Bản án số 66/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của TAND huyện Ea Kar , tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 66/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 66/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 66/2024/DS-ST
Tên Bản án: | Bản án số 66/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của TAND huyện Ea Kar , tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND huyện Ea Kar (TAND tỉnh Đắk Lắk) |
Số hiệu: | 66/2024/DS-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 26/09/2024 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Bà Lê Thị T khởi kiện yêu cầu buộc ông Phạm Minh C phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN EAKAR Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 66/2024/DSST
Ngày: 26/9/2024.
V/v:“Tranh chấp hợp đồng
Chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhã Phương
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lê Khắc Dũng và ông Phan XuânThắng
- Thư k ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Xuân Quyết– Chc v: Thư k
Ta n nhân dân huyn Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại din Vin kim st nhân dân huyn Ea Kar tham gia phiên ta: Ông
Nguyễn Tất Tại - Chc v: Kim st viên.
Ngày 26 thng 9 năm 2024, tại tr sở Tòa án nhân dân huyn Ea Kar, tỉnh Đắk
Lắk, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai v án dân sự th lý số: 179/2022/TLST –
DS, ngày 14 thng 6 năm 2022, về vic: “Tranh chấp hợp đồng chuyn nhượng quyền
sử dng đất”, Theo quyết định đưa v án ra xét xử số: 62/2024/QĐXXST-DS, ngày
16/8/2024; quyết định hoãn phiên tòa số 48/2024/QĐST -DS ngày 30/8/2024 giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị T sinh năm 1961. Địa chỉ: Thôn 9, xã E, huyn E, tỉnh
Đắk Lắk. Có mặt
- Bị đơn: Ông Phạm Minh C. Địa chỉ: Thôn 9, xã E, huyn E, tỉnh Đắk Lắk. Có
mặt
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Ông Hà Văn H, sinh năm 1981. Nơi cư
trú: Buôn Mrông B, thị trấn E, huyn E, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Phạm Thị H, sinh năm 1988. Vắng mặt
2
+ Ông Phạm Đc H, sinh năm 1985. Vắng mặt
+ Ông Phạm Đc H2, sinh năm 1994. Vắng mặt
Cùng địa chỉ: Thôn 9, xã E, huyn E, tỉnh Đắk Lắk.
+ Bà Phạm Thị Oanh, sinh năm 1986. Địa chỉ: thôn 05, xã Cư Ni, huyn Ea Kar,
tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt
Người đại diện theo uỷ quyền của bà H, ông H, ông H2, bà O: Ông Hà Văn H,
sinh năm 1981. Nơi cư trú: Buôn Mrông B, thị trấn E, huyn E, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt
+ Ông Phạm Văn Đ. Địa chỉ: Thôn 9, xã E, huyn E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt
* Người làm chứng: Bà Lương Thị N
Địa chỉ: Thôn 9, xã E, huyn E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày:
Năm 2006, ông Phạm Minh C có sang nhượng cho gia đình tôi mảnh đất với
din tích 6.370m
2
thuộc tờ bản đồ số 15, thửa số 96, theo giấy chng nhận quyền sử
dng đất số P 175232 cấp ngày 14/7/1999 mang tên Phạm Minh C với số tiền
20.000.000đ, gia đình tôi đã đưa cho ông C 4.000.000đ và yêu cầu gia đình ông C viết
giấy sang nhượng mua bn nhưng ông C nói anh em, bác cháu với nhau nên khồng cần
phải viết giấy tờ gì, vì cả n và tin tưởng là người nhà nên gia đình tôi cũng không yêu
cầu nữa. Hai bên chỉ thỏa thuận bằng ming, khi nào làm thủ tc sang nhượng xong sẽ
giao đủ số tiền còn lại.
Đến thng 2/2008 gia đình tôi đã cất hai căn nhà gỗ trên mảnh đất đó đ ở, đến
tháng 5/2009 chồng tôi mất thì ông C sang nhà tôi đi lại một nửa số din tích đất trên,
vì chồng tôi đã mất nên mấy mẹ con tôi đã đồng ý cho ông C lấy lại một phần số din
tích đất. Đến thng 8/2010 gia đình tôi được nhà nước hỗ trợ xây nhà theo chương
trình 167, tại thời đim này ông C đang làm thôn phó thôn 9 xã EaPal, khi tôi làm nhà
thì gia đình ông C cũng không có kiến gì, tôi đã đề nghị gia đình ông C hoàn tất thủ
tc mua bn đất đ gia đình tôi làm bìa đất đ làm nhà nhưng ông C nói không có bìa ở
nhà vì đã mang đi cầm cố vay vốn. Đến năm 2014 UBND xã đã xuống đo đạc làm bìa
cho những hộ chưa có bìa và những hộ đang có sai lch đất đai thì gia đình tôi lại yêu
cầu gia đình ông C làm giấy sang nhượng đất và đưa bìa gốc cho gia đình tôi tch thửa.
Vào ngày 12/5/2014 gia đình ông C đã đồng ý viết giấy tay sang nhượng din tích là
3.185m
2
, có t cận: Phía Đông gip Nguyễn Hay; phía Tây giáp Phạm Quốc T; phía
Nam gip đường đi; phía Bắc giáp Phạm Quốc T nhưng sau đó ông C vẫn chưa lấy bìa
gốc về nên gia đình tôi vẫn chưa th hoàn tất thủ tc tách thửa. Mãi đến năm 2018,
được sự nhất trí của cc thành viên trong gia đình ông C mới đưa bìa gốc cho con gái
tôi là Phạm Thị V đi đính chính và làm thủ tc tách thửa. Hai bên thỏa thuận mọi chi
3
phí sang nhượng gia đình tôi chịu trách nhim thanh ton nhưng ông C lại yêu cầu gia
đình tôi phải chịu thêm l phí mua đất thổ cư cho phần đất 2.805,1m
2
của ông đang sử
dng, xét thấy như vậy là không hợp l và điều kin gia đình tôi cực kỳ khó khăn
không th đp ng yêu cầu của ông nên sau khi có trích lc đành hoãn và trả bìa gốc
lại cho ông C.
Đến năm 2022, các con tôi hỗ trợ chi phí làm bìa đỏ nên tôi có nói ông C hoàn
tất thủ tc thì ông C nói không biết gì nữa hỏi con trai ông là Phạm Đc H2, khi hỏi thì
anh Hùng nói anh đã mang bìa lên địa chính phân lô đ bán rồi, con tôi có thắc mắc
sao lại phân lô cả đất của gia đình tôi thì anh Hùng nói không biết hỏi bố anh. Xét thấy
gia đình ông C cố tình không muốn hoàn tất thủ tc sang nhượng nên tôi đã làm đơn
lên cấp có chính quyền đ hỗ trợ gia đình tôi, đ tôi được yên tâm làm ăn sinh sống
trên mảnh đất của gia đình mình. Ngày 08/5/2022, tại buổi làm vic tại hội trường thôn
9, xã EaPal tôi và ông C có thống nhất khi làm xong thủ tc sang tên 3.562,8m
2
thì tôi
sẽ hỗ trợ đưa cho ông C 50.000.000đ (là tổng số tiền nợ cũ 16.000.000đ và tiền hỗ trợ
là 34.000.000đ). Nhưng cho đến nay ông C vẫn không thực hin theo thỏa thuận nên
hin nay tôi không đồng đưa cho ông C số tiền hỗ trợ 34.000.000đ mà chỉ đồng ý trả
số tiền đất còn nợ là 16.000.000đ.
Tôi yêu cầu tòa án giải quyết công nhận hợp đồng chuyn nhượng quyền sử
dng đất ngày 12/5/2014 và buộc ông Phạm Minh C tiếp tc thực hin hợp đồng
chuyn nhượng quyền sử dng đất đối với din tích 3.562,8m
2
thuộc thửa đất số 48, tờ
bản đồ 07, tọa lạc tại thôn 9, xã EaPăl, huyn EaKar, tỉnh Đắk Lắk.
* Đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông C cũng như đại diện cho những
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà H, ông H, ông H2, bà O: ông Hà Văn H
trình bày:
Bà Lê Thị T là em họ hàng với Phạm Minh C. Năm 1990, vợ chồng ông C
cùng cc con vào thôn 9, xã EaPăl khai hoang đất đ sản xuất nông nghip. Năm 1999,
UBND huyn EaKar cấp Giấy chng nhận QSDĐ số P175232, do UBND huyn
EaKar cấp ngày 14/7/1999 cho Hộ: Phạm Văn Chc với din tích là 3185m
2
, có t
cận: Phía Đông gip Nguyễn H; phía Tây giáp Phạm Quốc T; phía Nam gip đường đi;
phía Bắc giáp Phạm Quốc T.
Năm 2007, do mẹ con bà T không có đất ở và sản xuất, vì thương hoàn cảnh
khó khăn của em dâu nên ông C có cho bà T mượn din tích đất này đ ở và trồng trọt,
sau đó mẹ con bà T đã làm căn nhà gỗ trên đất đ ở. Ông C biết vic bà T làm nhà
nhưng không có kiến phản đối, vì nghĩ đây là công trình tạm, khi lấy lại đất thì tháo
dỡ ngôi nhà gỗ cũng đơn giản. Đến năm 2010, ông C về quê, khi trở vào thì thấy bà T
xây nhà trên đất của ông C theo din hộ nghèo, ông không đồng , nhưng lúc này nhà
đã xây xong. Ông C gặp bà T nói chuyn về vic làm nhà trên đất mà không hỏi ý kiến
4
nhưng bà T nói điều kin khó khăn, không có nhà đ ở, sau này khi mua được đất ở sẽ
trả lại cả đất và nhà cho ông C nên ông C cũng đồng ý.
Năm 2014, bà T có trao đổi với ông C muốn mua lại din tích đất ông C cho
mượn trước đó thì ông C đồng ý. Ông C và bà T lập Giấy sang nhượng đất vào ngày
12/5/2014, có nội dung: “Hin nay tôi có miếng đất thuộc địa bàn thôn 9, xã EaPăl,
huyn EaKar, tỉnh ĐăkLăk với din tích là 3.185m
2
, có t cận: Phía Đông gip
Nguyễn Hay; phía Tây giáp Phạm Quốc T; phía Nam gip đường đi; phía Bắc giáp
Phạm Quốc T. Vì điều kin hoàn cảnh nay tôi sang nhượng cho chị Lê Thị T, cư trú tại
thôn 9, xã EaPăl, huyn EaKar, tỉnh ĐăkLăk, với số tiền là 20.000.000 (hai mươi triu
đồng chẵn). Bên bán có trách nhim làm giấy tờ và sự chng nhận của cơ quan và cc
chủ đất tiếp giáp. Mọi tranh chấp thuộc miếng đất trên …… Bên mua có trch nhim
hoàn trả số tiền cho bên bán trong sau thời đim bên bán hoàn tất thủ tc sang nhượng
đất cho bên mua”.Giấy sang nhượng đất có xác nhận của Ban tự quản thôn. Bà T đã
giao cho ông C số tiền 4.000.000đ (bốn triu đồng), ông C đã nhận tiền nhưng không
có giấy tờ và không nhớ ngày, tháng, năm nhận tiền. Thời đim chuyn nhượng đất
cho bà T, gia đình ông C gồm có 05 nhân khẩu: ông C và 04 người con là Phạm Đc H
(sinh năm 1985), Phạm Thị Oanh (sinh năm 1986), Phạm Thị H (sinh năm 1988) và
Phạm Đc H2 (sinh năm 1994) nhưng chỉ một mình ông C đng ra k đất bán cho bà
T, vợ và các con của ông C không biết vic mua bán này.
K từ khi ông C và bà T viết Giấy sang nhượng đất đến nay, gia đình ông C
xảy ra nhiều mâu thuẫn, với lý do: Giấy chng nhận QSDĐ số P 175232, do UBND
huyn EaKar cấp ngày 14/7/1999 cho Hộ: Phạm Văn Chc, là quyền lợi chung của cả
gia đình nhưng ông C lại một mình đem sang nhượng cho bà T mà không có sự đồng ý
của cc đồng sở hữu. Hơn nữa, trước đó năm 2009, bà Phạm Thị Nước (vợ ông C )
chết, nên din tích 3185m
2
mà ông C sang nhượng cho bà T là tài sản chung của hộ gia
đình, một phần din tích trên là di sản của bà Phạm Thị Nước đ lại chưa được chia
thừa kế. Nhưng ông C lại đem sang nhượng cho bà T mà không được sự đồng ý của
các con, nay các con ông C không đồng sang nhượng din tích 3185m
2
đã nêu ở trên
cho bà Lê Thị T. Từ đó không làm thủ tc sang tên cho bà T. Giấy sang nhượng đất
lập ngày 12/5/2014 giữa ông C với bà Lê Thị T chưa được Công chng, chng thực,
chưa được Cơ quan chuyên môn vào sổ đăng k, hơn nữa din tích sang nhượng không
có ghi chiều rộng, chiều dài, thửa đất, tờ bản đồ bao nhiêu. Và thời hạn c th nào đi
làm thủ tc sang nhượng, vic chuyn nhượng này thì bà T mới trả được
4.000.000đ/20.000.000đ theo thoả thuận. Như vậy, Giấy sang nhượng đất lập ngày
12/5/2014 giữa ông C với bà Lê Thị T đã vi phạm về hình thc và nội dung của hợp
đồng chuyn nhượng QSDĐ mà Bộ luật dân sự và Luật Đất đai quy định nên vô hiu.
Ngày 02/3/2023, ông Phạm Minh C làm đơn phản tố, yêu cầu Tòa án nhân dân
huyn EaKar giải quyết, tuyên: Hợp đồng chuyn nhượng QSDĐ (Giấy sang nhượng
5
đất) lập ngày 12/5/2014 giữa ông Phạm Minh C với bà Lê Thị T là vô hiu. Số tiền
4.000.000đ (bốn triu đồng) ông C đã nhận của bà T, nay ông C cùng các con đồng ý
chuyn nhượng cho bà T din tích đất là 635m
2
có ngôi nhà xây trên đất đ bà T có
chỗ ăn, ở, din tích 635m
2
tương đương với số tiền 4.000.000đ (bốn triu đồng) đã
nhận, và ông C có trách nhim hợp tác với bà T đ làm thủ tc chuyn nhượng 635m
2
cho bà Lê Thị T. Đơn phản tố này của ông C đều được cc đồng sở hữu đồng . Nhưng
sau khi xem xét đo đạc phần din tích nhà bà T đang sử dng thì gia đình ông C đồng
ý chuyn nhượng cho bà T 766m
2
có t cận: Phía Nam gip đường 9m; phía tây giáp
đất còn lại của gia đình ông C 88,76m; phía Đông gip đất ông C đang sử dng 92,2m
(21,43 + 39,18+10,98+9,27+11,39); phía Bắc gip đất ông Phạm Quốc T 9m và bà T
có trách nhim trả lại cho gia đình ông C phần din tích đất còn lại. Đ bảo v quyền
và lợi ích hợp pháp cho bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa v liên quan là các
con của ông C, nay tôi đề nghị Toà án nhân dân huyn EaKar giải quyết v án theo nội
dung phản tố của ông Phạm Minh C.
* Ông Phạm Văn Đ trình bày: Tôi là con trai bà Lê Thị T. Thửa đất của tôi là
thửa đất số 96, tờ bản đồ 15, din tích 6.370m
2
loại đất màu, tôi xc định tôi không có
liên quan về vic mượn đất, mua bán hay có bất c thỏa thuận riêng nào với ông Phạm
Minh C. Mọi vic mua bán và thỏa thuận là do mẹ tôi là bà Lê Thị T trực tiếp trao đổi
cùng ông C.
* Người làm chứng bà Lương Thị N trình bày: Năm 2010, tôi thấy bà Lê Thị
T làm nhà 167 tại miếng đất hin nay đang sử dng. Từ năm 2011 – 2020 tôi giữ chc
v là trưởng thôn nên khi hai gia đình làm giấy tờ mua bn đất thì tôi đã k xc nhận
làm chng giữa hai gia đình là mua đất gi 20.000.000đ, nhưng bà T mới đưa trước
4.000.000đ, số tiền còn lại hẹn làm bìa xong thì mới thanh ton đủ.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện EaKar phát biểu quan
điểm về việc giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định tại
Điều 48 Bộ luật tố tng dân sự năm 2015; thực hin đúng cc quy định của bộ luật tố
tng dân sự về phiên toà sơ thẩm; vic chấp hành pháp luật của cc đướng sự khi tham
gia tố tng k từ khi th lý v n cho đến trước thời đim Hội đồng xét xử nghị n đã
thực hin đúng cc quyền và nghĩa v quy định tại cc Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tng
dân sự năm 2015.
- Về nội dung: Đề nghị căn c Điều 117, Điều 119, Điều 130, Điều 131, 500,
501, Điều 502, Điều 503 BLDS và khoản 1, đim a khoản 3 Điều 167 Luật đất đai
2013.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kin của bà Lê Thị T.
6
+ Công nhận một phần hợp đồng chuyn nhượng đất xác lập ngày 12/5/2014
giữa ông Phạm Minh C và bà Lê Thị T với din tích 1.088,9m
2
, có t cận: Phía đông
giáp với đất ông C đang sử dng; phía Tây giáp với phần đất còn lại của thửa 96 (là
phần đất bà T đang sử dng); phía Nam gip đường đi dài 13m; phía Bắc gip đất ông
Phạm Quốc T dài 13m và các tài sản trên đất gồm: 01 nhà cấp 4, nhà tắm, nhà v sinh;
01giếng đào năm 2008; 14 cây muồng (12 cây có tiêu leo); 07 cây nhãn trồng năm
2020; 10 cây vải trồng năm 2020; 01 cây bơ trồng năm 2018; 03 cây bơ trồng năm
2008; 01 cây xoài trồng năm 2008; 01 cây mãng cầu trồng năm 2018; 01 cây na trồng
năm 2018; 02 cây mít ghép trồng năm 2015.
+ Buộc bà Lê Thị T có nghĩa v thanh toán cho ông Phạm Minh C số tiền
16.946.250đ.
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Phạm Minh C.
+ Tuyên bố một phần hợp đồng chuyn nhượng đất xác lập ngày 12/5/2014
giữa ông Phạm Minh C và bà Lê Thị T vô hiu. Buộc bà T trả lại cho ông C din tích
2.696,1 m
2
, có t cận: Phía Đông gip với đất công nhận cho bà T dài dài 87,58m; phía
Tây giáp với đất ông Phạm Quốc T dài 75,2m ; phía Nam gip đường đi dài 44,1m;
phía Bắc gip đất ông Phạm Quốc T dài 27,75m vô hiu. Ông Nguyễn Thành Chc
được quyền quản lý, sử dng đối với quyền sử dng đất nêu trên và sở hữu các tài sản
trên đất gồm 04 cây vải trồng năm 2008; 40 cây vải trồng năm 2020; 23 cây nhãn
trồng năm 2020; 09 cây mít ghép trồng năm 2020; 01 cây mít thường trồng năm 2020;
01 cây ổi trồng năm 2008; 01 cây na trồng năm 2018; 02 cây bơ trồng năm 2008; 01
cây bơ trồng năm 1018; 02 cây mãng cầu trồng năm 2018
+ Buộc ông Phạm Minh C có nghĩa v thanh toán cho bà Lê Thị T giá trị tài
sản trên đất với số tiền 95.708.200đ.
Về chi phí tố tng và án phí: Đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phần trình bày của nguyên đơn,
bị đơn, quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tc tố tng: Xét yêu cầu khởi kin của nguyên đơn, Ta n nhân
dân huyn Ea Kar xc định đây là v n “Tranh chấp hợp đồng chuyn nhượng quyền
sử dng đất” nên căn c khoản 9 Điều 26,đim a khoản 1 Điều 35, đim a khoản 1
Điều 39 của Bộ Luật tố tng dân sự đ th lý và giải quyết là đúng theo quy định của
pháp luật.
[2] Về nội dung:
7
Về nguồn gốc din tích đất tranh chấp: Theo nội dung giấy sang nhượng đất
lập ngày 12/5/2014 giữa bà T và ông C đối với din tích đất 3.185m
2
là một phần din
tích đất nằm trong thửa đất số 96, tờ bản đồ số 15 có nguồn gốc là do gia đình ông C,
bà Nước và các con khai hoang vào năm 1990; đến năm 1999, được UBND huyn
EaKar cấp Giấy chng nhận QSDĐ số P175232 cho hộ gia đình ông C. Năm 2009, bà
Nước chết nhưng không đ lại di chúc. Như vậy, đây là tài sản chung của hộ gia đình
ông C.
Gia đình bà T và gia đình ông C có mối quan h bà con họ hàng với nhau nên
bà T cho rằng năm 2006, gia đình ông C có chuyn nhượng (không làm giấy tờ) cho
gia đình bà 6.370m
2
thuộc tờ bản đồ số 15, thửa số 96, tọa lạc tại thôn 9, xã EaPăl,
huyn EaKar, tỉnh Đắk Lắk với số tiền 20.000.000đ, nhưng gia đình ông C lại xc định
vì thương hoàn cảnh khó khăn của em dâu nên ông C có cho bà T mượn din tích đất
này đ ở và trồng trọt, sau đó mẹ con bà T đã làm căn nhà gỗ trên đất đ ở. Ông C biết
vic bà T làm nhà nhưng không có ý kiến phản đối, vì nghĩ đây là công trình tạm, khi
lấy lại đất thì tháo dỡ ngôi nhà gỗ cũng đơn giản. Đến năm 2010, bà T được nhà nước
xây cho căn nhà nhỏ theo din hộ nghèo chương trình 167, bà T xc định ông C không
có ý kiến gì về vic này vì tại thời đim này ông C đang làm thôn phó thôn 9, xã EaPăl
nhưng ông C lại xc định khi đó ông C về quê, khi trở vào thì thấy nhà đã xây xong
trên đất của ông C theo din hộ nghèo, ông không đồng , nhưng lúc này nhà đã xây
xong nên vào năm 2014 ông C và bà T lập giấy sang nhượng đất vào ngày 12/5/2014
với din tích là 3.185m
2
, có t cận: Phía Đông gip Nguyễn Hay; phía Tây giáp Phạm
Quốc T; phía Nam gip đường đi; phía Bắc giáp Phạm Quốc T thuộc địa bàn thôn 9,
xã EaPăl, huyn EaKar, tỉnh Đắk Lắk với giá 20.000.000đ, thỏa huận bên bán có trách
nhim làm giấy tờ và bên mua có trách nhim hoàn trả số tiền cho bên bán sau thời
đim bên bán hoàn tất thủ tc sang nhượng đất cho bên mua. Giấy sang nhượng đất có
xác nhận của Ban tự quản thôn. Bà T đã giao cho ông C số tiền 4.000.000đ (bốn triu
đồng), ông C đã nhận tiền nhưng không có giấy tờ và không nhớ ngày, thng, năm
nhận tiền. Như vậy, theo lời trình bày ở trên thì cc bên đều không có tài liu, chng
c gì đ chng minh ngoài giấy sang nhượng đất lập vào ngày 12/5/2014. Vic ông C
và bà T xác lập giấy sang nhượng đất ngày 12/5/2014, din tích đất 3.185m
2
, với giá là
20.000.000đ là có thật; bà T đã nhận đất nhưng mới giao cho ông C số tiền là
4.000.000đ (1/5 số tiền nhận chuyn nhượng).
+ Về hình thc: Hợp đồng chuyn nhượng được lập thành văn bản nhưng
không được chng thực theo quy định là vị phạm về hình thc theo quy định tại khoản
3 Điều 167 Luật đất đai.
+ Về nội dung: Din tích đất 3.185m
2
là tài sản chung của hộ gia đình và khi
bà Nước chết cũng chưa chia di sản thừa kế nhưng khi chuyn nhượng chỉ có mình
8
ông C đng ra giao dịch chuyn nhượng cho bà T mà không được sự đồng ý của các
thành viên trong hộ gia đình là vi phạm khoản 2 Điều 212 BLDS.
Hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dng đất xác lập ngày 12/5/2014: giữa
ông C với bà T đối với din tích đất 3.185m
2
đã vô hiu vì đã vi phạm về hình thc và
nội dung của hợp đồng. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết v án ông C và các thành
viên trong gia đình đã đồng ý tiếp tc thực hin một phần hợp đồng chuyn nhượng
cho bà T din tích đất là 766m
2
; Qua xem xét hin trạng các tài sản mà bà T tạo lập
trên đất và điều kin tách thửa theo quy định đối với đất nông nghip tối thiu phải là
1.000m
2
; hơn nữa, vào năm 2008, nhà nước đã xây cho bà T 01 căn nhà thuộc din
chương trình 167 (chính sch hỗ trợ nhà cho hộ nghèo) trên phần din tích đất này. Do
đó, cần phải chấp nhận một phần hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dng đất xác lập
ngày 12/5/2014 giữa bà T và ông C, với din tích đất là là 1.088,9m
2
. Theo thỏa thuận
din tích 3.185m
2
đất có giá trị chuyn nhượng là 20.000.000đ; bà T đã trả được số
tiền là 4.000.000đ (1/5 giá trị hợp đồng) tương đương với giá trị của 637m
2
(1/5 din
tích đất đã thỏa thuận chuyn nhượng). Do đó, bà T phải trả tiền đối với phận din tích
đất còn lại cho ông C: 1.088,9m
2
- 637m
2
= 451,9m
2
. Theo kết quả đinh gi, xc định
1m2 có trị giá là 37.500đ. Như vậy, cần buộc bà T phải trả thêm cho ông C số tiền là:
451,9m
2
x 37.500đ = 16.946.250đ.
Buộc bà T phải trả lại cho ông C din tích đất là 2.696,1m
2
và các tài sản gắn
liền trên đất. Trong quá trình quản lý sử dng din tích đất là 2.696,1m
2
bà T có tạo lập
được các tài sản trên đất có trị gi là 95.706.100đ (theo kết quả định giá). Do các tài
sản trên đất được giao lại cho ông C nên cần buộc ông C có nghĩa v trả lại cho bà T
số tiền là 95.706.100đ.
Từ những phân tích trên cần chấp nhận một phần yêu cầu khởi kin của bà Lê
Thị T.
+ Công nhận một phần hợp đồng chuyn nhượng đất xác lập ngày 12/5/2014
giữa ông Phạm Minh C và bà Lê Thị T với din tích 1.088,9m
2
, có t cận: Phía đông
giáp với đất ông C đang sử dng dài 92,1m; phía Tây giáp với phần đất còn lại của
thửa 96 (là phần đất bà T đang sử dng) dài 87,58m; phía Nam gip đường đi dài 13m;
phía Bắc gip đất ông Phạm Quốc T dài 13m và các tài sản trên đất gồm: 01 nhà cấp 4,
nhà tắm, nhà v sinh; 01giếng đào năm 2008; 14 cây muồng (12 cây có tiêu leo); 07
cây nhãn trồng năm 2020; 10 cây vải trồng năm 2020; 01 cây bơ trồng năm 2018; 03
cây bơ trồng năm 2008; 01 cây xoài trồng năm 2008; 01 cây mãng cầu trồng năm
2018; 01 cây na trồng năm 2018; 02 cây mít ghép trồng năm 2015.
+ Buộc bà Lê Thị T có nghĩa v thanh toán cho ông Phạm Minh C số tiền
16.946.250đ.
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Phạm Minh C.
9
+ Tuyên bố một phần hợp đồng chuyn nhượng đất xác lập ngày 12/5/2014
giữa ông Phạm Minh C và bà Lê Thị T vô hiu. Buộc bà T trả lại cho ông C din tích
2.696,1 m
2
, có t cận: Phía Đông gip với đất công nhận cho bà T dài dài 87,58m; phía
Tây giáp với đất ông Phạm Quốc T dài 75,2m ; phía Nam gip đường đi dài 44,1m;
phía Bắc gip đất ông Phạm Quốc T dài 27,75m vô hiu. Ông Phạm Minh C được
quyền quản lý, sử dng đối với quyền sử dng đất nêu trên và sở hữu các tài sản trên
đất gồm 04 cây vải trồng năm 2008; 40 cây vải trồng năm 2020; 23 cây nhãn trồng
năm 2020; 09 cây mít ghép trồng năm 2020; 01 cây mít thường trồng năm 2020; 01
cây ổi trồng năm 2008; 01 cây na trồng năm 2018; 02 cây bơ trồng năm 2008; 01 cây
bơ trồng năm 1018; 02 cây mãng cầu trồng năm 2018
+ Buộc ông Phạm Minh C có nghĩa v thanh toán cho bà Lê Thị T giá trị tài
sản trên đất với số tiền 95.708.200đ.
Khấu trừ nghĩa v thanh toán tiền giữa bà Lê Thị T và ông Phạm Minh C.
Buộc ông Phạm Minh C có nghĩa v thanh toán cho bà Lê Thị T số tiền: 95.708.200
đồng - 16.946.250 đồng =78.761.950đồng.
Bà Lê Thị T và ông Phạm Minh C có nghĩa v liên h với cơ quan nhà nước
có thẩm quyền đ kê khai, đăng k tch thửa, cấp giấy chng nhận quyền sử dng đất
theo quy định của pháp luật
[3]. Về yêu cầu định giá lại tài sản của người đại din theo ủy quyền của bị
đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Ngày 08/8/2024 Hội đồng định giá huyn Ea Kar tiến
hành định giá tài sản tranh chấp theo quyết định định giá tài sản và thành lập hội đồng
định giá số 20/2024/QĐ – ĐG ngày 31/7/2024 của Toà án nhân dân huyn Ea Kar. Tại
buổi định giá cc đương sự có mặt, Hội đồng định gi đã giải thích quyền thoả thuận
giá trị tài sản tranh chấp đ cc đương sự tự thoả thuận với nhau về giá trị tài sản
nhưng cc đương sự không thoả thuận được giá trị tài sản tranh chấp. Tại buổi định
gi, người đại din theo uỷ quyền của bị đơn và đại din người có quyền lợi, nghĩa v
liên quan ông Hà Văn H có mặt. Sau khi Hội đồng định giá thông qua giá trị tài sản
tranh chấp, cc đương sự đồng ý và không có ý kiến gì về kết quả định gi. Đồng thời,
sau khi ký biên bản định gi cc đương sự không khiếu nại về giá và không yêu cầu
định giá lại tài sản. Sau khi Toà án nhân dân huyn Ea Kar ban hành quyết định đưa v
án ra xét xử số 62/2024/QĐXXST-DS ngày 16/8/2024 thì ngày 30/8/2024 bị đơn yêu
cầu định giá lại tài sản vì cho rằng hội đồng định gi xc định gi đất thì quá thấp còn
giá cây trồng thì quá cao nhưng không có tài liu, chng c đ chng minh. Xét yêu
cầu định giá lại tài sản của đương sự là không có cơ sở nên Hội đồng xét xử xét thấy
không có căn c đ chấp nhận.
[4] Về chi phí tố tng:
10
Chi phí thẩm định, định gi và đo đạc là 14.000.000đ, do nguyên đơn bà Lê
Thị T đã nộp tạm ng và đã chi xong. Do yêu khởi kin của nguyên đơn được chấp
nhận một phần và yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp nhận một phần nên cần buộc
mỗi bên phải chịu ½ chi phí tố tng này. Bà Lê Thị T phải chịu 7.000.000đ tiền chi phí
tố tng được khấu trừ số tiền tạm ng chi phí tố tng đã nộp, ông Phạm Minh C có
trách nhim trả lại cho bà Lê Thị T 7.000.000đ chi phí tố tng.
[4]Về n phí: Căn c đim đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14, ngày 30 thng 12 năm 2016 của Ủy ban thường v quốc hội.
Do yêu cầu khởi kin của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên bị đơn
phải chịu án phí DSST. Tuy nhiên, ông C sinh năm 1960, là người cao tuổi và có đơn
xin miễn án phí nên được miễn án phí DSST. Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn được
chấp nhận một phần nên nguyên đơn bà Lê Thị T phải chịu án phí DSST; Tuy nhiên,
bà Lê Thị T, sinh năm 1961, là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được
miễn án phí DSST
Hoàn trả cho ông Phạm Minh C số tiền tạm ng n phí 300.000đ đã nộp tạm
ng theo biên lai thu số AA/2022/0000932 ngày 06/4/2023 tại Chi cc Thi hành án
dân sự huyn EaKar.
Xét quan đim của Đại din Vin kim sát nhân dân huyn Ea Kar là có căn c
nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn c vào khoản 9 Điều 26, đim a khoản 1 Điều 35, đim a khoản 1 Điều
39, Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165; khoản 1, đim b khoản 2 Điều
227, Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật tố tng dân sự;
- Căn c Điều 117, Điều 119, Điều 130, Điều 131, 500, 501, Điều 502, Điều
503 BLDS và khoản 1, đim a khoản 3 Điều 167 Luật đất đai 2013
- Căn c đim đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14,ngày 30
thng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về án phí, l phí Tòa
án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kin của nguyên đơn bà Lê Thị T.
+ Công nhận một phần hợp đồng chuyn nhượng đất xác lập ngày 12/5/2014
giữa ông Phạm Minh C và bà Lê Thị T với din tích 1.088,9m
2
, có t cận: Phía đông
giáp với đất ông C đang sử dng dài 92,1m; phía Tây giáp với phần đất còn lại của
11
thửa 96 (là phần đất bà T đang sử dng) dài 87,58m; phía Nam gip đường đi dài 13m;
phía Bắc gip đất ông Phạm Quốc T dài 13m. Bà Lê Thị T được quyền quản lý, sử
dng đối với din tích đất nêu trên và sở hữu các tài sản trên đất gồm: 01 nhà cấp 4,
nhà tắm, nhà v sinh; 01giếng đào năm 2008; 14 cây muồng (12 cây có tiêu leo); 07
cây nhãn trồng năm 2020; 10 cây vải trồng năm 2020; 01 cây bơ trồng năm 2018; 03
cây bơ trồng năm 2008; 01 cây xoài trồng năm 2008; 01 cây mãng cầu trồng năm
2018; 01 cây na trồng năm 2018; 02 cây mít ghép trồng năm 2015.
+ Buộc bà Lê Thị T có nghĩa v thanh toán cho ông Phạm Minh C số tiền
16.946.250đ.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Phạm Minh C.
+ Tuyên bố một phần hợp đồng chuyn nhượng đất xác lập ngày 12/5/2014
giữa ông Phạm Minh C và bà Lê Thị T vô hiu. Buộc bà T trả lại cho ông C din tích
2.696,1 m
2
, có t cận: Phía Đông gip với đất công nhận cho bà T dài dài 87,58m; phía
Tây giáp với đất ông Phạm Quốc T dài 75,2m ; phía Nam gip đường đi dài 44,1m;
phía Bắc gip đất ông Phạm Quốc T dài 27,75m vô hiu. Ông Phạm Minh C được
quyền quản lý, sử dng đối với din tích đất nêu trên và sở hữu các tài sản trên đất
gồm 04 cây vải trồng năm 2008; 40 cây vải trồng năm 2020; 23 cây nhãn trồng năm
2020; 09 cây mít ghép trồng năm 2020; 01 cây mít thường trồng năm 2020; 01 cây ổi
trồng năm 2008; 01 cây na trồng năm 2018; 02 cây bơ trồng năm 2008; 01 cây bơ
trồng năm 1018; 02 cây mãng cầu trồng năm 2018
+ Buộc ông Phạm Minh C có nghĩa v thanh toán cho bà Lê Thị T giá trị tài
sản trên đất với số tiền 95.708.200đ.
Khấu trừ nghĩa v thanh toán tiền giữa bà Lê Thị T và ông Phạm Minh C.
Buộc ông Phạm Minh C có nghĩa v thanh toán cho bà Lê Thị T số tiền:
78.761.950đồng.
Áp dụng khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự để tính lãi suất trong giai đoạn thi
hành án khi đương sự có đơn yêu cầu thi hành án.
Bà Lê Thị T và ông Phạm Minh C có nghĩa v liên h với cơ quan nhà nước có
thẩm quyền đ kê khai, đăng k tách thửa, cấp giấy chng nhận quyền sử dng đất
theo quy định của pháp luật và chịu cc nghĩa v tài chính (nếu có)
3. Về chi phí tố tng:
Bà Lê Thị T phải chịu 7.000.000đ tiền chi phí tố tng được khấu trừ số tiền
tạm ng chi phí tố tng đã nộp, ông Phạm Minh C có trách nhim trả lại cho bà Lê Thị
T 7.000.000đ chi phí tố tng.
4. Về án phí:

12
Bà Lê Thị T và ông Phạm Minh C đều được miễn án phí Dân sự sơ thẩm theo
quy định của pháp luật.
Hoàn trả cho ông Phạm Minh C số tiền tạm ng n phí 300.000đ đã nộp tạm
ng theo biên lai thu số AA/2022/0000932 ngày 06/4/2023 tại Chi cc Thi hành án
dân sự huyn EaKar.
5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên ta được quyền kháng cáo
bản án trong hạn luật định 15 ngày, k từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt tại phiên ta được quyền kháng cáo bản án trong hạn luật
định 15 ngày, k từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết công khai theo quy
định của Bộ luật tố tng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án
dân sự.
Nơi nhận: T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Đắk Lắk; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyn EaKar;
- Chi cc THADS huyn EaKar;
- Cc đương sự;
- Lưu HS, VP.
Trần Thị Nhã Phương
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 25/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 20/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 20/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 06/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 06/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 04/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 04/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm