Bản án số 142/2026/DS-PT ngày 22/05/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 142/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 142/2026/DS-PT ngày 22/05/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 142/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn nghị Tòa án nhân dân huyện Sông Lô (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ) giải quyết buộc anh Hà Văn H1 tự tháo dỡ công trình xây dựng trên phần diện tích đất rừng hơn 4.000m2 đã lấn chiếm của gia đình anh.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 142/2026/DS-PT
Ngày 22 - 5 - 2026
“V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất
lâm nghiệp và buộc tháo dỡ công
trình trên đất”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Trọng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Nghĩa.
Ông Nguyễn Vĩnh Thành.
- Thư phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hà - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú
Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ: Thị ơng -
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 22 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét
xử ng khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ số: 55/2026/TLPT-DS ngày 05
tháng 02 năm 2026. Do Bản án dân sự thẩm số: 42/2025/DS-ST ngày 26
tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 11, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 96/2026/QĐ-PT ngày 24
tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1946; CCCD số:
026046003278 ngày cấp 24/02/2022; Địa chỉ: thôn Q, xã T, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh
năm 1981; CCCD số: 026083001178 ngày cấp 16/9/2022; địa chỉ: Thôn Q,
T, tỉnh Phú Thọ, (Có mặt).
- Bị đơn: Anh Văn H1, sinh năm 1980; CCCD số: 026080000948 cấp
ngày 30/8/2021; Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ, (Có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Văn T, sinh năm 1950; CCCD số: 026050001400 cấp ngày
2
25/4/2021; cư trú tại: thôn Thanh Tú, xã Tam Sơn, tỉnh Phú Thọ
2. Đặng Thị V, sinh năm 1950; CCCD số: 026155001707 cấp ngày
25/4/2021; cư trú tại: thôn T, xã T, tỉnh Phú Th
Người đại diện theo uỷ quyền của ông T, bà V: anh Đỗ Việt H2, sinh năm
1995; CCCD số 02609500 2297 cấp ngày 09/01/2021; trú tại: xã T, tỉnh Phú
Thọ. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 02 tháng 10 năm 2023, cùng các lời khai tiếp
theo trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa người đại diện theo uỷ
quyền của nguyên đơn là anh Nguyễn Văn H trình bày:
Ông Nguyễn Văn C chủ sử dụng hợp pháp diện tích 1,9 ha (19.000m
2
)
đất lâm nghiệp thuộc tờ bản đồ số F-48-91-D-B-3, lô số 63địa chỉ khu vực Đ,
xã Đ, huyện S (nay là xã T, tỉnh Phú Thọ), theo Quyết định số 369/QĐ-UB ngày
15/6/1995 của UBND huyện L về việc giao rừng đất lâm nghiệp cho các tổ
chức, hộ gia đình, nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích Lâm nghiệp.
Theo Biên bản giao nhận đất lâm nghiệp tại thực địa ngày 20/6/1995 giữa Hạt
kiểm lâm huyện L, UBND Đ ông C chủ sử dụng đất, thì vị trí thửa đất
lâm nghiệp được giao ranh giới, mốc giới như sau: Phía Bắc tiếp giáp với
đất của ông K, phía Nam tiếp giáp với lô đất của ông B, phía Đông tiếp giáp với
đất của ông H3, phía Tây tiếp giáp với hồ B. Ngay sau khi được giao đất, gia
đình ông C đã sử dụng đất được giao vào đúng mục đích. Việc sử dụng, quản
lý lô đất trên diễn ra liên tục, ổn định và không có tranh chấp với bất kỳ cơ quan,
tổ chức, hộ gia đình hay cá nhân nào khác.
Đến năm 2006, Nhà nước thực hiện Dự án cải tạo nâng cấp đường T - V
- S" huyện L, theo Quyết định số 3275/QĐ - UBND ngày 07/12/2006 đã thu hồi
1.170m
2
đất, trong tổng số 19.000m
2
của đất nêu trên. Phần vtrí đất thu hồi
để làm đường cắt ngang chia đất lâm nghiệp được giao nêu trên thành 02
đất, ngăn cách nhau bởi đường T - V - S thuộc địa phận Đ ường dẫn vào
khu T). Trong đó, một đất tiếp giáp với hồ B. Sau khi bị thu hồi một phần
diện tích Lô đất nói trên, gia đình anh vẫn canh tác lâm nghiệp trên toàn bộ 02 lô
đất bị “tách ra” sau khi mở đường. Việc sử dụng ổn định liên tục. Suốt quá
trình từ năm 1995 được giao đất cho đến trước thời điểm phát sinh dịch Covid
19 không có tranh chấp.
Đến thời điểm dịch Covid 19 bùng phát, sức khỏe ông C yếu, các con đi
làm ăn xa không về được nên không thể thường xuyên hằng ngày mặt trông
3
coi 02 lô đất trên. Chính vì vậy mới dẫn đến việc ông Văn T và bà Đặng Thị
V đang sử dụng diện tích đất bên cạnh, (diện tích đất của nhà ông T, V trước
đây là vườn ươm của Kiểm Lâm có vị trí giáp lô đất của ông K), đã lợi dụng tự ý
bán diện tích đất khoảng 4.000m
2
thuộc một phần lô đất ông C được giao từ năm
1995 cho anh n H1. Vị trí phần diện tích đất ông T, V bán cho anh H1
phía tây Lô đất ông C được giao tiếp giáp với hồ B. Việc mua bán giữa hai
bên ông C cùng gia đình anh không ai biết, mà chỉ biết có việc mua bán do được
anh H1 cung cấp thông tin như vậy.
Từ đó anh H1 đã tự ý xây dựng trái phép tường bao quanh diện tích đất đã
chiếm khoảng hơn 4.000m
2
, tại vị trí giáp mặt hồ B của gia đình ông C. Việc
xây dựng này đã chặn hoàn toàn đường từ thửa đất xuống hồ của ông C. Gia
đình ông C đã nhiều lần yêu cầu anh H1 vợ chồng ông T, V phải tháo dỡ
công trình trả lại diện tích đất nêu trên nhưng anh H1, ông T V đều không
đồng ý. Gia đình ông C đã yêu cầu chính quyền địa phương giải quyết, do sức
khỏe yếu nên khi hòa giải ông C đã để con trai Nguyễn Văn H (con ông C)
đứng ra làm việc tại các buổi hòa giải.
Nay gia đình anh đề nghị Tòa án nhân dân huyện Sông (nay Tòa án
nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ) giải quyết buộc anh Hà Văn H1 tự tháo dỡ công
trình xây dựng trên phần diện tích đất rừng hơn 4.000m
2
đã lấn chiếm của gia
đình anh.
Bị đơn anh Văn H1 quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa trình
bày: Anh không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn, anh xác định diện tích đất
anh đang sử dụng của ông T, V khai khoang sdụng, m nhà các
công trình phụ trên đất từ trước những năm 1985. Hiện tại ông T, V1 già
yếu đến năm 2019 nhượng lại cho anh, anh đã sử dụng đúng diện tích ông T
V chuyển nhượng lại, anh đã xây dựng trang trại chăn nuôi xây tường rào
bao quanh khu đất của ông T, bà V mà không ai ý kiến gì kể cả ông C gia
đình ông C.
Nay ông C đề ngh Tòa án nhân dân khu vc 11 - Phú Th gii quyết,
buc anh t tháo d công trình xây dng trên phn diện tích đất đã chiếm trái
phép ca ông C, và tr li ông C diện tích đất hơn 4.000m
2
đất rng là không
căn cứ. theo anh được biết năm 1995, UBND huyn L (cũ) đã giao rừng
đất lâm nghiệp cho gia đình ông C qun lý s dng là 19.000m
2
, nhưng đến năm
2006 Nhà nước thc hiện Dự án ci to nâng cp đưng T - V - S" huyn L,
theo Quyết định s 3275/QĐ – UBND ngày 07/12/2006 đã thu hi 1.170m
2
đất,
trong tng s 19.000m
2
của gia đình ông C đến năm 2011, UBND huyn S,
UBND Đ Ht kim m huyn S (cũ) đo đạc lại giao đt rng cho h
ông C 15.000m
2
ranh gii thửa đất tiếp giáp với con đường liên xã T - V -
4
S. Nay ông C anh H yêu cu anh tháo d tr lại diên tích đất hơn 4.000m
2
đất rng ti khu vc Đ, xã Đ (cũ) thì anh không đồng ý.
Người quyn lợi nghĩa vụ liên quan ông Văn T, bà Đặng Th V
vng mt tại phiên tòa nhưng trong quá trình gii quyết v án ông T, V trình
bày: Khoảng năm 1980, Nhà c ch trương kêu gọi người dân địa phương
vào làm kinh tế, tăng gia đi sng ti khu vc N, h B. Sau đó gia đình ông
vào khu vc N khai hoang đ làm kinh tế. Trong quá trình s dụng gia đình ông
xây dng nhà , chung trại chăn nuôi trng các cây cối lâu năm trên
thửa đất. Gia đình ông bà sử dng ổn định t năm 1980 đến năm 2019, trước khi
chuyển nhượng cho anh Văn H1 thì gia đình ông chưa nhận được bt k
đơn thư nào v gii quyết tranh chp đất đai, cũng như văn bn của cơ quan Nhà
c v x pht vi phạm trong lĩnh vực đất đai đối vi thửa đất ca ông s
dng.
Cuối năm 2019, do sức khoẻ già yếu ông không sdụng được
chuyển nhượng lại cho anh Hà Văn H1 cùng thôn, thửa đất trên anh H1 sử dụng
từ đó đến nay. Sau khi anh H1 mua thửa đất có thuê đơn vị đo đạc để xác định vị
trí trên bản đồ thì được biết thửa đất trên không nằm trong ranh giới đất rừng do
Kiểm lâm quản lý. Hiện nay anh H1 vẫn đang sử dụng.
Việc anh H (con trai ông Nguyễn Văn C) cho rằng anh H1 đang lấn chiếm
đất gia đình ông C là không có căn cứ bởi vì những lý do sau:
Một là: Trong bản đồ giao đất lâm nghiệp năm 1995 do Chi cục Kiểmm
quản lý, tranh giới giao rừng của gia đình ông Nguyễn Văn C ô số 63 diện
tích 1,9ha (một mặt giáp đường, một mặt giáp ông B, một mặt giáp ông K, một
mặt giáp nhà ông H3).
Hai là: Gia đình ông bà sử dụng từ năm 1980, đến khi chuyển nhượng cho
anh H1 và sử dụng trước khi gia đình ông C mới được giao đất rừng.
Ba là: Theo bản đồ do Chi cục Kiểm lâm quản thì ông, được biết
phần diện tích đất đang tranh chấp là phần diện tích nằm ngoài ranh giới bản đồ
thực địa rừng do Chi cục Kiểm lâm quản lý, nên không có lý do gì xác định rằng
ông lấn chiếm đất của ông C. Chi cục Kiểm m không quản lý, nên cũng
không có quyền giao.
Bốn là: Ông, khẳng định phần diện tích đất gia đình ông, phần
diện tích đất gia đình ông C không chung ranh giới, giữa đất hai nhà cách
nhau 01 con đường được thể hiện trên bản đồ hiện trạng hồ giao rừng nhà
ông C, nên không có sự lấn chiếm.
Việc gia đình ông, nhượng lại diện tích đất cho anh H1 hai bên hoàn
5
toàn nhất chí không ý kiến gì. Quan điểm của ông, bà đnghị Toà án
nhân dân khu vực 11 – Phú Thọ không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của gia đình
ông C, để đảm bảo quyền lợi cho bên mua là anh Hà Văn H1.
Vi ni dung trên, ti bn án dân s thẩm s: 42/2025/DS-ST ngày 26
tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vc 11 - Phú Th đã Căn cứ khoản
9 Điều 26, các Điều 35, 39, 147, 157, 158, 165, 166, 227 và 228 của Bộ luật tố
tụng dân sự; các Điều 166, 170, 203 Luật đất đai; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án,
xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C vviệc
buộc anh Văn H1 phải trả lại phần đất có diện tích 2.605,8m
2
tại số 63, tờ
bản đồ số F-48-91-D-b-3, địa chtại thôn T, xã Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (nay
thôn T, T, tỉnh Phú Thọ) tháo dỡ công trình trên đất, (đồ chi tiết
kèm theo).
Ngoài ra bn án còn quyết định v án phí, quyền kháng cáo theo quy đnh
ca pháp lut.
Ngày 06/11/2025 ông Nguyễn Văn C đơn kháng cáo, đề ngh sa bn
án sơ thẩm theo hướng chp nhn yêu cu khi kin của nguyên đơn
Tại phiên tòa đi din Vin kim sát nhân dân tnh Phú Th phát biu
quan điểm ti phiên tòa v vic chp hành pháp lut t tng và gii quyết v án.
Đối vi Hội đồng xét x phúc thm, Thư ký phiên tòa tuân th đầy đủ, đúng các
quy định ca pháp lut t tng dân sự; các đương sự chấp hành đúng quy định
ca pháp lut.
V đưng lối, đề ngh Hội đồng xét x căn cứ vào khoản 1 Điều 308 ca
B lut T tng dân s; Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ca
Ủy ban thường v Quc hội quy đnh v mc thu, min, gim, thu, np, qun
và s dng án phí và l phí Tòa án, không chp nhn kháng cáo ca ông Nguyn
Văn C, gia nguyên Bn án dân s thẩm s: 42/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vc 11 Phú Th.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về ttụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn C mc làm quá
thi hạn kháng cáo theo quy đnh, tuy nhiên sau khi ông C đơn giải trình
do kháng cáo quá hn, ti Quyết đnh s 02/2026/QĐ-PT ngày 07/01/2026
ca Tòa án nhân dân tnh Phú Th đã chấp nhn kháng cáo ca ông C, do đó nội
6
dung kháng cáo ca ông C được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Quá trình giải
quyết vụ án cấp thẩm đã xác định đúng về quan hệ pháp luật tranh chấp, thời
hiệu, tư cách đương sự và thẩm quyền giải quyết vụ án.
[2]. Về nội dung: Nguyên đơn ông C và người đại diện là anh H cho rằng,
ông C chủ sử dụng hợp pháp diện tích 1,9 ha (19.000 m
2
) đất lâm nghiệp,
thuộc tờ bản đồ số F-48-91-D-B-3, số 63 địa chỉ khu vực Đ, xã Đ, huyện S
(nay là xã T, tỉnh Phú Thọ), theo Quyết định số 369/QĐ-UB ngày 15/6/1995 của
UBND huyện L về việc giao rừng đất lâm nghiệp. Theo Biên bản giao nhận
đất ngày 20/6/1995 giữa Hạt kiểm lâm huyện L, UBND xã Đ và ông C, thì vị trí
diện tích đất lâm nghiệp được giao có ranh giới, mốc giới như sau: Phía Bắc tiếp
giáp với đất của ông K, phía Nam tiếp giáp với đất của ông B, phía Đông
tiếp giáp với lô đất của ông H3, phía Tây tiếp giáp với hồ B. Ngay sau khi được
giao đất, gia đình ông C đã sdụng đất được giao vào đúng mục đích. Việc
sử dụng, quản đất trên diễn ra liên tục, ổn định không tranh chấp với
bất kỳ cơ quan, tổ chức, hộ gia đình hay cá nhân nào khác.
[2.1]. Đến năm 2006, khi Nhà nước thực hiện “Dự án cải tạo nâng cấp
đường T - V - S" huyện L đã thu hồi 1.170m
2
đất, trong tổng số 19.000m
2
của lô
đất nêu trên. Phần vtrí đất thu hồi để làm đường cắt ngang chia đất lâm
nghiệp được giao nêu trên thành 02 lô đất, ngăn cách nhau bởi con đường
(đường dẫn vào khu T). Đến thời điểm dịch Covid 19 bùng phát, sức khỏe ông C
đã yếu, các con đi làm ăn xa không thường xuyên có mặt trông coi. Chính vì vậy
mới dẫn đến việc ông Văn T Đặng Thị V đang sử dụng diện tích đất
bên cạnh, đã tự ý chuyển nhượng diện tích khoảng hơn 4.000m
2
đất, thuộc một
phần đất của ông C được giao từ năm 1995 cho anh Văn H1. Hiện tại anh
H1 đã xây dựng trái phép tường bao quanh diện tích đất lấn chiếm khoảng hơn
4.000m
2
, tại vị tgiáp mặt hồ B của gia đình ông C. Việc xây dựng đã chặn
hoàn toàn đường từ thửa đất xuống hồ của gia đình ông C. Gia đình ông đã
nhiều lần yêu cầu anh H1 vợ chồng ông T, V phải tháo dỡ công trình trả
lại diện tích đất rừng hơn 4.000m
2
.
[3]. Mặc ông C người đại diện trình bày ntrên, tuy nhiên căn cứ
các tài liệu chứng cứ thu thập được thể hiện: Tòa án cấp thẩm tiến hành xác
minh tại UBND Đ (cũ) được biết, tại thời điểm cấp GCNQSDĐ cho hộ Chỉ
không tiến hành đo đạc thực tế thửa đất, mà cấp trên cơ sở kê khai của các hộ đã
được giao đất rừng, giữa các chủ sử dụng đất liền kề; căn cứ vào nội dung kê
khai của hộ với trưởng thôn theo bản đồ lâm nghiệp giao đất. Lời khai của
những người làm chứng liên quan việc giao và sử dụng đất đều xác định, diện
tích đất ông C được giao sử dụng đến mép con đường mòn là hết, không có việc
giao đất cho hộ ông C sử dụng vượt qua con đường đến mặt hồ.
7
[3.1]. Năm 2006 khi triển khai Dự án cải tạo nâng cấp đường T - V - S"
huyện L, theo Quyết định số 3275/QĐ - UBND ngày 07/12/2006, đã thu hồi
1.170m
2
đất trong tổng số 19.000m
2
của lô đất trên. Tuy nhiên phần vị trí đất thu
hồi để mở rộng con đường, vào đúng vị trí con đường mòn, không việc con
đường cắt ngang chia đôi thửa đất lâm nghiệp được giao của ông C như ông
trình bày chia thành 02 đất, ngăn cách nhau bởi đường T - V - S thuộc địa
phận Đ (đường dẫn vào khu T), trong đó một đất tiếp giáp với hồ B.
Năm 2006 sau khi UBND huyện L thu hồi một phần diện tích lô đất nói trên đ
làm đường, các hộ tại khu vực Đ vẫn sử dụng quản lý.
[3.2]. Đến năm 2011 gia đình ông C đơn xin giao rừng, UBND huyện
S, UBND Đ Hạt kiểm m huyện S (cũ) khi đo đạc lại căn cứ vào đơn
xin giao đất rừng, hồ giao đất rừng cho hộ ông Nguyễn Văn C, UBND huyện
S đã Quyết định số 1953/QĐ-CT ngày 30/12/2011 giao cho ông Nguyễn Văn
C diện tích 1,5ha rừng phòng hộ, tại C, khoảnh 1B, tiểu khu Đ sử dụng vào
mục đích lâm nghiệp, có bản đồ giao rừng kèm theo, giáp ranh các hộ liền kề và
chỉ dẫn giới tuyến của đất cũng chỉ đến mép đường đi liên xã.
[3.3]. Đối với diện tích đất rừng của ông C quản sdụng, theo anh H
chỉ dẫn bao gồm cả phần đất rừng đang tranh chấp với anh H1, kết quả thẩm
định ngày 21/3/2024 là 14.067,6m
2
. Kết quả đo đạc theo sơ đồ giao rừng, bản đ
lâm nghiệp hạt kiểm lâm quản diện tích đất rừng thì ông C đang quản
20.774.1m
2
(Kết quả đo đạc theo anh H chỉ mốc giới đến hành lang đường liên
xã, diện tích 10.668.8m
2
), nguyên nhân do sai số đo đạc từ thời kỳ trước
(đo thủ công bằng phương pháp tự căng dây).
[4]. Trên thực tế mốc giới (ranh giới) đất giữa các hộ liền đã tồn tại t
năm 2011 thể hiện hồ giao rừng, phía tây của thửa đất được xác định đất
được giao các đường nét đứt vạch ngang, trùng với hiệu đường tông liên
xã, nên không việc làm đường tách thửa đất ra làm hai. Do đó, xét về nguồn
gốc đất, quá trình sdụng đất, trích đo thửa đất, thực trạng ranh giới đất hai hộ
sử dụng ổn định sở xác định: Phần diện tích đất 2.605,8m
2
tranh chấp
không thuộc quyền sử dụng của gia đình ông C; việc ông C cho rằng gia đình
ông T, V sau này đến anh H1 sử dụng lấn chiếm diện tích đất khoảng hơn
4.000m
2
là không có cơ sở.
[4.1]. Theo kết quả xác minh biên bản thẩm định ngày 21/3/2024, diện
tích đất 8.115,5m
2
tại địa chỉ khu vực Đ, Đ, huyện S (nay T, tỉnh Phú
Thọ) được xác định là ông T, bà V khai hoang để trồng cây và xây dựng chuồng
trại chăn nuôi khoảng từ năm 1980, không tranh chấp với ai. Theo bản đồ
giao đất lâm nghiệp năm 1995 do Chi cục Kiểm m quản lý, thì ranh giới giao
rừng của gia đình ông C ô số 63, diện tích 1,9ha, một mặt giáp đường, một
8
mặt giáp ông B, một mặt giáp ông K, một mặt giáp nhà ông H3. Ông T, bà V
khẳng định phần diện tích đất gia đình ông, bà và phần diện tích đất gia đình ông
C không chung ranh giới, giữa đất hai nhà cách nhau 01 con đường, được thể
hiện trên bản đồ hiện trạng, hồ giao rừng nhà ông C nên không sự lấn
chiếm.
[4.2]. Năm 2019 do ông T, bà V già yếu không trông nom được đã chuyển
nhượng cho anh Văn H1. Việc ông, nhượng lại diện tích đất cho anh H1
hoàn toàn tự nguyện, hai bên hoàn toàn nhất chí không ý kiến . Quan
điểm của ông T, V anh H1 không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của gia
đình ông C. Như vậy sở xác định phần diện tích đất 2.605,8m
2
tranh chấp
không thuộc quyền sử dụng của gia đình ông C; việc ông C cho rằng gia đình
ông T, V sau này đến anh H1 sử dụng lấn chiếm diện tích đất khoảng hơn
4000m
2
không sở. Cấp thẩm sau khi xem xét toàn diện nội dung vụ
án, đã không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C là căn cứ, đúng quy
định.
[5]. Từ phân tích trên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của
ông C, giữ nguyên bản án dân sự thẩm. Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phiên tòa căn cứ, đúng quy định của pháp luật
nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6]. Về chi phí tố tụng: Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ định giá
tài sản: Do yêu cầu khởi kiện của ông C không được chấp nhận, nên ông C phải
chịu toàn bchi phí xem xét thẩm định tại chỗ định giá tài sản (xác nhận
nguyên đơn ông C đã tạm ứng và chi xong).
[7]. Về án phí dân sthẩm phúc thẩm: Ông C người cao tuổi,
đơn đề nghị miễn án phí, do đó miễn nộp tiền án phí sơ thẩm phúc thẩm cho
ông C.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 ca B lut T tng dân s: Không chp nhn
kháng cáo của ông Nguyễn Văn C, giữ nguyên Bản án dân s thẩm số
42/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 -
Phú Thọ.
Áp dụng khoản 9 Điều 26, các Điều 35, 39, 147, 157, 158, 165, 166, 227
228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 166, 170, 203 của Luật đất đai;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí
Tòa án, xử:
9
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C vviệc
buộc anh Văn H1 phải trả lại phần đất có diện tích 2.605,8m
2
tại số 63, tờ
bản đồ số F-48-91-D-b-3; địa chỉ tại: Thôn T, Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc
(nay là thôn T, xã T, tỉnh Phú Thọ) và tháo dỡ công trình trên đất.
2. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn C phải chịu 20.000.000 đồng (Hai
mươi triệu đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định định giá tài sản; ông C đã
nộp đủ chi phí tố tụng.
3. Về án phí: Ông Nguyễn Văn C được miễn án phí dân sự thẩm án
phí phúc thẩm.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT X
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Nghĩa
Nguyn Xuân Trng
Tải về
Bản án số 142/2026/DS-PT Bản án số 142/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 142/2026/DS-PT Bản án số 142/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất