gia đình gia đình anh N,
sau đó anh N kháng cáo xét xử phúc thẩm. Sau đó rút đơn khởi kiện
Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ
giải quyết vụ án dân sự, Tòa án tỉnh Vĩnh Phúc xác định đất của gia đình bà
không phải là đất tranh chấp.
Sau khi Toà án tỉnh Vĩnh Phúc ra quyết định đình chỉ vụ án dân sự, bà lại
tiếp tục lên UBND xã Đ, nộp hồ sơ đề nghị UBND xã Đ xác nhận ranh giới cho
bà, để làm thủ tục sang tên GCNQSDĐ, UBND nhận hồ nhưng không
làm thủ tục cho bà. Từ m 2022 đến năm 2025 đã nhiều lần đề nghị
UBND làm thủ tục xác nhận ranh giới đất cho bà, nhưng UBND không
làm. Hành vi của UBND Đ (nay UBND H) không làm thtục hành
chính cho bà, để gia đình bà được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp
GCNQSDĐ đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho gia đình bà, trong đó thiệt hại về
kinh tế là 4.650.000.000đồng gồm:
- Trong thời gian làm thủ tục, đi sang Úc để giúp việc cho con
3
01 năm, nhưng chưa được 04 tháng phải quay về để giải quyết hậu quả
UBND Đ đã gây ra, gây thất thoát kinh tế lớn cho 1.122.000.000đồng,
cụ thể con bà trích cho bà mỗi tuần 01 ngày lương khoảng 2.000 USD/ngày x 34
tuần.
- Tiền thuê luật sư đến làm việc với UBND xã Đ 8.000.000đồng.
- Tất cả các khoản tiền bà phải chi phí tại Tòa án nhân dân huyện Sông Lô
35.000.000đồng (bà phải xin giấy tờ từ bên Úc), không biết cụ thể những chi
phí gì.
- Tiền trượt giá từ năm 2022 đến nay người mua đất đặt cọc cho bà,
chưa làm được thủ tục chuyển nhượng 2.400.000.000đồng (khi đó vàng
9999 5.000.000đồng/chỉ, nay hơn 14.000.000đồng/chỉ, tiền thuê nhà
4.000.000đồng/ tháng).
- Toàn bộ chi phí do phải nghỉ làm, chi phí đi lại, các khoản chi phí
phát sinh từ năm 2022 đến nay là 500.000.000đồng.
- Tiền tổn thất tinh thần vì nhiều lần bà muốn tự tử do cuộc sống bất công,
UBND Đ đã không làm đúng theo hiến pháp và pháp luật, làm cho quá
mệt mỏi không còn niềm tin nữa 1.000.000.000đồng.
Nay bà đề nghị Tòa án xác định hành vi không làm thủ tục hành chính, để
đủ tài liệu để yêu cầu quan Nhà nước thẩm quyền cấp GCNQSDĐ
cho bà, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của yêu cầu UBND
Đ cũ, nay UBND H phải bồi thường số tiền bị thiệt hại trong thời
gian từ năm 2022 đến nay bà phải đi lại làm thtục tại UBND xã, khởi kiện tại
Tòa án với tổng số tiền 5.065.000.000đồng.
* Đại diện UBND Đ (cũ) nay UBND H vắng mặt tại phiên tòa,
nhưng trong bản tự khai quá trình làm việc tại Tòa án ông Phó Khắc C1
trình bày:
Thửa đất số 168, tờ bản đồ số 6 với diện tích 994m
2
nêu trong đơn, được
UBND huyện L cấp GCNQSDĐ ngày 20/10/1999 cho hộ ông Nguyễn Văn D
(ông D chồng Lỗ Thị H, đã chết năm 2009) địa chỉ tại Khu G, Đ cũ,
huyện L (Nay là thôn T, xã H).
Sau khi ông D chết, đđược công nhận quyền thừa kế hoặc đứng tên hợp
pháp, Lỗ Thị H các đồng thừa kế cần làm thủ tục khai nhận di sản theo
quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện thủ tục xảy ra
mâu thuẫn về thừa kế di sản và ranh giới, mốc giới thửa đất:
Ngày 31/03/2023 UBND xã Đ (cũ) tổ chc hi ngh hòa gii tranh chp
đất đai giữa L Th H Nguyn Th A. Tuy nhiên bui hòa gii không
4
thành do các bên không thng nhất được vi nhau. UBND Đ (cũ) đã hướng
dn H khi kiện đến Tòa án nhân dân huyn Sông (cũ) đ gii quyết theo
thm quyn tại văn bản s 103/UBND ngày 04/04/2023. Ngày 05/04/2023 H
đề ngh công khai h đất đai của bà, do thửa đất đang thc hiện đăng
biến động thc tế đang tăng diện tích thay đổi hình th so vi thi đim cp
GCNQSD đất, thửa đất đang có tranh chp ranh gii vi h lin k. UBND xã Đ
(cũ) tiến hành thông báo công khai v vic kim tra, xác minh thửa đất ca h
ông Nguyễn Văn D (chng bà H), thôn T, Đ (cũ), phục v công tác cp
GCNQSD đt tại văn bản công khai s 407/TB-UBND ngày 06/04/2023, đưc
niêm yết ti tr s UBND xã Đ (cũ) và các nhà văn hóa thôn dân cư trên đa bàn
xã, trong vòng 15 ngày.
Trong thi gian công khai, ngày 10/04/2023 UBND Đ (cũ) nhận được
đơn kiến ngh ca anh Nguyễn Văn N (Con trai Nguyn Th A) hàng xóm
giáp ranh với gia đình H, không đồng ý vi din tích, hình th thửa đất H
đăng biến động cho rng ranh gii, mc gii thửa đt giữa hai gia đình
s trao đổi, ông Nguyễn Văn D lúc còn sống có mượn đất nhà anh. Qua xem xét
đơn đ ngh ca anh Nguyễn Văn N, UBND Đ (cũ) đã đề ngh t hòa gii
thôn T1 tiến hành hòa gii theo ni dụng đơn đề ngh ca anh N. Ngày
10/5/2023 UBND Đ (cũ) nhận được báo cáo biên bn hòa gii không thành
ca t hòa gii thôn T1. Ngày 19/5/2023 UBND Đ (cũ) tổ chc hi ngh hòa
gii tranh chấp đất đai giữa h anh Nguyễn Văn N h bà L Th H, với đủ
thành phần tham gia theo quy định. Tuy nhiên bui hòa gii không tiến hành
đưc do anh N vng mt. Ngày 26/5/2023 UBND Đ (cũ) tiếp tc t chc hòa
gii v vic ln 2, tuy nhiên bui hòa gii không thành do hai bên không thng
nhất được ranh gii, mc giới đất đai vị trí tiếp giáp gia hai h gia đình. UBND
Đ (cũ) đã hướng dn anh N đến quan thm quyền, để tiếp tục đề ngh
đưc gii quyết quyn lợi theo đúng quy đnh ca pháp lut tr li anh bng
văn bản s 191/UBND ngày 27/05/2023.
Sau đó H khi kin anh Nguyễn Văn N đến Tòa án nhân dân huyn
Sông cũ. Ngày 24/09/2024 Tòa án nhân dân huyện Sông (cũ) đã mở
phiên tòa xét x Bn án s 20/2024/DS-ST. Sau đó ngày 04/10/2024 anh N đã
đơn kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc (cũ). Ngày 21/01/2025
Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc ra Quyết định s 10/2025/QĐ-PT hy bản án sơ
thẩm và đình chỉ gii quyết v án dân s.
Ngày 27/02/2025 U (cũ) nhận được đơn đề ngh ca anh N vi ni dung:
Đề ngh UBND xã Đ (cũ) xác minh lại tha đt ca h anh N h H đ
nghH tr li phần đất mà hH đã mượn và ln chiếm (ông D là chng bà
H trước đây khi còn sống đã mượn để làm ncùng mt phần đt h ln
5
chiếm). Sau khi xem xét đơn đ ngh ca anh N, UBND xã Đ (cũ) đã đề ngh t
hòa gii thôn T, xã Đ (cũ) hòa giải theo nội dung đơn đ ngh ca anh N. Ngày
17/03/2025 UBND xã Đ (cũ) nhận được báo cáo, biên bn hòa gii không thành
ca t hòa gii thôn T, Đ (cũ). Ngày 24/03/2025 UBND Đ (cũ) tổ chc hi
ngh hòa gii tranh chấp đất đai gia h anh N h H. Tuy nhiên bui hòa
gii không thành, do hai bên không thng nhất được ranh gii, mc gii
phương án gii quyết. UBND xã Đ (cũ) đã hướng dn anh N đến quan
thm quyền để tiếp tục đề ngh gii quyết quyn li ích hp pháp ca anh
theo đúng quy định pháp lut bằng văn bản s: 166/UBND - ĐC ngày
26/03/2025.
Trong khi H làm th tc tha kế quyn s dụng đất t ông Nguyn
Văn D ti Chi nhánh văn phòng đất đai huyện S, ngày 10/04/2025 UBND Đ
(cũ) nhận được đơn nghị ca anh N v ni dung tranh chp phần đất 17m
2
ông D
xây dng nhà phần đt 10 m
2
ông D xây b rào và hin ti bà H làm th tc
bán cho ông H1, trong khi anh N đang có ý kiến không đồng ý v ranh gii hin
trạng, đề ngh UBND xã Đ (cũ) có thông báo đến cơ quan chức năng về vic anh
đang có đơn kiến ngh ti UBND xã Đ. UBND xã Đ (cũ) đã trả li anh N tại văn
bn s 266/UBND ngày 15/04/2025 thông báo đên quan thm quyn
(văn bn s 336/UBND-ĐC ngày 25/06/2025) về vic anh N đơn đề ngh ti
UBND xã Đ (cũ).
Ngày 21/07/2025 ti hợp đồng chuyển nhượng quyn s dụng đất do Văn
phòng C2, tnh Phú Th lp. L Th H đã chuyển nhượng quyn s dụng đt
cho Đỗ Th N1, thôn H, H. Do gia đình N1 đã thỏa thun đưc ranh
gii, mc gii với gia đình ông Nguyễn Văn N. C th: Thửa đất 168, t bản đồ
04 (BĐ 299), số phát hành O745402, s vào sổ: 00266, được UBND huyn L
cấp ngày 20/10/1999; địa ch Khu G, Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc cũ, nay
thôn T, H, tnh Phú Th. Din tích 797,5 m
2
(trong đó ONT 300,0 m
2
; CLN
497,5). Ngày 19/09/2025 Đỗ Th N1 đưc Chi nhánh Văn phòng Đ cp
GCNQSDĐ, quyn s hu tài sn gn lin với đất, thửa đất 53, t bản đồ s 28
din tích 806,1m
2
(trong đó ONT 300,0 m
2
; CLN 506,1 m
2
). Diện tích này đã
đưc tha thun gim so vi thời điểm công khai s 407/TB-UBND ngày
06/04/2023 (Công khai diện tích đề ngh đăng biến động 828,1 m
2
; trong
đó ONT 300,0 m
2
; CLN: 528,1 m
2
). Din tích chuyển nhượng, ranh gii th hin
thay đổi so vi hin trạng, như ranh giới đã được tha thun.
Do vậy, UBND Đ nay là UBND H khẳng định không vi phạm thủ
tục hành chính trong việc tiếp nhận và xử lý hồ sơ của bà Lỗ Thị H, đề nghị Tòa
án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ bác bỏ toàn bộ nội dung đơn kiện của H,
do thiếu căn cứ pháp lý, thiếu hồ sơ hợp lệ và không có hành vi sai phạm từ phía
6
UBND xã Đôn Nhân nayUBND xã H.
Với nội dung nêu trên, tại Bản án hành chính sơ thẩm số: 01/2026/HC-ST
ngày 08/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ, quyết định:
Căn cứ vào Điều 31a; điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính;
Căn cứ khoản 4 Điều 95, Điều 188 Luật đất đai 2013; Điều 42 Nghị định
số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một
số điều của Luật đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án, xử: Không chấp
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Lỗ Thị H về các yêu cầu khởi kiện hành
vi hành chính của UBND xã H không làm thủ tục hành chính cho bà, để gia đình
được quan Nhà nước thẩm quyền cấp GCNQSDĐ yêu cầu UBND
xã H phải bồi thường cho bà tổng số tiền: 5.065.000.000đồng
Ngoài ra, bản án thẩm còn quyết định ván phí, tuyên quyền kháng
cáo cho các đương sự.
Ngày 19/01/2026 H đơn kháng cáo, đề nghị a án cấp phúc thẩm
giải quyết sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm, H giữ nguyên nội dung kháng cáo, Đại diện
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử Thư Tòa án cấp
phúc thẩm đã tuân thủ đảm bảo đúng trình tự, thủ tục từ khi thụ đến tại phiên
tòa phúc thẩm; người tham gia tố tụng đã được thực hiện đầy đủ chấp hành
đúng quy định của Luật tố tụng hành chính.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều
241 của Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Không chấp nhận kháng
cáo của bà H, giữ nguyên Bản án thẩm s01/2026/HC-ST ngày 08/01/2026
của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà H làm trong hạn luật định, đơn hợp
lệ nên được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[1.2]. Cấp thẩm xác định đối tượng khởi kiện, thời hiệu khởi kiện
thẩm quyền giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
7
[2]. Về nội dung xét yêu cầu kháng cáo của H đề nghị cấp phúc thẩm
xem xét trách nhiệm của UBND Đ (nay H, tỉnh Phú Thọ), trong việc
thực hiện không đúng thủ tục hành chính, gây thiệt hại về vật chất tinh thần cho
gia đình bà, yêu cầu UBND bồi thường thiệt hại đã gây ra cho gia đình bà,
Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1]. Năm 2023 Lỗ Thị H nộp hồ thừa kế quyền sử dụng đất từ
chồng bà là ông Nguyễn Văn D ã chết), nhưng do không thống nhất được ranh
giới, mốc giới sdụng đất với hộ giáp danh liền kề, nên hồ không đủ điều
kiện giải quyết. Chi nhánh Văn phòng Đ đã trả lại hồ sơ cho bà H theo quy định.
Sau đó ngày 01/3/2023, bà H có đơn đề nghị UBND xã Đ (nay H) về việc,
đề nghị làm thủ tục để sang tên GCNQSDĐ từ tên chồng ông Nguyễn
Văn D sang tên bà. Ngày 06/4/2023, UBND Đ đã Thông báo công khai
về việc kiểm tra, xác minh thửa đất của hộ ông Nguyễn Văn D, thôn T, Đ,
phục vụ công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, nhưng sau đó ngày
10/4/2023 anh Nguyễn Văn N (hộ giáp ranh với hộ H) đơn đề nghị giải
quyết tranh chấp đất đai; UBND Đ (cũ) đã thành lập Hội đồng hòa giải
tiến hành hòa giải giữa các bên vào ngày 20/3 ngày 31/3/2023 nhưng không
thành; ngày 01/4/2023 UBND Đ đã văn bản trả lời H, đồng thời hướng
dẫn bà khởi kiện đến Tòa án để được giải quyết.
[2.2]. Sau đó H đơn khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án, và được Tòa
án cấp thẩm phúc thẩm giải quyết theo quy định; sau khi Tòa án nhân dân
tỉnh Vĩnh Phúc hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án (do bà H rút đơn
khởi kiện anh N rút đơn kháng cáo), đến tháng 02/2025 H lại tiếp tục đề
nghị UBND xã Đ làm thủ tục cho bà khai nhận thừa kế, tuy nhiên ngày
27/02/2025, anh Nguyễn Văn N lại tiếp tục có đơn đề nghị giải quyết tranh chấp
đất đai với do: Theo thông báo công khai của UBND một phần đất của
gia đình anh đã cho ông Nguyễn Văn D mượn sử dụng, yêu cầu gia đình ông D
trả lại cho anh phần đất đã mượn. Do anh N đơn, nên hồ của H sau đó
cũng bị Chi nhánh Văn phòng Đ trả lại.
[2.3]. Như vậy, việc năm 2022 năm 2025 H làm thủ tục thừa kế
quyền sử dụng đất từ chồng ông Nguyễn Văn D (đã chết), nhưng không
thống nhất được ranh giới, do hộ anh N giáp ranh tranh chấp, sau khi đề
nghị của bà H, UBND Đ đã tiếp nhận giải quyết theo đúng quy định. Cấp
sơ thẩm sau khi xem xét đã không chấp nhận yêu cầu của bà H khởi kiện hành vi
hành chính của UBND Đ, nay UBND H căn cứ, đúng quy định
của pháp luật.
[3]. Đối với hồ của bà H, ngày 20/8/2025 Chi nhánh Văn phòng Đ tiếp
nhận hồ đăng biến động quyền sử dụng đất của H, nội dung đề nghị:
8
Thừa kế quyền sử dụng đất, ghép gộp thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất
thửa đất 168, tờ bản đồ số 04. Ngày 10/9/2025, Chi nhánh Văn phòng Đ đã hoàn
thiện thủ tục thừa kế cho H, thửa đất nêu trên. Đồng thời thực hiện thủ tục
chuyển nhượng thửa đất s168, tờ bản đồ số 04 từ Lỗ Thị H chuyển nhượng
cho bà Đỗ Thị N1 theo quy định.
Ngày 19/9/2025, Chi nhánh Văn phòng Đ đã phê duyệt hcấp
GCNQSDĐ cho bà Đỗ Thị N1 theo quy định của pháp luật.
[4]. Đối với yêu cầu khởi kiện của Lỗ Thị H yêu cầu UBND Đ nay
UBND H, phải bồi thường cho bà số tiền bị thiệt hại trong thời gian từ
năm 2022 đến nay, bà phải đi lại làm thủ tục tại UBND xã, khởi kiện tại Tòa án
với tổng số tiền 5.065.000.000đồng Hội đồng xét xử thấy rằng: Như phân tích
trên việc H nộp hồ sơ thừa kế quyền sử dụng đất từ chồng ông
Nguyễn Văn D (đã chết) sang tên bà, nhưng do không thống nhất được ranh
giới, mốc giới sử dụng đất với hộ giáp danh liền kề tranh chấp, nên h
không đủ điều kiện giải quyết, kéo dài (cần phải giải quyết tranh chấp xong).
UBND xã Đ đã thực hiện đúng theo quy định và không có lỗi trong việc kéo dài
hồ của của H, do đó UBND Đ nay là H không trách nhiệm phải
bồi thường các chi phí phát sinh hay các thiệt hại của H.
[5]. Từ các phân tích trên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo
của H, cần giữ nguyên quyết định của bản án thẩm, đề nghị của đại diện
Viện kiểm sát tỉnh Phú Thọ tại phiên tòa căn cứ, đúng quy định được Hội
đồng xét xử chấp nhận.
[6]. Về án phí: Án phí hành chính phúc thẩm do kháng cáo được chấp
nhận nên H phải chịu án ptheo quy định. H người cao tuổi, đơn
xin được miễn án phí, do vậy miễn án phí sơ thẩm cho bà H.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng Hành chính: Bác kháng cáo
của bà Lỗ Thị H, giữ nguyên Quyết định Bản án hành chính thẩm số:
01/2026/HC-ST ngày 08 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 -
Phú Thọ.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án
phí phúc thẩm cho bà Lỗ Thị H.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
9
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- TAND khu vực 11 - Phú Thọ;
- VKSND khu vực 11 - Phú Thọ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Xuân Trọng
Tải về
Bản án số 05/2026/HC-PT Bản án số 05/2026/HC-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 05/2026/HC-PT Bản án số 05/2026/HC-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất