Bản án số 445/2026/DS-PT ngày 18/05/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 445/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 445/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 445/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 445/2026/DS-PT ngày 18/05/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đồng Tháp |
| Số hiệu: | 445/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 18/05/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Nay phía nguyên đơn ông S yêu cầu ông Lê Văn T phải có nghĩa vụ trả lại cho hộ ông Lê Văn S gồm có |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 445/2026/DS-PT
Ngày: 18-5-2026
V/v “Tranh chấp QSD đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Tấn Lợi
Các Thẩm phán: Ông Võ Thanh Bình
Bà Nguyễn Thị Ánh Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Công Danh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Ông Huỳnh Hữu Nghi - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 21/4/2026 và ngày 18/5/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân
tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:
197/2026/TLPT-DS ngày 20 tháng 3 năm 2026, về việc “Tranh chấp QSD đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2026/DS-ST ngày 28 tháng 01 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 876/2026/QĐ-PT
ngày 07 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn S, sinh năm 1943;
Địa chỉ: Ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp T, xã T, tỉnh
Đồng Tháp).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lê Văn S: Bà Nguyễn
Thị N, sinh năm 1951 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt); Địa chỉ: Ấp T, xã T, thị
xã C, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp) theo Hợp đồng ủy
quyền ngày 09/7/2024.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn ông Lê Văn S:
Luật sư Dương Mỹ L - Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1960;
Địa chỉ: Ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp T, xã T, tỉnh
Đồng Tháp).
2
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Lê Văn T: Ông Lê Văn R,
sinh năm 1986 (có mặt); Địa chỉ: Ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay là
ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp) theo Hợp đồng ủy quyền ngày 20/5/2025.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1951 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt);
3.2. Anh Lê Văn T1, sinh năm 1980;
3.3. Anh Lê Văn T2, sinh năm 1982;
3.4. Anh Lê Văn T3, sinh năm 1988;
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp T, xã T,
tỉnh Đồng Tháp).
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
anh Lê Văn T1, anh Lê Văn T2 và anh Lê Văn T3: Chị Lê Thị Cẩm T4, sinh năm
1997 (có mặt); Địa chỉ: Ấp B, xã A, tỉnh Đồng Tháp; Địa chỉ liên hệ: Số G, ấp
H, phường M, tỉnh Đồng Tháp theo Giấy ủy quyền ngày 14/5/2026.
4. Người kháng cáo: Bị đơn ông Lê Văn T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn ông Lê Văn S, có đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn
Thị N (bà N cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án)
trình bày: Hộ ông Lê Văn S có sử dụng phần đất tại thửa đất số 58, tờ bản đồ số
7, diện tích 909,9m
2
; địa chỉ thửa đất: ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay
là ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp); theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng (QSD) đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL268920, số vào sổ cấp
GCN: CS 00423, cấp ngày 30/10/2012 do Ủy ban nhân dân (UBND) huyện C
cấp cho hộ ông Lê Văn S. Nguồn gốc đất là của cha mẹ ruột của ông S cho vào
năm 1992 và sử dụng ổn định từ đó cho đến nay. Phần đất của hộ ông S ở hướng
Đông giáp với phần đất của ông Lê Văn T là thửa đất số 2721, tờ bản đồ số 7,
diện tích 1.327,8m
2
.
Đối với phần đất tranh chấp theo thẩm định đo đạc thực tế có diện tích là
84,2m
2
trước đây là 01 con mương, phía cha mẹ của ông S cùng với gia đình sử
dụng, sau đó mới cho ông S. Hộ gia đình ông S sử dụng nước của con mương để
sinh hoạt trong gia đình từ năm 1992, đến năm 2008 có bơm cát lấp con mương
nhưng với số lượng ít nên con mương vẫn còn sử dụng nước trong sinh hoạt gia
đình, đến năm 2022 thì mới bơm cát đầy hết con mương và tiến hành làm hàng
rào xây tường theo đúng ranh đất. Tuy nhiên, khi làm hàng rào, xây tường được
một đoạn thì mới xảy ra tranh chấp với ông S, sau đó ông S làm đơn gửi đến
UBND xã T để hòa giải nhưng hòa giải không thành. Lúc đầu thì phía ông T là
người đứng ra khởi kiện nhưng sau đó lại rút đơn kiện. Đến khi hộ ông S yêu
cầu Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã C đến đo đạc để làm thủ tục
3
tặng cho đất các con trong gia đình thì phía ông T không thống nhất được ranh
đất giữa hai bên, khi đó ông T chỉ ranh đất lấn chiếm sang phần đất của hộ ông
S. Do hai bên không thỏa thuận được với nhau nên mới phát sinh tranh chấp,
ông S mới làm đơn khởi kiện ông T ra Tòa án về việc tranh chấp đất.
Nay phía nguyên đơn ông S yêu cầu ông Lê Văn T phải có nghĩa vụ trả lại
cho hộ ông Lê Văn S gồm có: ông Lê Văn S, bà Nguyễn Thị N, anh Lê Văn T1,
anh Lê Văn T2 và anh Lê Văn T3 phần đất mà ông T lấn chiếm của hộ ông S
theo thẩm định đo đạc thực tế diện tích là 84,2m
2
, nằm trong thửa đất số 58, tờ
bản đồ số 7, diện tích 909,9m
2
; địa chỉ thửa đất: ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền
Giang (nay là ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp); theo Giấy chứng nhận QSD đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL268920, số vào sổ cấp
GCN: CS 00423, cấp ngày 30/10/2012 do UBND huyện C cấp cho hộ ông Lê
Văn S.
- Bị đơn ông Lê Văn T có đại diện theo ủy quyền là ông Lê Văn R
trình bày: Ông Lê Văn T được cha, mẹ ruột của ông T tặng cho phần đất vào
năm 2014, tại thửa đất số 56, tờ bản đồ số 7, diện tích 2.323,6m
2
; địa chỉ thửa
đất: ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp);
theo Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất số BU 196445, số vào sổ cấp GCN: CH00938, cấp ngày 02/7/2014 do
UBND huyện C cấp cho ông Lê Văn T. Sau đó ông T tặng cho các con trong gia
đình thì phần đất của ông T còn lại có số thửa mới là 2721, tờ bản đồ số 7, diện
tích 1.327,8m
2
.
Phần đất của ông T ở hướng Tây tiếp giáp với phần đất của hộ ông S là 01
con mương. Con mương có nguồn gốc từ cha mẹ của ông T có trước đó, nằm
bên phần đất của ông T nhưng từ trước đến nay phía ông T không có sử dụng
mà gia đình ông S sử dụng, hai bên không có tranh chấp, đến khi phía gia đình
ông S bơm cát lấp con mương và làm hàng rào xây tường thì mới phát sinh tranh
chấp với nhau.
Nay ông T không đồng ý trả lại cho ông S phần đất theo thẩm định đo đạc
thực tế diện tích là 84,2m
2
, nằm trong thửa đất số 58, tờ bản đồ số 7, diện tích
909,9m
2
; địa chỉ thửa đất: ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp T, xã
T, tỉnh Đồng Tháp) vì phần đất tranh chấp trước đây là con mương có nguồn gốc
là của cha mẹ ông T để lại cho ông T.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Văn T1, anh Lê Văn
T2 và anh Lê Văn T3 trình bày: Thống nhất với lời trình bày của phía bà
Nguyễn Thị N là người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn ông Lê Văn S.
Anh T1, anh T2 và anh T3 yêu cầu ông Lê Văn T phải có nghĩa vụ trả lại cho hộ
ông Lê Văn S phần đất mà ông T lấn chiếm của hộ ông S theo thẩm định đo đạc
thực tế có diện tích là 84,2m
2
, nằm trong thửa đất số 58, tờ bản đồ số 7, diện tích
909,9m
2
; địa chỉ thửa đất: ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp T, xã
4
T, tỉnh Đồng Tháp); theo Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất số BL268920, số vào sổ cấp GCN: CS 00423, cấp
ngày 30/10/2012 do UBND huyện C cấp cho hộ ông Lê Văn S.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2026/DS-ST ngày 28/01/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 4 - Đồng Tháp (viết tắt là bản án sơ thẩm) đã xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn S, có đại
diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị N.
2. Buộc ông Lê Văn T phải có nghĩa vụ trả lại cho hộ ông Lê Văn S gồm
có: ông Lê Văn S, bà Nguyễn Thị N, anh Lê Văn T1, anh Lê Văn T2 và anh Lê
Văn T3 phần đất mà ông T lấn chiếm của hộ ông S theo thẩm định đo đạc thực
tế có diện tích là 84,2m
2
, nằm trong thửa đất số 58, tờ bản đồ số 7, diện tích
909,9m
2
; địa chỉ thửa đất: ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp T, xã
T, tỉnh Đồng Tháp); theo Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất số BL268920, số vào sổ cấp GCN: CS 00423, cấp
ngày 30/10/2012 do UBND huyện C cấp cho hộ ông Lê Văn S.
(Có sơ đồ bản vẽ kèm theo)
Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo, quyền và
nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10/02/2026, bị đơn ông Lê Văn T có đơn
kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ
thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm;
- Bị đơn ông Lê Văn T ủy quyền cho ông Lê Văn R đại diện trình bày:
Yêu cầu Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông T. Bởi các căn cứ như:
Nguồn gốc đất tranh chấp diện tích 84,2m
2
trước đây là 01 con mương do ông
nội và cha của ông T đào, sau đó để lại cho ông T, những người làm chứng như:
Lê Văn C, Đoàn Văn H, Lê Văn H1, Lê Thị Q biết việc này, nên việc nguyên
đơn ông Lê Văn S cho rằng con mương là do cha mẹ của ông S cho lại ông S là
không đúng; Năm 2022 khi ông T tranh chấp đất với ông S thì phần đất của ông
S có diện tích đo đạc là 813,7m
2
đã trừ phần lộ nhưng diện tích đo đạc theo
Phiếu đo đạc chỉnh lý thửa đất của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã
C ngày 30/5/2025 có diện tích là 843,6m
2
đã chênh lệch gần 30m
2
so với diện
tích đo đạc trước đó; Đất tranh chấp diện tích 84,2m
2
là thuộc thửa 56 (nay
thuộc thửa 2721) do ông T đứng tên giấy chứng nhận QSD đất. Vì vậy, yêu cầu
Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
- Luật sư Dương Mỹ L bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn
ông Lê Văn S trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo
5
của bị đơn ông Lê Văn T và giữ nguyên bản án sơ thẩm, bởi các căn cứ như:
Nguồn gốc đất tranh chấp diện tích 84,2m
2
trước đây là 01 con mương, hộ gia
đình ông S đã sử dụng nước con mương để sinh hoạt trong gia đình từ năm 1992
đến năm 2022, chỉ khi ông S bơm cát san lấp con mương và xây dựng hàng rào
thì phát sinh tranh chấp với ông T; Theo giấy chứng nhận QSD đất cấp cho ông
S năm 2012 đối với thửa 58, diện tích 909,9m
2
có diện tích đo đạc thực tế là
843,6m
2
đã trừ diện tích giảm 66,3m
2
là do mở rộng đường, trong đó diện tích
843,6m
2
đã bao gồm diện tích đất tranh chấp 84,2m
2
, nên phần diện tích đất
tranh chấp 84,2m
2
nằm trong diện tích đất 909,9m
2
đã cấp cho hộ ông S; còn
giấy chứng nhận QSD đất cấp cho ông T năm 2014 đối với thửa 56, sau khi trừ
diện tích tặng cho các con ông T, diện tích còn lại 1.327,8m
2
(nay thuộc thửa
2721), theo đo đạc thực tế vẫn còn đủ diện tích 1.327,8m
2
theo giấy chứng nhận
QSD đất của ông T. Vì vậy, đủ cơ sở xác định đất tranh chấp diện tích 84,2m
2
thuộc thửa 58 của hộ ông S.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Văn T1, anh Lê Văn T2
và anh Lê Văn T3 ủy quyền cho chị Lê Thị Cẩm T4 đại diện trình bày: Thống
nhất trình bày của Luật sư Dương Mỹ L bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho
nguyên đơn ông Lê Văn S như nêu trên, chị T4 không bổ sung gì thêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Thủ tục kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn T được thực hiện
đúng quy định và hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân
theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa kể từ khi
thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử phúc thẩm đã chấp hành và thực hiện đúng,
đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Người tham gia tố tụng đã
thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật
Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn T; giữ nguyên Bản
án dân sự sơ thẩm số 23/2026/DS-ST ngày 28 tháng 01 năm 2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 4 - Đồng Tháp.
(Kèm theo Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm số:
787/PB-VKS-DS ngày 18/5/2026).
NHN ĐNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, được thẩm tra
tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại
diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Đồng Tháp thụ lý và giải
quyết sơ thẩm vụ án “Tranh chấp QSD đất” là đúng quy định tại khoản 9 Điều
26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
6
về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn
ông Lê Văn T không thống nhất bản án sơ thẩm nên đã kháng cáo. Việc ông T
kháng cáo vào ngày 10/02/2026 là trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại
Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc
thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm bà Nguyễn Thị N vắng mặt có đơn yêu cầu xét
xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại
Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Nguyên đơn ông Lê Văn S cho rằng hộ ông S sử dụng
đất thuộc thửa 58, tờ bản đồ số 7, diện tích 909,9m
2
(đất ONT 300m
2
và đất
CLN 609,9m
2
), đất tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp T,
xã T, tỉnh Đồng Tháp) được UBND huyện C cấp cho hộ ông Lê Văn S ngày
30/10/2012 (viết tắt là thửa 58); nguồn gốc đất thửa 58 là của cha mẹ ruột của
ông S cho ông vào năm 1992 và gia đình ông sử dụng ổn định từ đó cho đến
nay; phần đất thửa 58 có hướng Đông giáp với phần đất của ông Lê Văn T là
thửa 2721, tờ bản đồ số 7, diện tích 1.327,8m
2
; đất tranh chấp đo đạc thực tế có
diện tích là 84,2m
2
trước đây là 01 con mương, được hộ gia đình ông S sử dụng
nước con mương để sinh hoạt trong gia đình từ năm 1992, đến năm 2022 thì
bơm cát san lấp con mương và xây dựng hàng rào thì phát sinh tranh chấp với
ông T; nguyên đơn ông S yêu cầu ông T phải có nghĩa vụ trả lại cho hộ ông Lê
Văn S gồm có: ông Lê Văn S, bà Nguyễn Thị N, anh Lê Văn T1, anh Lê Văn T2
và anh Lê Văn T3 (viết tắt là hộ ông S) đất tranh chấp diện tích 84,2m
2
.
Bị đơn ông Lê Văn T không thống nhất với khởi kiện của nguyên đơn và
cho rằng năm 2014 ông được cha mẹ tặng cho phần đất thửa 56, tờ bản đồ số 7,
diện tích 2.323,6m
2
được UBND huyện C cấp cho ông Lê Văn T ngày 02/7/2014
(viết tắt là thửa 56); sau đó ông T tặng cho các con trong gia đình thì phần đất
của ông T còn lại có số thửa mới là 2721, tờ bản đồ số 7, diện tích 1.327,8m
2
(đất ONT 75m
2
và đất CLN 1.252,8m
2
) được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất
đai thị xã C chỉnh lý điều chỉnh ngày 23/5/2022
(viết tắt là thửa 2721); phần đất
thửa 2721 tiếp giáp với phần đất của hộ ông S là 01 con mương (đất tranh chấp);
con mương có nguồn gốc từ cha mẹ của ông T có trước đó, nằm bên phần đất
của ông T, khi gia đình ông S bơm cát lấp con mương và xây dựng hàng rào mới
phát sinh tranh chấp giữa các đương sự.
[3] Xét kháng cáo của các bị đơn ông Lê Văn T yêu cầu Tòa án cấp phúc
thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn. Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
- Căn cứ vào kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, trên cơ sở Phiếu đo đạc
chỉnh lý thửa đất của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã C ngày
30/5/2025 (viết tắt là Phiếu đo đạc ngày 30/5/2025) thể hiện diện tích đất tranh
7
chấp 84,2m
2
nằm trong thửa đất số 58, tờ bản đồ số 7 của hộ ông Lê Văn S đứng
tên giấy chứng nhận QSD đất. Ngoài ra, thửa đất số 58, diện tích 909,9m
2
có
diện tích đo đạc thực tế là 843,6m
2
đã trừ diện tích giảm 66,3m
2
là do mở rộng
đường, trong đó diện tích 843,6m
2
đã bao gồm diện tích đất tranh chấp 84,2m
2
,
nên phần diện tích đất tranh chấp 84,2m
2
nằm trong diện tích đất 909,9m
2
đã cấp
cho hộ ông S theo giấy chứng nhận QSD đất được UBND huyện C cấp ngày
30/10/2012. Còn đối với phần đất của ông T tại thửa đất số 56, tờ bản đồ số 7,
diện tích 2.323,6m
2
, sau khi ông T tặng cho các con trong gia đình gồm: ông Lê
Văn R với diện tích 259,3m
2
, ông Lê Văn D với diện tích 220,8m
2
và ông Lê
Văn C1 với diện tích 412,1m
2
thì phần đất của ông T còn lại có số thửa mới là
2721, tờ bản đồ số 7, diện tích 1.327,8m
2
, theo kết quả đo đạc thực tế thì thửa
2721 có diện tích là 1.327,8m
2
là đúng với diện tích đất còn lại của ông T sau
khi ông tặng đất cho các con, nếu cộng thêm phần diện tích đất tranh chấp
84,2m
2
vào thì diện tích đất của ông T sẽ là 1.412m
2
sẽ dư là 84,2m
2
so với diện
tích đất ông T được cấp. Cho thấy đất tranh chấp diện tích 84,2m
2
thuộc thửa 58
hộ ông Lê Văn S được cấp giấy chứng nhận QSD đất là có cơ sở.
- Ngoài ra, đất tranh chấp diện tích 84,2m
2
trước đây là 01 con mương, hộ
gia đình ông S đã sử dụng nước của con mương để sinh hoạt trong gia đình từ
năm 1992 không ai tranh chấp, cho đến năm 2022 hộ ông S mới bơm cát sang
lấp con mương và xây dựng hàng rào mới phát sinh tranh chấp. Bị đơn ông Lê
Văn T cho rằng con mương có nguồn gốc là của cha mẹ ông T cho lại ông T,
nhưng gia đình ông S sử dụng con mương từ năm 1992, còn phía ông T từ trước
đến nay không có sử dụng con mương, tuy nhiên ông T không đưa ra được tài
liệu, chứng cứ chứng minh. Xét đất tranh chấp là con mương đã được hộ ông S
sử dụng từ năm 1992 đến năm 2022 là 30 năm đã ổn định lâu dài, công khai,
ngay tình, không tranh chấp trong thời gian dài, chỉ phát sinh tranh chấp từ năm
2022 khi hộ ông S lấp mương và xây dựng hàng rào, phía ông T thừa nhận
không sử dụng con mương mà hộ ông S sử dụng, nên có đủ cơ sở xác định con
mương thuộc QSD đất hợp pháp của hộ ông S. Mặt khác, ranh giới QSD đất
giữa hộ ông S và ông T còn được thể hiện qua hàng rào hộ ông S đã xây dựng.
Vì vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn ông Lê Văn S và buộc ông Lê Văn T phải có nghĩa vụ trả lại cho hộ
ông Lê Văn S đất tranh chấp diện tích 84,2m
2
thuộc thửa 58 là có căn cứ và phù
hợp pháp luật.
[4] Tại phiên tòa ông Lê Văn R là người đại diện theo ủy quyền của bị
đơn ông Lê Văn T vẫn giữ yêu cầu kháng cáo của ông T. Hội đồng xét xử xét
thấy trình bày của ông R là không đủ căn cứ, đồng thời ông T cũng không cung
cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có
cơ sở như đã phân tích trên, nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
8
Đối với việc ông R yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm đo đạc lại đất tranh
chấp giữa ông S và ông T. Xét thấy, ông R không đưa ra được tài liệu, chứng cứ
chứng minh việc đo đạc là không đầy đủ, không chính xác hay không đúng. Mặt
khác, theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 21/5/2025 của Tòa án nhân
dân Khu vực 4 - Đồng Tháp và Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày
21/5/2025, Phiếu đo đạc chỉnh lý thửa đất của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký
đất đai thị xã C ngày 30/5/2025 thể hiện ông T đã xác định các điểm mốc tranh
chấp và diện tích đất tranh chấp, đồng thời ông T đã đồng ý ký tên xác nhận vào
các văn bản này, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu đo đạc lại đất
tranh chấp của ông R đại diện cho ông T.
[5] Từ các cơ sở trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng
cáo của ông Lê Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[6] Đối với quan điểm và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay
như nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy là có cơ sở và phù hợp pháp luật, nên
được chấp nhận.
[7] Về án phí: Do kháng cáo của ông Lê Văn T không được chấp nhận,
nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, tuy nhiên do ông T thuộc trường hợp
người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí, nên được xét miễn án phí theo quy
định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn T;
2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 23/2025/DS-ST ngày 28 tháng
01 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Đồng Tháp.
3. Án phí dân sự phúc thẩm: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 1
Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Ông Lê Văn T được miễn án phí dân sự phúc thẩm
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
9
hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực
hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Tòa phúc thẩm TANDTC tại TP.HCM;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- Phòng GĐKTTT&THA TAND tỉnh Đồng
Tháp;
- TAND Khu vực 4 - Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Phòng THADS Khu vực 4 - Đồng Tháp;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án (Danh).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Ngô Tấn Lợi
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 19/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 14/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 12/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 11/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 11/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 08/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 07/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 07/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 06/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 06/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 06/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 06/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 06/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 05/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 05/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 04/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 29/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 29/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 29/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm