Bản án số 129/2026/DS-PT ngày 15/05/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 129/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 129/2026/DS-PT ngày 15/05/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 129/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia di sản thừa kế
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 129/2026/DS-PT
Ngày 15 - 5- 2026
V/v Tranh chấp về thừa kế tài sản.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập-Tự do-Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nghĩa.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Sơn và ông Nguyễn Vĩnh Thành
- Thư phiên toà: Hoàng Thị Lan Hương - Thư Toà án nhân dân
tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm t nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà:
Ông Phùng Ngọc Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ (cơ
sở 2) xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 251/2025/TLPT-DS ngày 18
tháng 11 năm 2025 về việc Tranh chấp về thừa kế tài sản. Do bản án dân sự sơ
thẩm số 19/2025/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 Quyết định sửa chữa bổ
sung bản án sơ thẩm số 19/2025/QĐ-SCBSBA ngày 10/9/2025 của Toà án nhân
dân khu vực 11 - Phú Thọ bị kháng cáo, kháng nghị. Theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử số 44/2026/QĐ-PT ngày 16 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị H, sinh năm 1961; nơi cư trú: Thôn T, xã
Đ, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Thị H: Ông Trường H1, sinh
năm 1984; nơi cư trú: Số C P, Khu đô thị H, phường V, tỉnh Phú Thọ - Là người
đại diện theo ủy quyền (Theo văn bản ủy quyền ngày ngày 20/10/2022);
Người được ủy quyền lại: Ông Phạm Quốc H2, sinh năm 1997; Nơi
trú: Thôn Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ - (Theo văn bản ủy quyền ngày 29/10/2022) (có
mặt);
Người bảo vquyền lợi ích hợp pháp của Nguyễn Thị H: Ông
Trường H1- Luật thuộc Công ty L4; địa chỉ: Số C P, Khu đô thị H, phường
V, tỉnh Phú Thọ (có mặt);
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Quang H3, sinh năm 1971; Nơi trú: Thôn B,
xã T, tỉnh Phú Thọ;
Người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Quang H3: Ông Lương Văn C,
sinh năm 1960; nơi trú: Số A đường B, khu A, phường V, tỉnh Phú Thọ -
2
người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 03/01/2022) (có
mặt);
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh H3: Ông Vũ Văn D, sinh
năm 1957- Luật sư Công ty TNHH V (có mặt);
3. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Chị Nguyễn Thị T sinh năm 1975; Nơi cư trú: Thôn B, xã T, tỉnh Phú
Thọ (có mặt);
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của chị Nguyễn Thị T: Ông
Văn D, sinh năm 1957 ông Lương Văn C, sinh năm 1960 - Luật sư Công ty
TNHH V (đều có mặt);
3.2. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1946 (có mặt);
3.3. Chị Nguyễn Thị Ngọc L1, sinh năm 1976 (có mặt);
Đều cư trú: Thôn B, xã T, tỉnh Phú Thọ;
3.4. UBND huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc;
quan kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của UBND huyện S: UBND
xã T, tỉnh Phú Thọ - Chủ tịch ông Nguyễn Ngọc K
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Ngọc K: Ông Trần Đình
T1 - Phó chủ tịch UBND T, tỉnh Phú Thọ (theo văn bản ủy quyền ngày
21/7/2025) (vắng mặt);
3.5. Ngân hàng TMCP L5;
Đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Nam T2, Tổng giám đốc;
Người được ủy quyền: Ông Hồ Tuấn L2- Giám đốc Ngân hàng TMCP L5,
Chi nhánh V1.
Người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Văn M (vắng mặt) ông Phạm
Tiến L3 (có mặt) - cán bộ ngân hàng (Theo văn bản y quyền ngày ngày
26/8/2024 và 19/8/2025); địa chỉ: Số B đường N, phường V, tỉnh Phú Th;
3.6. Anh Nguyễn Quang H4, sinh 1974; trú tại: Số G đường P, thôn P,
S, thành phố Nội; đang công tác tại: Trung tâm V2 Bộ N; địa chỉ: B L,
phường H, thành phố Hà Nội (có mặt);
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị H; bị đơn anh
Nguyễn Quang H3; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Quang
H4, chị Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thị Ngọc L1;
5. Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu
vực 11 – Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện đngày 21 tháng 12 năm 2022 đơn khởi kiện bổ
sung ngày 09/3/2023, ngày 21/12/2024 cùng các lời trình bày tiếp theo trong
quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện ủy quyền của nguyên
3
đơn ông Nguyễn Quốc H5 trình bày: Nguyễn Thị H con gái duy nhất
của cụ Đào Thị C1 (T), anh Nguyễn Quang H3 không quan hệ gì,
anh H3 không cùng bố, cùng mẹ. Bố mẹ cụ Đào Thị C1 cụ Nguyễn
Quang H6, quá trình hai cụ chung sống có sinh được 02 người con là bà và ông
Nguyễn Khắc D1 (đã chết năm 1971 không vợ con). Trong quá trình cụ C1
cụ H6 chung sống, cụ H6 chung sống cùng cả với Nguyễn Thị L (có
đăng kết n hay không không biết, nhưng sống chung từ năm 1973
nông trường T) S được 02 người con chung cùng cụ H6 gồm: anh
Nguyễn Quang H4, sinh năm 1974 chị Nguyễn Thị Ngọc L1, sinh năm
1976, còn anh Nguyễn Quang H3, sinh năm 1971 là con riêng của bà L. Khi bố
mẹ bà kết hôn, mẹ bà làm ruộng và sinh sống trên thửa đất số 407, tờ bản đồ số
02, diện tích 1304m
2
, trong đó 200m
2
đất 1104m
2
đất vườn, còn bố
là cụ H6 làm cán bộ nông trường T. Khi cụ H6 và bà L sống chung với nhau từ
năm 1973 sinh sống L, Vĩnh Phúc đến năm 1989 thì nghỉ hưu và năm
1990 về sinh sống thị trấn T nhưng không cùng với cụ T3. Cụ H6 L
mua đất làm nở nơi khác nhưng cùng tổ dân phố. Năm 2003, cụ T3 về với
cụ H6, bà L đến khi cụ T3 chết (cụ T3 chết năm 2009, không để lại di chúc gì)
trên thửa đất của cụ H6 L mua. Nguồn gốc thửa đất 407, tờ bản đồ số 02
tổ dân phố B mà cụ T3 ở khi còn sống là do ông bà tổ tiên để lại.
Khi cụ C1 còn sống, H thường xuyên về thăm cụ C1, cụ C1 không nói về
việc cho ông H3 đất. Khi cụ T3 chết, cụ H6 là người chôn cất và cúng giỗ cụ C1.
Cụ C1 không cho anh H3 đất, chỉ cho ở nhờ, đến khi anh H3 làm nhà năm 2019
H không biết, cuối năm 2019 bà mới biết anh H3 làm nhà bà H không đồng ý
và yêu cầu tháo dỡ nhà để trả đất nhưng anh H3 không đồng ý.
Gần đây, H phát hiện anh Nguyễn Quang H3 được cấp giấy chứng nhận
quyền s dụng đất số BP801676, s vào sổ cấp GCN số CH 00230/QSDĐ-
UBND. Khi phát hiện sự việc trên, H đã nhiều lần yêu cầu anh H3 trả lại
quyền sử dụng đất này nhưng anh H3 không trả. Hiện nay, anh H3 đã xây dựng
nhà trên diện tích nói trên, sau nhiều lần hòa giải nhưng hai bên không thống
nhất được phương án giải quyết vụ việc. Hành vi lấn chiếm đất đai của anh H3
đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà H. Ngoài thửa
đất nói trên, cụ C1 còn để lại thửa đất số 408 tại xđồng Mả Thượng diện tích
288m
2
; thửa đất số 58.1 xứ đồng Bệu, diện tích 264m
2
; thửa đất số 68.2 xứ đồng
Chầm Dâu, diện tích 48m
2
; thửa đất số 409 tại xứ đồng Mả Thượng diện tích
72m
2
. Toàn bộ các thửa đất trên hiện nay đều do vợ chồng anh H3, chị T quản
lý, sử dụng mà không được cT3 di chúc để lại cho. Lúc đầu, H đề nghị:
Buộc anh Nguyễn Quang H3 phải trả lại cho bà H các thửa đất số 407, tờ bản đồ
số 02, diện tích 1304m
2
; thửa đất số 408 tại xứ đồng Mả Thượng diện tích
288m
2
; thửa đất số 58.1 xứ đồng Bệu, diện tích 264m
2
; thửa đất số 68.2 xứ đồng
Chầm Dâu, diện tích 48m
2
; thửa đất số 409 tại xứ đồng Mả Thượng diện tích
72m
2
hủy toàn bộ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP801676, số vào
sổ cấp GCN số CH 00230/QSDĐ- UBND đối với thửa đất số 407, tờ bản đồ số
02, diện tích 1304m
2
do UBND huyện S cấp cho anh Nguyễn Quang H3. Buộc
anh Nguyễn Quang H3 phải tháo dỡ toàn bộ diện tích nhà xây dựng lấn chiếm
tại thửa đất số 407, tờ bản đồ s02. Nay vẫn giữ nguyên yêu cầu hủy giấy
4
chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên anh H3 ngày 14/7/2024 và buộc ông H3
phải tháo dỡ, di dời tất cả các công trình, nhà ở, tài sản gắn liền với đất tại thửa
đất số 407. Ngoài ra, H còn yêu cầu phân chia di sản thừa kế của cụ Đào Thị
C1 cụ Nguyễn Quang H6 đối với thửa đất số 407, tờ bản đồ số 02, diện tích
1304m
2
04 thửa đất nông nghiệp gồm: thửa số 408 tại xứ đồng Mả Thượng
diện tích 288m
2
, diện tích hiện trạng 373m
2
; thửa số 409 tại xứ đồng Mả
Thượng diện tích 72m
2
, diện tích hiện trạng là 234,83m
2
; thửa số 58.1 tại xứ
đồng Bệu diện tích 264m
2
, diện tích hiện trạng 225,5m
2
; thửa số 68.2 tại xứ
đồng Chầm Dâu diện tích 48m
2
, diện tích hiện trạng 44,7m
2
. xin nhận kỷ
phần bằng hiện vật.
Bị đơn anh Nguyễn Quang H3 trình bày: Anh gọi cụ Nguyễn Quang H6 (chết
năm 2013) bố, cụ H6, L nuôi dưỡng anh từ bé. Bố anh 02 vợ: vợ cả
cụ Đào Thị C1, sinh năm 1922 (chết năm 2009); vợ thứ hai là Nguyễn Thị L,
sinh năm 1946 (là mẹ đẻ anh). Hiện L đang cùng vợ chồng anh. Cụ H6
cụ C1 03 người con gồm: anh Nguyễn Khắc D1 (tử sỹ- chết năm 1969 trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ, không vợ con); chị Nguyễn Thị C2 (chết từ
nhỏ) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1961.
Cụ Nguyễn Quang H6 cùng với manh Nguyễn Thị L từ năm 1971
02 người con gồm: Nguyễn Quang H4, sinh năm 1974 Nguyễn Thị Ngọc
L1, sinh năm 1976, còn anh con riêng của bà L. Cụ H6 cụ C1 tài sản
quyền sử dụng thửa đất số 407, tờ bản đồ số 02, diện tích 1304m
2
trong đó
200m
2
đất 1104m
2
đất vườn, tổ dân phố B, thị trấn T, huyện S, tỉnh Vĩnh
Phúc (cũ), nay là thôn B, xã T, tỉnh Phú Thọ. Năm 1999, thửa đất này được Ch
tịch UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ cụ Đào
Thị C1. Năm 1993, anh lấy vợ cùng với bố mẹ anh trên diện tích đất khác,
đến năm 1995 mới chuyển về cùng với cụ C1. Năm 1999, do nhà tranh trát
vách của cụ C1 bị đổ nên vchồng anh đã xây dựng lại ngôi nhà cấp bốn 03
gian, diện tích khoảng 73m
2
đở, năm 2002 anh xây thêm 01 nhà ngang lợp
ngói diện tích 29m
2
. Khi vợ chồng anh y nhà đều được sự đồng ý của cụ H6
cụ C1, khi xây xong nhà cụ C1 cùng anh do vợ chồng anh trông nom,
chăm c. Trong thời gian cụ H6 và cụ C1 n sống, khi hai cụ n minh mẫn,
hai cụ vẫn bảo sẽ cho anh mảnh đất trên. Gần cuối năm 2008, cụ C1 đưa giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất để anh đi làm thủ tục sang tên cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đứng tên anh. Sau đó, cụ C1 ra trên mảnh đất hiện cụ
H6 và bà L đang ở để tiện chăm sóc, việc đi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cụ H6 trực tiếp đi làm cho anh. Năm 2009, anh được UBND huyện S cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất đang tranh chấp đứng tên
anh.
Kể từ năm 2009, khi bố mẹ anh cho đất đến nay không ai có ý kiến, thắc mắc gì.
Quá trình anh được bố mẹ cho đất làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quá trình vợ chồng anh làm nhà, phụng dưỡng bố mẹ, anh em, chị em
trong gia đình không ai điều tiếng thắc mắc gì. Đến ngày 15/5/2019 âm lịch,
hôm đó ngày giỗ cụ C1, tại buổi giỗ đó anh thông báo với mọi người
(trong đó cả vợ chồng H) về việc anh sửa chữa lại nhà H cũng đồng
5
ý, không ý kiến gì. Khi đó, hai bên chỉ họp thống nhất bằng miệng. Sau đó,
đến tháng 6/2019 (âm lịch) anh làm nhà và đến tháng 10/2019 bà H gọi điện về
đòi chia một nửa đất, lúc đó anh bảo việc này một mình anh không định đoạt
được. Đầu năm 2020, bà H về, gia đình anh đã thỏa thuận thống nhất sẽ mua lại
phần đất của H, lúc đó H đòi 300.000.000đ, nhưng giá đất cao nên anh
bảo H xuống giá và hai bên thống nhất 200.000.000đ. Khi đó, do anh mới
làm nhà xong chưa tiền nên xin khất. Song một thời gian sau H lại nói
rằng không lấy tiền nữa lấy đất. Qua rất nhiều lần thỏa thuận quyết
định cắt đất cho H một phần đất, hai bên làm giấy thỏa thuận xác
nhận của anh em trong nhà về việc cắt cho bà H 125m
2
đất trong đó có 50m
2
đất
ở, còn lại là đất trồng cây lâu năm. Đến năm 2022, H lại thay đổi, bà đòi một
nửa thửa đất nên anh không đồng ý.
Năm 2005, trong ngày giỗ bố chồng cụ C1, anh đã bảo với bà H nếu về trông
nom, chăm sóc cụ C1 thì anh sẽ trao trả lại toàn bộ tài sản để anh ra mảnh đất
cụ H6 và bà L ở, nhưng bà H nói rằng bà H không về vì có 02 cậu ở đây, hai cậu
sẽ trông nom cụ C1. Sau đó, cụ C1 trực tiếp lấy bìa đỏ ống tre đưa cho anh để
anh đi vay tiền. Nay bà H khởi kiện anh, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đứng tên anh, yêu cầu chia thừa kế đối với thửa đất số 407, tờ bản đồ
số 02, diện tích 1304m
2
04 thửa đất ruộng hiện anh đang quản sử dụng và
yêu cầu anh tháo dỡ toàn bộ công trình trên thửa đất 407, anh không đồng ý
đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị L trình bày: Bà
mẹ đẻ của anh Nguyễn Quang H3. Anh H3 không phải là con ruột của cụ H6,
anh H3 sinh năm 1971, bà kết hôn với ông H6 năm 1972. Khi kết hôn, và
ông H6 chỉ tổ chức quan không đăng kết hôn theo quy định. Khi
ông H6 kết hôn, ông H6 đang vợ cụ Đào Thị C1. ông H6 02
người con chung là: Nguyễn Quang H4, sinh năm 1974 Nguyễn Thị Ngọc
L1, sinh năm 1976. Sau khi kết hôn, bà ông H6 nông trường Tam Đảo đến
năm 1989, ông H6 nghỉ hưu về thị trấn T sinh sống cùng cụ C1 trên thửa đất
của bố mông H6 để lại. Trong năm 1989, cùng ông H6 mua đất tổ dân
phố B làm nhà riêng cùng các con, còn nhà đất của bmông H6, cụ C1 ở.
Đến năm 1994, anh H3 kết hôn, hai vợ chồng về ở cùng với C1 trên thửa đất
của các cụ cho đến nay. Đến năm 2013, ông H6 chết, cùng con trai thứ hai
là anh H4, đến năm 2019 bà về ở cùng anh H3 cho đến nay.
Nguồn gốc diện tích đất hiện nay anh H3 đang của bố mẹ đẻ ông H6,
năm 1999 được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên cụ
C1, đến năm 2008, cụ C1 ông H6 cho vợ chồng anh H3 thửa đất này, đến
năm 2009 anh H3 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc C1,
ông H6 cho vợ chồng anh H3 đất và anh H3 được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất H cũng biết vợ chồng anh H3 công nuôi dưỡng, chăm c cụ
C1. Bà H đồng ý cho anh H3 sử dụng và sở hữu nhà đất không ý kiến gì, đến
năm 2020, bà H nghe nói có dự án làm đường thì bà H về đòi đất của bố mẹ. Khi
cụ H6 cụ C1 cho anh H3 đất, cụ C1 hoàn toàn minh mẫn, khỏe mạnh. Nay bà
H khởi kiện anh H3 trả lại đất ở, đất vườn và 04 thửa đất ruộng và yêu cầu hủy
6
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên anh H3 không đồng ý, đề
nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Chị Nguyễn Thị Ngọc L1 trình bày: chị con gái của cụ H6, L. H con
gái của cụ H6 cụ C1. Cụ C1 quyền sử dụng đất số 407, tờ bản đồ số 02
diện tích 1304m
2
. Nguồn gốc diện tích đất này của ông bà tổ tiên để lại. Năm
1991, cụ C1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00021. Năm 2009,
cụ C1 mất, không để lại di chúc để định đoạt quyền sử dụng đất nói trên. Gần
đây, H phát hiện anh Nguyễn Quang H3 đang quản lý, sử dụng thửa đất này,
Khi phát hiện ra sự việc trên, H đã nhiều lần yêu cầu anh H3 trả lại quyền s
dụng đất thửa đất này, nhưng anh H3 không trả. Hiện nay, anh H3 đã xây dựng
nhà trên diện tích đất nói trên. Ngoài thửa đất nói trên, cụ C1 còn để lại thửa đất
số 408 tại xứ đồng Mả Thượng, diện tích 288m
2
; thửa đất số 58.1 xứ đồng Bệu,
diện tích 264m
2
; thửa đất số 68.2 xứ đồng Chầm Dâu, diện tích 48m
2
; thửa đất
số 409 tại xứ đồng Mả Thượng diện tích 72m
2
. Khi mất, cụ C1 cũng không để
lại di chúc những thửa đất nói trên. Hiện nay, toàn bộ diện tích nói trên do anh
H3 đang quản lý, sử dụng. Theo chị, đây tài sản của cả cụ H6 cụ C1 n
anh H3 không quyền sử dụng toàn bộ. Nay chị cùng quan điểm với H
đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh Phú Thọ tuyên hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đứng tên anh H3 đối với thửa đất s407, tbản đồ số 02,
diện tích 1304m
2
buộc anh H3 tháo dỡ công trình yêu cầu chia thừa kế
thửa đất này cùng 04 thửa đất nông nghiệp nêu trên.
Chị Nguyễn Thị T vắng mặt tại phiên tòa, nhưng người bảo vệ quyền lợi ích
hợp pháp của chị T là ông Lương Văn C trình bày: Chị T vợ anh Nguyễn
Quang H3. Hai vợ chồng anh chị chuyển về trên diện tích đất đang tranh chấp
từ năm 1996 đến nay. Khi đây, vợ chồng anh chị đã hai lần làm nhà trên diện
tích đất này, lần thnhất vào năm 1999 anh chị xây ncấp bốn ba gian, hiện
ngôi nhà này vẫn còn, lần thứ hai vợ chồng anh chị tiếp tục xây nhà vào năm
2019. Nguồn gốc diện tích đất này do ông cha để lại, năm 1999 cụ C1 được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trước khi chết, cụ C1 cụ H6 đã
thống nhất để cho vợ chồng chị đứng n thờ cúng các cụ. Nay bà H khởi
kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên anh H3 yêu
cầu tháo dỡ công trình trên đất để chia thừa kế đối với thửa đất này cùng 04 thửa
ruộng, chị không đồng ý, đây không phải là đất thuộc quản sử dụng của
H.
Đại diện theo ủy quyền của UBND huyện S (cũ), nay UBND xã T, tỉnh Phú
Thọ vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong bản tự khai ngày 22/7/2025 ông Trần
Đình T1 trình bày: Theo hồ lưu trữ, ông Nguyễn Quang H3 được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BP801676, số vào sổ cấp giấy CH
01187/QSDĐ số 1146/QĐ- UBND do UBND huyện S cấp ngày 12/11/2009
theo hình thức chuyển nhượng quyền sử dụng đất (từ Đào Thị C1 sang tên
ông Nguyễn Quang H3). Theo hồ sơ chuyển nhượng cho thấy: sau khi tiếp nhận
các nhu cầu đăng ký, đề nghị cấp giấy chứng nhận hộ gia đình, nhân sử dụng
đất, UBND thị trấn T cũ đã căn cứ hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất (hợp
đồng chuyển nhượng số 25) từ Đào Thị C1 sang Nguyễn Quang H3 tại thửa
7
đất số 407, tờ bản đồ số 02 (BĐ 299) diện tích 1304m
2
, trong đó đất ở tại đô thị
200m
2
và 1104m
2
đất trồng cây lâu năm, tại khu vực C, thị trấn T.
Ngày 30/7/2009, tại tờ trình s76/TTr-UBND, UBND thị trấn T trình UBND
huyện S xem xét, thẩm định phê duyệt đối với 06 hchuyển nhượng quyền
sử dụng đất đề nghị cấp giấy, trong đó trường hợp chuyển nhượng từ bà Đào
Thị C1 sang cho anh Nguyễn Quang H3. Phòng Tài nguyên Môi trường
huyện S đã thẩm định theo quy định trình UBND huyện S tại Tờ trình số
139/TTr-TN&MT ngày 09/11/2009 về việc xin cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất.
Ngày 12/11/2009, UBND huyện S đã ban hành Quyết định số 1146/QĐ-UB về
việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình, nhân tại thị
trấn T (06 trường hợp), trong đó trường hợp nhà anh Nguyễn Quang H3.
Quan điểm của UBND T: Căn cứ Luật đất đai năm 2003, Nghị định số
181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai
các quy định pháp luật đất đai liên quan; căn cứ hồ địa chính còn lưu trữ.
Việc UBND huyện S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Nguyễn
Quang H3 đã đảm bảo thủ tục, trình tự theo đúng quy định của pháp luật. Tuy
nhiên, khi cấp giấy năm 2009 do sai số tờ, số thửa (thửa số 642, tờ bản đồ số 05)
nên năm 2014 anh H3 được cấp đổi lại đúng số tờ, số thửa trong sổ mục
thửa số 407, tbản đồ số 02, diện tích 1.304m
2
. Do đó, đề nghị Tòa án xem xét
giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện ngân hàng TMCP L5 (viết tắt L6) trình bày: Ngày 08/11/2022, vợ
chồng anh H3, chị T vay của ngân hàng số tiền 2.520.000.000đồng để bổ
sung vốn lưu động phục vụ kinh doanh gỗ bóc. Để đảm bảo cho khoản vay vợ
chồng anh H3, chị T đã dùng thửa đất số 407, tờ bản đồ số 02, diện tích 1304m
2
cùng tài sản trên đất đthế chấp khoản vay trên. Khi kết hợp đồng thế chấp,
thửa đất này không xảy ra tranh chấp với ai nên ngân hàng mới kết hợp đồng
thế chấp, khi ký kết hợp đồng, anh H3 người đứng tên trong giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. Trong quá trình vay vốn, vợ chồng anh H3, chT
khách hàng trả nợ tốt nên ngân hàng L6 chi nhánh V1 tiếp tục kết hợp đồng
tín dụng đối với vợ chồng anh H3, chị T, hợp đồng tín dụng số: 3902024263
ngày 09/12/2024, nhưng hợp đồng thế chấp thửa đất số 407, tờ bản đồ số 02
đứng tên anh H3 vẫn giữ nguyên không thay đổi. Do đó, nay bà H khởi kiện anh
H3 về việc yêu cầu anh H3 tháo dỡ những công trình trên đất để chia thừa kế đối
với thửa đất này sẽ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ngân hàng (ngân hàng
bên thứ 3 ngay tình). Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định
của pháp luật.
Với nội dung như trên, tại Bản án dân sự số 19/2025/DS-ST ngày
26/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ quyết định:
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, Điều 39, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 221; Điều 612; 613; 651; 653; Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự
năm 2015; Điều 26 Luật thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH
ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, X :
8
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của H vviệc yêu cầu chia thừa kế theo
quy định của pháp luật đối với thửa đất số 407, tờ bản đồ số 02, diện tích
1304m
2
và 04 thửa đất nông nghiệp:
Đối với thửa đất số 407, tờ bản đồ số 02, diện tích 1304m
2
: Anh H3 được
sử dụng 1.304m
2
(trong đó 200m
2
đất 1.104m
2
đất trông y lâu năm)
được giới hạn từ các điểm từ 01 đến 23 đến 1 (có sơ đồ kèm theo). Anh H3 phải
thanh toán cho H phần H được hưởng: 347.680.000đồng (Ba trăm bốn
mươi bảy triệu sáu trăm tám mươi nghìn).
Đối với 04 thửa đất nông nghiệp: Giao cho anh H3 sử dụng thửa số 408
409. Anh H3 phải thanh toán giá trị phần đất H được hưởng bằng tiền
30.178.500đồng. Giao cho L1 sử dụng 02 thửa ruộng thửa 68.2 thửa số
58.1, tổng diện tích 02 thửa là: 270.2m
2
. L1 phải thanh toán phần giá trị
chênh lệch cho anh H3 là: 2.783.000đồng L1 phải thanh toán cho anh H4
số tiền: 6.033.000đồng.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H về việc yêu cầu hủy toàn bộ
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP801676, số vào sổ cấp GCN số CH
00230/QSDĐ- UBND đối với thửa đất số 407, tờ bản đồ số 02, diện tích 1304m
2
do UBND huyện S cấp cho anh Nguyễn Quang H3. Kiến nghị quan Nhà
nước thẩm quyền điều chỉnh biến động cấp lại giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất theo bản án đã tuyên.
Tổng số tiền anh H3 phải thanh toán cho H là: 401.424.000đồng (Bốn
trăm linh một triệu bốn trăm hai mươi tư nghìn đồng).
Về án phí dân sự thẩm: Nguyễn Thị H được miễn án phí dân sự
thẩm. L1, anh H4 mỗi người phải chịu 302.000đồng (Ba trăm linh hai nghìn
đồng) án pdân sự. Anh H3 phải chịu 87.230.000đồng (tám mươi bảy triệu hai
trăm ba mươi nghìn) án phí dân sự.
Bản án còn quyết định vchi phí tố tụng, án phí, quyền yêu cầu thi hành
án và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định.
Sau khi xét xử thẩm, nguyên đơn Nguyễn Thị H đơn kháng cáo
đề ngày 27/8/2025 đề nghị sửa bản án sơ thẩm; bị đơn anh Nguyễn Quang H3 có
đơn kháng cáo đngày 27/8/2025 đề nghị hủy bản án thẩm; người quyền
lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Ngọc L1 đơn kháng cáo đề ngày
27/8/2025 đề nghị sửa bản án thẩm; Nguyễn Thị L đơn kháng cáo đề
ngày 27/8/2025, Nguyễn Thị T đơn kháng cáo đề ngày 27/8/2025,
Nguyễn Thị L đơn kháng cáo đề ngày 27/8/2025, anh Nguyễn Quang H4
đơn kháng cáo đề ngày 03/10/2025 đều đề nghị hủy bản án thẩm. Tại phiên
tòa phúc thẩm, nguyên đơn thay đổi nội dung kháng cáo theo hướng đề nghị hủy
bản án sơ thẩm.
Ngày 09/9/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 Phú
Thọ kháng nghị với nội dung đề nghị hủy bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia
phiên toà phát biểu ý kiến:
9
Về tuân theo pháp luật ttụng: Trong quá trình giải quyết vụ án tại
phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư Toà án đã thực hiện đúng nhiệm
v, quyn hn ca mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về đường li giải quyết vụ án: n cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ
luật Tố tụng dân sự, đề nghị chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn,
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng nghị của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân khu vực 11 Phú Thọ, hủy bản án sơ thẩm giao hồ cho
cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử, t
thấy:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H,
bị đơn anh Nguyễn Quang H3, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
Nguyễn Thị Ngọc L1, bà Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Quang
H4 kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 P
Thọ nằm trong hạn luật định nên đơn kháng cáo, kháng nghị được xem xét giải
quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế
của cụ Đào Thị C1 cụ Nguyễn Quang H6. vậy quan hệ pháp luật trong vụ
án này là tranh chấp về thừa kế tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 26 Bộ luật
Tố tụng dân sự.
[3]. Nội dung vụ án: Nguyên đơn đề nghị chia di sản thừa kế của cụ Đào
Thị C1 cụ Nguyễn Quang H6 để lại thửa đất số 407, tờ bản đsố 02, diện
tích 1304m
2
; thửa đất số 408 tại xđồng Mả Thượng diện tích 288m
2
; thửa đất
số 58.1 xứ đồng Bệu, diện tích 264m
2
; thửa đất số 68.2 xứ đồng Chầm Dâu, diện
tích 48m
2
; thửa đất số 409 tại xứ đồng Mả Thượng diện tích 72m
2
. Sau khi xét
xử thẩm, nguyên đơn, bị đơn, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng
cáo, Viện trưởng Viện kiểm sát kháng nghị. Hội đồng xét xử thấy rằng:
Cấp sơ thẩm xác định anh Nguyễn Quang H4 là người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan trong vụ án xác định địa chỉ của anh H4 tại thôn P, S, thành
phố Hà Nội và tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng tại địa chỉ trên đối với anh
H4. Sau khi xét xử sơ thẩm, anh H4 được gia đình gửi bản án sơ thẩm và anh H4
đơn kháng cáo cho rằng anh không sinh sống tại địa chỉ trên mà đang sinh
sống tại Đại sứ quán của Việt Nam tại Trung Quốc. Quá trình cấp thẩm giải
quyết vụ án đã làm việc với gia đình của anh H4 nhưng gia đình anh H4 không
cung cấp được địa chỉ chính xác của anh H4 nên cấp sơ thẩm căn cứ vào địa chỉ
tại căn cước công dân của anh H4 để giải quyết vụ án. Tuy nhiên, tại cấp phúc
thẩm đã xác minh và xác định, anh H4 đang công tác tại Bộ N, thời điểm cấp
thẩm giải quyết vụ án anh H4 đang làm việc tại Đại sứ quán của Việt Nam
Trung Quốc. Nên việc cấp sơ thẩm tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng tại
S, thành phố Nội đối với anh H4 không đúng, làm anh H4 không thể tiếp
cận tài liệu, chứng cứ, tham gia tố tụng tại Tòa án làm ảnh hưởng nghiêm
10
trọng đến quyền lợi ích hợp pháp của anh H4. Việc cấp thẩm xác định
không đúng địa chỉ của anh H4 không phải do lỗi của cấp thẩm do lỗi
của đương sự khi không cung cấp địa chỉ chính xác của anh H4. Tại cấp phúc
thẩm đã xác định được địa chỉ chính xác của anh H4 đây tình tiết mới của
vụ án nên để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của anh H4 cần hủy án sơ thẩm
và giao cho cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
Do hủy án thẩm nên cấp phúc thẩm chưa xem xét đến nội dung kháng
cáo, kháng nghị về nội dung vụ án. Tuy nhiên, khi cấp thẩm giải quyết lại vụ
án cần làm rõ những nội dung sau: Đây là vụ án chia di sản thừa kế nhưng di sản
đề nghị chia đang được thế chấp tại ngân hàng để đảm bảo cho khoản vay của
đương snên để thể chia di sản thừa kế trên thì cần làm đương sđề
nghị giải quyết về hợp đồng thế chấp trong vụ án này hay không từ đó mới
căn cứ chia di sản thừa kế; ngoài ra, anh H3 được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đối với thửa đất số 407 tờ bản đồ 02 thông qua Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất nên để giải quyết dứt điểm vụ án thì làm các
đương sự đề nghị giải quyết về Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
đó hay không? Hiện nay, trên đất nông nghiệp mà các đương sự đang đề nghị
chia di sản thừa kế các công trình do anh H3 xây dựng, thì cần làm việc
xây dựng các công trình trên đất nông nghiệp đúng không? Nếu không đúng
thì đã bị cơ quan Nnước thẩm quyền nào xử chưa? Đây vụ án chia di
sản thừa kế đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp sơ thẩm xác
định UBND huyện tham gia tố tụng với cách người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan nhưng do chấm dứt hoạt động của UBND cấp huyện nên người kế
thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của UBND huyện là Chủ tịch UBND cấp chứ
không phải là UBND cấp xã như cấp sơ thẩm đã xác định.
Cấp thẩm căn cứ vào lời khai của lời khai của anh H3, L hai
người đối lập với nguyên đơn để xác định cụ H6 người đi làm thtục chuyển
nhượng quyền sdụng đất sang tên anh H3 chưa đcăn cứ : Tại thời
điểm ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì cụ C1 đã chết, ngoài ra,
không một tài liệu nào thể hiện việc cụ H6 người đi làm thủ tục cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất sang tên anh H3 đối với thửa đất số 407 tờ bản
đồ 02. Cần làm rõ thêm đối với các cán bộ đã từng làm các thủ tục trên (như cán
bộ phòng T, thuế…) để làm xem ai người đi làm thtục cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đứng tên anh H3.
Làm hiện nay trên đất đang đề nghị chia di sản thừa kế các con của
anh H3 những ai đang sinh sống trên đất đóng góp không để đưa vào
tham gia tố tụng.
[4]. Từ những phân tích nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận
kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 Phú Thọ,
kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hủy
bản án dân sthẩm. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa căn
cứ cần được chấp nhận.
[5]. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản án phí
thẩm được xem xét giải quyết khi cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
11
[6]. Do chấp nhận kháng nghị, kháng cáo nên người kháng cáo không
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sdụng án phí
và lệ phí Toà án;
Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực
11 Phú Thọ, kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, bị đơn anh Nguyễn
Quang H3, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Quang H4, chị
Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị Ngọc L1;
[1]. Hủy Bản án dân sthẩm số 19/2025/DS-ST ngày 26/8/2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ. Giao hồ vụ án cho Tòa án nhân dân
khu vực 11 - Phú Thọ giải quyết lại theo quy định của pháp luật.
[2]. Án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải nộp. Hoàn trả lại
anh Nguyễn Quang H4, bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị Ngọc L1, anh Nguyễn
Quang H3 mỗi người 300.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu
tương ứng số 0002743 ngày 03/10/2025, số 0002519 ngày 25/9/2025, số
0002429 ngày 18/9/2025, s0002201 ngày 12/9/2025 của Thi hành án dân sự
tỉnh Phú Thọ.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- TAND khu vực 11 - Phú Thọ;
- VKSND khu vực 11- Phú Thọ;
- THADS tỉnh Phú Thọ (Phòng THADS
khu vực 11- Phú Thọ);
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ, VP.NHÂN DÂN
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Văn Nghĩa
Tải về
Bản án số 129/2026/DS-PT Bản án số 129/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 129/2026/DS-PT Bản án số 129/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất