Bản án số 940/2026/DS-PT ngày 14/05/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 940/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 940/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 940/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 940/2026/DS-PT ngày 14/05/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Hồ Chí Minh |
| Số hiệu: | 940/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 14/05/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | tranh chấp ranh đất |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 940/2026/DS-PT
Ngày: 14-5-2026
V/v: Tranh chấp về lối di
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên Hằng
Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền
Ông Nguyễn Trung Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bùi Phương Hợp - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Tuyền - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 08 và 14 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân Thành
phố Hồ Chí Minh – Cơ sở 2 xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số
1705/2025/TLPT- DS ngày 30 tháng 12 năm 2025 về vic “Tranh chấp về lối
đi”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 400/2026/QĐ-PT ngày
16/01/2026, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 2187/2026/QĐ-PT ngày
11/02/2026, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 1369/2026/QĐ-PT ngày
10/3/2026, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 4531/2026/QĐ-PT ngày
02/4/2026, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 5584/2026/QĐ-PT ngày
20/4/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đỗ Duy H, sinh năm 1950; địa chỉ: khu phố F, phường
C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1954 (chết ngày 14/4/2023);
Ngưi k tha quyn, ngha v t tng của bị đơn:
2.1. Bà Bùi Thị T1, sinh năm 1954 (vợ ông T); địa chỉ: khu phố F, phường
C, Thành phố Hồ Chí Minh.
2.2. Ông Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1981 (con ông T); địa chỉ: khu phố F,
phường C, Thành phố Hồ Chí Minh.
2
2.3. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1983 (con ông T); địa chỉ: tổ H, khu phố
P, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
2.4. Bà Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1984 (con ông T); địa chỉ: căn hộ D,
chung cư T, khu phố E, phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh.
2.5. Ông Nguyễn Ngọc B, sinh năm 1989 (con ông T); địa chỉ: khu phố F,
phường C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngưi đại diện hợp pháp của ngưi k tha quyn, ngha v t tng của bị
đơn bà Bùi Thị T1, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị Thu H2, ông Nguyễn
Ngọc B: Ông Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1981; địa chỉ: khu phố F, phường C,
Thành phố Hồ Chí Minh (con ông T), là người đại din theo ủy quyền (văn bản
ủy quyền ngày 04/72023).
- Ngưi có quyn lợi, ngha v liên quan:
1. Ông Phạm Đức H3, sinh năm 1976 và bà Phạm Thị Mỹ H4, sinh năm
1977; cùng địa chỉ: khu phố D, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Ông Nguyễn Văn H5, sinh năm 1972; địa chỉ: khu phố F, phường C,
Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Bà Đoàn Thị T3, sinh năm 1953; địa chỉ: khu phố F, phường C, Thành
phố Hồ Chí Minh.
4. Bà Bùi Thị T1, sinh năm 1954 (vợ ông T); địa chỉ: khu phố F, phường C,
Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1983 (con ông T); địa chỉ: tổ H, khu phố P,
phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Bà Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1984 (con ông T); địa chỉ: căn hộ D,
chung cư T, khu phố E, phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngưi đại diện hợp pháp của ngưi có quyn lợi, ngha v liên quan bà
Bùi Thị T1, bà Nguyễn Thị H1 và bà Nguyễn Thị Thu H2: Ông Nguyễn Ngọc
T2, sinh năm 1981; địa chỉ: khu phố F, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh (con
ông T) là người đại din theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 04/7/2023).
7. Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1995; địa chỉ: khu phố F, phường C,
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ngưi kháng cáo: Nguyên đơn ông Đỗ Duy H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung bản án sơ thẩm:
Ông Đỗ Duy H, bà Đoàn Thị T3 là vợ chồng, kết hôn năm 1974, sinh sống
tại tỉnh Thái Bình; ông Nguyễn Ngọc T, bà Bùi Thị T1 là vợ chồng, kết hôn năm
1978, sinh sống tại tỉnh Thanh Hóa. Vợ chồng ông H đi kinh tế mới tại xã H,
huyn B, tỉnh Bình Dương (nay là phường C, Thành Phố Hồ Chí Minh) từ năm
1983 đến nay, vợ chồng ông T đi kinh tế mới tại xã H từ năm 1985 đến nay.
3
Ông H, ông T, ông Phạm Cao H6, ông Phạm Đức H3, ông Nguyễn Văn H5
là hàng xóm, có đất liền kề nhau tại phường C, Thành Phố Hồ Chí Minh, cụ thể
như sau:
1. Din tích đất 1.600m
2
(đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa số 115, tờ bản
đồ 13 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt GCNQSDĐ) số vào sổ
H 00455 ngày 14/11/2007 do Ủy ban nhân dân (viết tắt UBND) huyn B, tỉnh
Bình Dương cấp cho ông H là tài sản chung của vợ chồng ông H, nguồn gốc đất
do vợ chồng ông nhận chuyển nhượng của ông Phạm Xuân L năm 1985, trên đất
có nhà tạm (lợp tranh, vách đất) và cây mít.
2. Ông T được UBND huyn B cấp GCNQSDĐ số vào sổ 00712 QSDĐ
ngày 17/12/1997, din tích đất 2.686,9m
2
(400m
2
đất thổ cư; 2.286,9m
2
đất vườn
tạp), nguồn gốc được cấp kinh tế mới 1983.
Ngày 21/8/2003, UBND huyn B cấp đổi GCNQSDĐ số vào sổ 00479
QSDĐ/2547QĐUB cho hộ gia đình ông T, din tích đất 2.346m
2
gồm: 1.086m
2
(300m
2
đất thổ cư; 239m
2
đất hành lang lộ giới; 446m
2
đất vưn và 101m
2
hành
lang đưng điện) thuộc thửa đất 102 và 2.647m
2
(1.600m
2
CNCs; 1.047m
2
hành
lang đưng điện, chưa tr hành lang đưng giao thông nông thôn) thuộc thửa
số 104, tờ bản đồ số 13. Lần cấp đổi này din tích đất thổ cư chỉ còn 300m
2
(thiếu 100m
2
thổ cư).
Ngày 25/11/2015, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B tiếp tục cấp đổi các
GCNQSDĐ sau:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất số vào sổ CS01253 cấp cho ông T, bà T1 (điều chỉnh từ cấp cho
hộ sang cấp cho vợ chồng) din tích 836,7m
2
(300m
2
đất thổ cư; 536,7m
2
đất
cây lâu năm) thuộc thửa số 102, tờ bản đồ số 13.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất số vào sổ CS01254 cấp cho ông T, bà T1 (điều chỉnh từ cấp cho
hộ sang cấp cho vợ chồng) din tích 4.914,7m
2
đất cây lâu năm thuộc thửa số
104, tờ bản đồ số 13.
Năm 2016, vợ chồng ông T đề nghị tách thửa đất số 102 thành 02 thửa đất
số 301 và 302 để tặng cho con, cụ thể:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất số vào sổ CS01355 ngày 31/5/2016 do Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh B cấp cho ông Nguyễn Ngọc B, din tích 401,5m
2
(200m
2
đất thổ
cư; 201,5m
2
đất cây lâu năm) thuộc thửa số 301.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất số vào sổ CS01356 ngày 31/5/2016 do Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh B cấp cho ông Nguyễn Ngọc T2 din tích 435,2m
2
(100m
2
đất thổ
cư; 335,2m
2
đất cây lâu năm) thuộc thửa số 302.
Năm 2019, Nhà nước cấp trả lại 100m
2
đất thổ cư bị thiếu trước đây theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
4
với đất số vào sổ CS02599 ngày 28/8/2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh B cấp cho ông T, bà T1 din tích 4.914,7m
2
(100m
2
đất ở tại nông thôn;
4.814,7m
2
đất trồng cây lâu năm trong đó có 1.168,1m
2
hành lang bảo vệ an
toàn đưng điện) thuộc thửa số 104, có tứ cận: hướng Đông giáp đường đin
500kV, hướng Tây giáp đường đất cụt 03m, hướng Nam giáp thửa số 517,
hướng Bắc giáp các thửa số 101, 215, 301, 102, 104.
Ngày 30/8/2022, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp đổi Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số
vào sổ CS04130 cho ông T, bà T1 din tích 4.914,7m
2
[100m
2
đất ở tại nông
thôn; 4.814,7m
2
đất trồng cây lâu năm (trong đó có 821,8m
2
thuộc phạm vi bảo
vệ kt cấu hạ tầng giao thông đưng bộ; 1.168,1m
2
hành lang bảo vệ an toàn
đưng điện)] thuộc thửa số 104, có tứ cận: hướng Đông giáp đường đin 500kV,
hướng Tây giáp đường H (đường bê tông 03m), hướng Nam giáp thửa số 517,
hướng Bắc giáp các thửa số 101, 215, 301, 102, 104.
Ngày 25/10/2022, cập nhật biến động thửa đất 104 như sau: thửa 104 tách
thành 02 thửa số 649, 650. Thửa 649 tách sang Giấy chứng nhận số DG 809372
theo đơn đề nghị ngày 23/9/2022. Din tích còn lại 2.118,3m
2
(2.118,3m
2
cây
lâu năm trong đó có 456,7m
2
hành lang an toàn đường bộ, 653,7m
2
hành lang an
toàn đường đin), số thửa 650.
Din tích 2.796,4m
2
thuộc thửa số 649 theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ CS04223
ngày 25/10/2022 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông T, bà T1,
có biến động như sau:
- Cập nhật biến động ngày 23/12/2022 chuyển mục đích sử dụng 300m
2
từ
đất trồng cây lâu năm thành đất ở tại nông thôn theo Quyết định số 2602/QĐ-
UBND ngày 23/11/2022 của UBND huyn B, hồ sơ số 003045.CM.001.
- Thửa số 649 tách ra thành 04 thửa 656, 657, 658, 659.
+ Thửa số 659 ông T, bà T1 tặng cho con là bà Nguyễn Thị Thu H2 din
tích 390m
2
(59,9m
2
hành lang an toàn đưng bộ; 84,2m
2
hành lang an toàn
đưng điện; diện tích còn lại 245,9m
2
trong đó có 100m
2
đất ở nông thôn) theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất số vào sổ CS04711 ngày 13/3/2023 do Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh B cấp cho bà H2.
+ Thửa số 658 ông T, bà T1 tặng cho con là bà Nguyễn Thị H1 din tích
416,8m
2
(59,9m
2
hành lang an toàn đưng bộ; 84,2m
2
hành lang an toàn đưng
điện; diện tích còn lại 272,7m
2
trong đó có 100m
2
đất ở nông thôn) theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất số vào sổ CS04710 ngày 13/3/2023 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B
cấp cho bà H1.
+ Thửa số 656 ông T chia tài sản chung cho bà T1 din tích 1.771,2m
2
(215,3m
2
hành lang an toàn đưng bộ; 303,9m
2
hành lang an toàn đưng điện;
5
diện tích còn lại 1.252m
2
trong đó có 100m
2
đất ở nông thôn) theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số
vào sổ CS04713 ngày 13/3/2023 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp
cho bà T1.
+ Thửa số 657 ông T chia tài sản chung cho bà T1 din tích 218,4m
2
(30m
2
hành lang an toàn đưng bộ; 42,1m
2
hành lang an toàn đưng điện; diện tích
còn lại 146,3m
2
trong đó có 100m
2
đất ở nông thôn) theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số vào
sổ CS04712 ngày 13 tháng 3 năm 2023 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B
cấp cho bà T1.
Ông T chết ngày 14/4/2023, những người con của ông T, bà T1 gồm ông
T2, bà H1, bà H2, ông B; cha mẹ của ông T là ông Nguyễn Hữu S, bà Nguyễn
Thị N đã chết từ lâu; sau khi ông T chết, din tích còn lại 2.118,3m
2
thuộc thửa
số 650 chưa chia thừa kế.
3. Din tích đất đo đạc thực tế 2.335,2m
2
thuộc thửa số 118 của ông H1.
4. Din tích đất 991,7m
2
(đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa số 114, tờ bản
đồ 13 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số vào sổ CS02146 ngày 14/6/2018 do Sở Tài nguyên và
Môi trường tỉnh B cấp cho ông H6; nguồn gốc nhận chuyển nhượng của bà
Phạm Thị H7; cập nhật biến động chuyển nhượng cho bà Cao Thị H8 ngày
21/01/2021; cập nhật biến động chuyển nhượng cho ông Hoàng Mạnh H9 ngày
06/7/2022.
5. Din tích đất 1.400m
2
thuộc thửa số 113, tờ bản đồ 13 theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số
vào sổ CH00739 ngày 01/4/2013 do UBND huyn B cấp cho ông H3, là tài sản
chung của vợ chồng ông H3; nguồn gốc do cha mẹ ông H3 tặng cho vào năm
2013, khi đó trên đất trồng cao su 03 đến 04 năm tuổi và có 358m
2
hành lang
đường đin.
6. Ngoài ra, đầu con đường tranh chấp còn giáp thửa đất số 103, tờ bản đồ
13, din tích 551m
2
đất trồng cây lâu năm (187,8m
2
thuộc phạm vi bảo v kết
cấu hạ tầng giao thông đường bộ; 159 m
2
hành lang an toàn đường đin 550kV),
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất số vào sổ CH03134 ngày 03/7/2020 do Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh B cấp cho ông Nguyễn Văn T4; nguồn gốc nhận tặng cho của bà Bùi
Thị L1 và ông Nguyễn Văn T5 ngày 01/6/2020.
Đơn khởi kiện ngày 14/10/2020, các li khai trong quá trình giải quyt v
án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Đỗ Duy H trình bày:
Năm 1985, sau khi nhận chuyển nhượng thửa đất số 115, gia đình ông H ở
trong căn nhà trên đất. Ông H và những hộ dân xung quanh cùng sử dụng con
đường công cộng ngang 04m x dài khoảng 500m bắt đầu từ đường chính (nay là
đường Đ), con đường này hình thành từ năm 1978, để người dân đi vào đất sinh
6
sống. Hin nay, phía đầu con đường tranh chấp giáp đường ĐT741B vẫn tồn tại
không bị cày lấp, phía đối din con đường tranh chấp bị giao cắt bởi đường
ĐT741B là phần còn lại của con đường vẫn được người dân sử dụng. Năm 1990,
gia đình ông H chuyển sang phần đất khác bên kia đường ĐT741B để ở. Năm
1993, khi lưới đin 500kV đi ngang qua, thửa đất số 115 của ông H có 400m
2
nằm trong hành lang an toàn đường đin, gia đình ông H và các hộ xung quanh
đã được bồi thường giải tỏa đúng quy định. Phần din tích nằm trong hành lang
an toàn đường đin không được sử dụng trồng cây lâu năm, xây nhà ở mà chỉ
được trồng cây ngắn ngày. Phần din tích còn lại của thửa số 115 ông H trồng
cao su đến nay. Ông H và các hộ dân vẫn sử dụng con đường khoảng 150m
2
nằm dưới hành lang lưới đin để vào đất canh tác, thu hoạch cao su.
Thửa đất số 104 của ông T cũng có đất thuộc hành lang lưới đin. Khoảng
năm 1999, ông T hỏi mượn ông H 400m
2
hành lang an toàn đường đin để trồng
cao su (stum), ông H đồng ý vì không ảnh hưởng lối đi vào đất của ông H, ông
H đi vào rãnh giữa các cây cao su để đi. Cuối năm 2019, ông T không trồng
stum mà cày toàn bộ 400m
2
hành lang an toàn đường đin và cả con đường công
cộng đi vào đất ông H và các hộ dân có đất phía trong; ông T rào lưới B40,
trồng cây lâu năm như mít, bưởi trên con đường. Ngay sau khi phát hin, ông H
và các hộ dân đã gặp ông T để nói chuyn nhưng không thành. Sau đó, ông H và
các hộ dân khiếu nại ông T, ông H1 tại Ủy ban nhân dân xã H.
Tại biên bản hòa giải ngày 16/7/2020 của Ủy ban nhân dân xã H, ông T
thừa nhận năm 1994 có con đường chung giữa ông T và ông G (nay là đất ông
H1), sau này ông T canh tác trồng stum trên hành lang đường đin, nếu các hộ
dân thương lượng với ông T thì phải bồi hoàn công lao của ông T đối với 03m
chiều ngang với giá 150.000.000 đồng. Tuy nhiên, ông H chỉ đồng ý trả
4.000.000 đồng cho 04m chiều ngang con đường, là tiền ông H bồi thường hoa
màu trên đất cho ông T, các bên không thương lượng được.
Hành vi lấn chiếm con đường công cộng cũng là hành lang an toàn đường
đin là trái pháp luật, trái đạo đức xã hội. Ông H khởi kin yêu cầu Tòa án giải
quyết buộc ông T tháo dỡ toàn bộ vật cản, di dời toàn bộ cây trồng trả lại con
đường công cộng khoảng 600m
2
để ông H và các hộ dân vào đất canh tác.
Theo Mảnh trích lục địa chính số 05-2023 ngày 21/4/2023 của Chi nhánh
Văn phòng Đăng ký đất đai huyn B, din tích con đường tranh chấp mà ông H
yêu cầu ông T trả lại là 567m
2
. Ngày 21/4/2025, ông H có đơn rút một phần yêu
cầu khởi kin đối với din tích con đường 33m
2
.
Tại phiên tòa, ông H giữ nguyên yêu cầu khởi kin, yêu cầu trả lại con
đường 567m
2
.
Bản tự khai ngày 12/11/2020, biên bản lấy li khai của đương sự ngày
28/01/2021, li khai trong quá trình giải quyt v án và tại phiên tòa, ngưi k
tha quyn, ngha v t tng của bị đơn và ngưi đại diện hợp pháp của ngưi
k tha quyn, ngha v t tng của bị đơn bà Bùi Thị T1, bà Nguyễn Thị H1, bà
Nguyễn Thị Thu H2, ông Nguyễn Ngọc B, đồng thi là ngưi đại diện hợp pháp
7
của ngưi có quyn lợi, ngha v liên quan bà Bùi Thị T1, bà Nguyễn Thị H1, bà
Nguyễn Thị Thu H2 là ông Nguyễn Ngọc T2 trình bày:
Ông T cho rằng không có con đường như trình bày của ông H2, mà chỉ có
một lối mòn (đi bộ) từ ngoài đường ĐT741B đi qua đất của ông T và ông H1 để
vào đất của ông H2, chiều ngang khoảng 01m x chiều dài khoảng 60m là đến đất
của ông H2. Ông H2 sử dụng lối mòn này đến khoảng năm 1990 chuyển sang
phần đất bên kia đường ĐT741B để ở nên không còn sử dụng. Ông H2 sử dụng
lối đi khác để vào thửa đất số 115 của ông H2. Lối mòn này hin nay trên thực
tế không còn, phần đất ông H2 đã có cọc mốc cụ thể và ông T cũng đã rào lại
đất của mình.
Khoảng năm 1993, lưới đin 500kV đi ngang qua, trong đó có thửa đất 104
của ông T; vì đã lâu nên din tích nằm trong hành lang an toàn đường đin là
bao nhiêu ông T không nhớ rõ, ông T đã được bồi thường giải tỏa theo quy định
(chỉ bồi thường hoa màu, không bồi thường đất vì đây là công trình quốc gia).
Phần din tích nằm trong hành lang an toàn đường đin không được sử dụng
trồng cây lâu năm, xây nhà ở mà chỉ được trồng cây ngắn ngày không cao quá
04m, tức vẫn thuộc quyền sử dụng đất của ông T nhưng hạn chế. Phần đất tranh
chấp là của ông T, ông đã cày để sạch cỏ, đã rào lại bằng lưới B40, sau đó trồng
ổi, mít. Nếu các hộ dân thương lượng với ông T mở đường 03m thì phải bồi
hoàn công lao 03m chiều ngang với giá 150.000.000 đồng.
Ông T không đồng ý yêu cầu khởi kin của ông H2; lời khai của ông bà T1,
ông T2, bà H1, bà H2 và ông B thống nhất với ý kiến của ông T, không đồng ý
yêu cầu khởi kin của ông H2, ngoài ra, không tranh chấp hay yêu cầu gì khác.
Bản tự khai ngày 12/11/2020, li khai trong quá trình giải quyt v án và
tại phiên tòa, ngưi có quyn lợi, ngha v liên quan ông Phạm Đức H3 trình
bày:
Vợ ông H3 là bà Phạm Thị Mỹ H4, kết hôn khoảng năm 2012, có đăng ký
kết hôn theo quy định của pháp luật. Năm 1985, ông H3 còn nhỏ, đi kinh tế mới
với cha mẹ tại xã H đến nay.
Năm 1991, cha mẹ ông H3 mua thửa đất số 113, tờ bản đồ 13 để sinh sống.
Gia đình ông và những hộ dân xung quanh đều sử dụng con đường tranh chấp
để đi vào đất. Đến năm 1993, khi đường đin 500kV đi qua, do sợ ảnh hưởng
đến sức khỏe nên gia đình ông dời về ấp D, xã H để ở, phần đất thuộc thửa số
113 chỉ để canh tác trồng cao su. Khoảng năm 1996 trở về sau, do ít người sử
dụng con đường, cỏ mọc mất dấu. Cuối năm 2019, ông T cày xới, làm hàng rào
dẫn đến ông H2 và ông T tranh chấp đến nay. Sau khi nhận chuyển nhượng thửa
đất số 113, vợ chồng ông tiếp tục chăm sóc cao su, đến đầu năm 2020 thì thu
hoạch. Để đi vào thửa đất số 113, từ năm 2013 đến nay, gia đình ông không sử
dụng con đường tranh chấp mà đi bằng một con đường giao thông nông thôn
khác (cách con đường tranh chấp khoảng 60m chiều ngang đường ĐT 741B) rồi
vòng xuống hành lang đường đin 500kV để vào thửa đất số 113.
8
Nay, ông H3 không có yêu cầu độc lập riêng, ông H3 đã có con đường
khác đi vào đất, con đường ông H2 đòi chiều dài chỉ đến đất ông H2, ông H3
không tranh chấp hay yêu cầu gì trong vụ án.
Ngưi có quyn lợi, ngha v liên quan bà Phạm Thị Mỹ H4 đã được Tòa
án triệu tập hợp lệ nhiu lần để lấy li khai; thông báo v phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tip cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa
nhưng đu vắng mặt không lý do.
Bản tự khai ngày 21/01/2021, ngưi quyn lợi, ngha v liên quan ông
Nguyễn Văn H5 trình bày:
Từ khi ông H5 nhận chuyển nhượng đất thửa đất 118 để trồng cao su giống
đến nay, ông H5 không thấy có con đường nào vào đất ông H2. Ông H5 ở ấp F,
xã H từ năm 1976 đến nay, từ nhỏ ông H5 chỉ thấy có một lối mòn bên đất ông
T để vào đất ông H2. Do trước đó ông H5 và ông T không rào đất nên ông H2 tự
đi lại, khi ông Thực rào đất lại thì ông H2 và ông T xảy ra tranh chấp.
Bản tự khai ngày 10/3/2021, ngưi quyn lợi, ngha v liên quan bà Đoàn
Thị T3 trình bày:
Thống nhất trình bày, yêu cầu khởi kin của ông H2.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 9, 14 Điều 26, Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản
2 Điều 70, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165, điểm b khoản 2 Điều 227 và
khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 6, 8 Điều 68 của Luật Đin
lực năm 2024; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa
án; khoản 6, 7 Điều 4 và khoản 4 Điều 15 của Nghị định số 62/2025/NĐ-CP
ngày 04/3/2025 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Đin lực về bảo
v công trình đin lực và an toàn trong lĩnh vực đin lực; điểm a khoản 2 Điều 6
của Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận
nhim vụ, thực hin thẩm quyền của các Tòa án nhân dân quy định.
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kin của ông Đỗ Duy H đối với
ông Nguyễn Ngọc T (người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn
Ngọc T là bà Bùi Thị T1, ông Nguyễn Ngọc T2, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn
Thị Thu H2 và ông Nguyễn Ngọc B) về vic “Tranh chấp về lối đi”.
Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kin đối với din tích con đường tranh chấp là
33m
2
của ông Đỗ Duy H theo khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
2. Về án phí và chi phí tố tụng khác:
2.1. Về án phí: Ông Đỗ Duy H được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
9
2.2. Về chi phí tố tụng khác: Ông Đỗ Duy H phải chịu 4.639.220 đồng (bốn
triu sáu trăm ba mươi chín nghìn hai trăm hai mươi đồng), ông Đỗ Duy H đã
thực hin xong.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi có bản án sơ thẩm, ngày 09/9/2025, nguyên đơn có đơn kháng cáo
toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết sửa bản án sơ
thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kin của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kin và yêu
cầu kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về vic giải quyết
vụ án.
Ông H trình bày: Lối đi tranh chấp hình thành năm 1978, đến năm 1993 do
có đường đin 55KV chạy qua nên ông H và các hộ dân không còn sử dụng sinh
sống trên đất mà chuyển đến nơi khác sinh sống. Yêu cầu bị đơn trả lại con
đường đi chung cho ông H din tích 567m
2
, chỉ đồng ý bồi hoàn giá trị cây
trồng, bị đơn phải tháo dỡ di dời hàng rào, không đồng ý bồi hoàn giá trị đất do
là lối đi công cộng. Lối đi hin nay chỉ có gia đình ông H sử dụng, còn các hộ
dân khác như thửa đất số 113, 114 liền kề thửa đất số 115 của ông H đã có
đường đi khác.
Ông T2 trình bày: Không đồng ý yêu cầu khởi kin của nguyên đơn, đất
tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bị đơn, trường hợp mở lối đi thì đồng ý mở
02m và nguyên đơn bồi hoàn giá trị đất.
- Đại din Vin Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý
kiến:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng tại Tòa án
cấp phúc thẩm đã thực hin đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi
kin của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Dân
sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được
thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày
của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn có đơn kháng cáo bản án sơ
thẩm, vic kháng cáo vẫn trong thời hạn quy định, đơn kháng cáo có nội dung,
hình thức phù hợp với quy định tại Điều 273, Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự
nên đủ điều kin để thụ lý, xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Đức H3, bà Phạm
Thị Mỹ H4, ông Nguyễn Văn H5, bà Đoàn Thị T3, ông Nguyễn Văn T4 có yêu
10
cầu giải quyết vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa
án tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[1.3] Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông Phạm Cao H6, ông Hoàng Mạnh
H9 và ông Đặng Xuân H10 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan với lý do: Thửa đất số 114 của ông H6 đã chuyển nhượng
cho ông H9, ông H9 có đơn từ chối tham gia tố tụng vì đã có lối đi khác vào đất
của mình nên không có nhu cầu đối với lối đi tranh chấp và Công văn số
21/UBND ngày 19/02/2025 của UBND xã H cũng xác định thửa đất số 114 giáp
với tuyến đường H 61 nên có đường này để đi vào đất (bút lục số 195, 198,
291). Ông H10 trình bày, thửa đất số 113 có đường đi phía trước nên không có
tranh chấp trong vụ án, đề nghị Tòa án không đưa ông vào tham gia tố tụng (bút
lục số 175), là phù hợp quy định pháp luật.
[1.4] Quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm, các đương sự đều thống nhất với
kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá do Tòa án cấp sơ thẩm thực hin,
không ai yêu cầu gì khác. Tại cấp phúc thẩm, đương sự không yêu cầu định giá
lại tài sản, Tòa án căn cứ kết quả kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá
của cấp sơ thẩm là cơ sở để Hội đồng xét xử giải quyết vụ án.
[1.5] Ông H rút một phần yêu cầu khởi kin đối với din tích 33m
2
, Tòa án
cấp sơ thẩm căn cứ Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ xét xử đối với yêu
cầu khởi kin này là đúng quy định pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
Theo Mảnh trích lục địa chính số 05-2023 ngày 21/4/2023 của Chi nhánh
Văn phòng Đăng ký đất đai huyn B thể hin: Lối đi tranh chấp có din tích
567m
2
, cụ thể: 38,8m
2
hành lang an toàn đường bộ và hành lang an toàn đường
đin thuộc thửa số 103 (ký hiu I); 01m
2
thuộc hành lang an toàn đường đin (ký
hiu II); 23m
2
hành lang an toàn đường đin thuộc thửa số 103 (ký hiu III);
133m
2
đường đin (ký hiu IV); 61,5m
2
đường đin - chủ sử dụng xác định là
thửa số 118 (ký hiu V); 273,7m
2
đường đin (ký hiu VI); 20,7m
2
đường đin
(ký hiu VII); 14,5m
2
hành lang an toàn đường đin - chủ sử dụng xác định thửa
số 115 (ký hiu VIII)); 0,8m
2
hành lang an toàn đường đin nằm ở thửa số 115
(ký hiu IX). Lối đi nêu trên phần lớn din tích nằm hoàn toàn trong h thống
đường dây đin 500kV.
Nguyên đơn trình bày lối đi có từ năm 1978 đến năm 1993 đo Nhà nước
làm đường dây đin 500KV nên không còn sử dụng. Lời trình bày của ông Lê
Đức N1 – Phó trưởng ấp F, xã H (bút lục số 287) trình bày lối đi được hình
thành từ năm 1978, con đường do Nhà nước tạo nên để cho dân kinh tế mới về ở
và đi lại. Tại Công văn số 21/UBND ngày 19/02/2025 của UBND xã H cung cấp
thông tin (bút lục 291): lối đi tranh chấp UBND xã không rõ được hình thành
khi nào chỉ khi xảy ra tranh chấp thông qua lấy ý kiến của nguyên đơn và một số
người liên quan mới biết được thông tin; các tài liu bản đồ địa chính và các loại
bản đồ khác lưu trữ tại UBND xã không có thể hin lối đi này, lối đi không có
trong danh sách các tuyến đường do địa phương quản lý, hin trạng thực tế hin
11
nay cũng không tồn tại lối đi này ngoài thực địa; thửa đất 115 không tiếp giáp
với đường nên không có lối đi vào thửa đất. Theo Công văn số 1307/TTĐMĐ2-
TH ngày 10/5/2025 của Truyền tải đin miền Đ - Công ty T9 (bút lục 311) cung
cấp thông tin: lối đi tranh chấp giữa ông H và ông T thuộc khoảng cột 3286-
3287 đường dây 500kV Đắk Nông - Cầu B, đây là công trình đường 500kV Bắc
– Nam mạch 1 trọng điểm quốc gia, được triển khai đền bù, giải phóng mặt bằng
trong điều kin gấp rút, theo cơ chế đặc thù tại thời điểm thi công năm 1992, sau
khi hoàn thành đóng đin công trình thì ngành đin được giao quản lý vận hành
từ năm 1994 đến nay; vic sử dụng đất trong hành lang bảo v an toàn lưới đin
cao áp, người có quyền sử dụng đất đai phải tuân thủ một số quy định sau:
Khoản 6 Điều 68 của Luật Đin lực năm 2024: “Cây trong và ngoài hành
lang bảo vệ an toàn công trình điện lực phải bảo đảm khoảng cách an toàn
phóng điện theo cấp điện áp. Cây phát triển vi phạm khoảng cách an toàn
phóng điện phải được chủ sở hữu cây, người sử dụng đất kịp thời chặt tỉa
phần vi phạm. Trưng hợp cây phát triển vi phạm khoảng cách an toàn phóng
điện gây sự c lưới điện thì tùy theo mức độ thiệt hại, chủ sở hữu cây, ngưi sử
dng đất bị xử lý theo quy định của pháp luật.”
Khoản 8 Điều 68 của Luật Đin lực năm 2024: “Không cho phép tồn tại
nhà ở và công trình có người sinh sống, làm việc trong hành lang bảo vệ an
toàn đường dây dẫn điện trên không có điện áp từ 500kV trở lên, tr công
trình chuyên ngành phc v vận hành lưới điện đó.”
Khoản 6 Điều 4 của Nghị định số 62/2025/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm
2025 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Đin lực về bảo v công
trình đin lực và an toàn trong lĩnh vực đin lực: “Trong phạm vi 1.000 m tính
từ mép ngoài công trình lưới điện cao áp, siêu cao áp trên không hoặc 500 m
tính t mép ngoài công trình lưới điện trung áp ra các phía xung quanh, tổ
chức, cá nhân không được thả diu, vật thể bay tr các thit bị phc v quc
phòng, an ninh và của đơn vị quản lý vận hành công trình điện lực làm nhiệm v
kiểm tra, vận hành và bảo trì công trình”.
Khoản 7 Điều 4 của Nghị định số 62/2025/NĐ-CP: “Tổ chức, cá nhân
không được đắp đất, xp các loại vật liệu, thit bị hoặc đổ ph thải trong hành
lang an toàn bảo vệ đưng dây dẫn điện trên không làm thay đổi khoảng cách
t dây dẫn điện trên không đn mặt đất tự nhiên hoặc vi phạm khoảng cách an
toàn v điện.”
Khoản 4 Điều 15 của Nghị định số 62/2025/NĐ-CP: “Người sử dụng đất,
chủ sở hữu cây có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra, kịp thời chặt tỉa phần
cây có nguy cơ vi phạm khoảng cách an toàn phóng điện theo cấp điện áp của
đưng dây dẫn điện trên không.” (cấp đin áp 500kV không nhỏ hơn khoảng
cách là 06m.
Như vậy, lối đi như trình bày của ông H thì năm 1993 khi Nhà nước thực
hin xây dựng đường dây 500kV gia đình ông H không còn sử dụng, theo kết
quả xác minh thì lối đi không có trên bản đồ địa chính và hin nay lối đi nằm
12
dưới đường D, nguyên đơn cho rằng lối đi tranh chấp là lối đi công cộng buộc bị
đơn phải trả lại lối đi là không có cơ sở chấp nhận.
Thực tế, thửa đất 115 của ông H không có lối đi ra đường công cộng, Tòa
án cấp sơ thẩm nhận định ông H có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây
bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ theo quy định tại Điều
254 của Bộ luật Dân sự bằng một vụ án khác. Qua xem xét hồ sơ cấp đất và biến
động của thửa đất số 104 (nay là thửa số 650, 649) thì các thửa đất này có một
phần thuộc hành lang an toàn đường đin và cạnh hướng Đông giáp với đường
đin 550kV. Trường hợp này, do vị trí đất tranh chấp phần lớn nằm trong đường
D, nên ông H có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc xung quanh
dành cho mình một lối đi hợp lý ở vị trí phù hợp, thuận tin cho vic ra vào thửa
đất của mình.
Nguyên đơn cho rằng theo biên bản hòa giải ngày 16/7/2020 tại UBND xã
H, ông T trình bày có lối đi từ năm 1994. Theo nội dung biên bản hòa giải: Ông
T có ý kiến, năm 1994 tôi có ghi nhận có một lối chung giữa tôi và ông G (nay
là đất ông H5 thửa số 118), sau này tôi và ông H canh tác stum trên hành lang
đường đin thì tôi với ông H có thỏa thuận đóng cọc ranh, con đường mà ông H
yêu cầu không liên quan đến tôi mà có thì ông nên thượng lượng với ông H5,
nếu các hộ thương lượng với tôi thì phải bồi hoàn công lao của tôi đối với 03m
chiều ngang với giá 150.000.000 đồng. Ông H có ý kiến chỉ trả 4.000.000 đồng
cho 04m ngang con đường bồi hoàn cho ông T. Kết quả hòa giải không thành do
ông H không đồng ý bồi hoàn với giá 150.000.000 đồng. Do đó, trình bày của
ông H là không có cơ sở xem xét.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông H cung cấp giấy xác nhận của ông Phạm
Xuân L (người sang lại nhà đất cho ông H) xác nhận có một con đường chạy
thẳng vào nhà của ông L, ông Phạm Văn T6 (cha ông L), ông Phạm Đông D
(chú ông L); bà Phạm Thị T7, ông Phạm Hồng Q xác nhận thường xuyên đi lại
trên con đường này; ông Lê Đức N1 xác nhận con đường ở ấp T đất đỏ nay là
đường DT 741B đi vào hộ ông Phạm Đông D, ông Phạm Văn T8, ông P buôn
bán than thủ công có từ năm 1977 xây dựng vùng kinh tế là có thực. Xác nhận
trên không phù hợp với hồ sơ cấp đất cho ông T, kết quả xác minh từ UBND xã
H, nên không có cơ sở chấp nhận.
Đối với vic bị đơn rào đất bằng lưới B40, trồng cây trên phần đất có
đường đin 500kV thì bị đơn phải có trách nhim tuân thủ các quy định của Luật
Đin lực, trường hợp xảy ra thit hại về tài sản, tính mạng thì phải chịu trách
nhim theo quy định của pháp luật.
Từ những phân tích trên, kháng cáo của nguyên đơn là không có cơ sở chấp
nhận.
Quan điểm của đại din Vin Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
là phù hợp.
Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo được miễn nộp án phí do là
người cao tuổi có đơn xin miễn án phí.
13
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí và l phí Tòa án;
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Đỗ Duy H.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 04 tháng 9
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Đỗ Duy H được miễn nộp án phí.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND TPHCM; THẦM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND khu vực 19 – TPHCM;
- Phòng THADS khu vực 19 – TPHCM;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ, Tòa Dân sự (80).
Nguyễn Thị Duyên Hằng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 12/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 08/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 07/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 06/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 06/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 06/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 29/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 29/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 24/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 24/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 23/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 23/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 23/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 22/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 21/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 21/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 21/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 21/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 20/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm