Bản án số 13/2025/DS-PT ngày 17/03/2025 của TAND tỉnh Lào Cai về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 13/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 13/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 13/2025/DS-PT
Tên Bản án: | Bản án số 13/2025/DS-PT ngày 17/03/2025 của TAND tỉnh Lào Cai về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Lào Cai |
Số hiệu: | 13/2025/DS-PT |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 17/03/2025 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Giữ nguyên bản án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÀO CAI
Bản án số: 13/2025/DS-PT
Ngày 17-3-2025
V/v “Tuyên bố văn bản thỏa thuận thi
hành án, hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất vô hiệu, buộc tháo dỡ tài sản
xác định quyền tài sản thi hành án”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Nghĩa
Các thẩm phán: Ông Lương Văn Đài và ông Chu Văn Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà H2g Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lào
Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông
Trần Xuân Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 17/3/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử phúc thẩm
công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 33/2025/TLPT- DS ngày 07 tháng
10 năm 2024 về việc “Tuyên bố văn bản thỏa thuận thi hành án, hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, buộc tháo dỡ tài sản xác định quyền
tài sản thi hành án” do Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2024/DS-ST ngày
05/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã SP, tỉnh Lào Cai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1981/2024/QĐ-PT ngày
25/11/2024, quyết định hoãn phiên tòa số 3017/2024/QĐ-PT ngày 17/12/2024,
quyết định hoãn phiên tòa số 07/2015/QĐ-PT ngày 17/01/2025, quyết định hoãn
phiên tòa số 23/2015/QĐ-PT ngày 18/02/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
- Bà Vũ Thị L, sinh năm 1968. (Có mặt)
- Bà Vũ Thị H, sinh năm 1963. (Có mặt)
- Ông Vũ Đức Đ, sinh năm 1971. (Vắng mặt)
- Ông Vũ Hải Q, sinh năm 1978. (Có mặt)
Cùng địa chỉ: Tổ 04, phường PSP, thị xã SP, tỉnh Lào Cai.
- Bà Vũ Thị L, sinh năm 1973. Địa chỉ: Xóm MC, xã MH, huyện QH, tỉnh
Nghệ An. (Vắng mặt)
- Bà Vũ Thanh H1, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn HG, xã VH, thành phố
LC, tỉnh Lào Cai. (Vắng mặt)
2
Người đại diện theo ủy quyền của bà Vũ Thị H, ông Vũ Đức Đ, bà Vũ Thị
L, ông Vũ Hải Q, bà Vũ Thanh H1: Bà Vũ Thị L, sinh năm 1968. Địa chỉ: Tổ
04, phường PSP, thị xã SP, tỉnh Lào Cai. (Có mặt)
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà Vũ Thị L: Ông Cao Trần T.
Địa chỉ: Số 094 đường HHT, tổ 27, phường CL, thành phố LC, tỉnh Lào Cai.
(Có mặt)
Bị đơn:
- Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1952. (Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1955. (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Tổ 14, phường BM, thành phố LC, tỉnh Lào Cai.
Người đại diện theo ủy quyền của bà ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị
H2: Ông Bùi Cao T1, sinh năm 1970. Địa chỉ: Tổ 02, phường SP, thị xã SP, tỉnh
Lào Cai. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan:
- Ông Phan Công S2, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn Văn Giáp, xã Văn
Bình, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)
- Ông: Bùi Cao T1, sinh năm 1970. Địa chỉ: Tổ 02 phường SP, thị xã SP,
tỉnh Lào Cai (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Chi cục thi hành án dân sự thị xã SP. Địa chỉ: Số 10, đường Lê Hồng
Phong, thị xã SP, tỉnh Lào Cai
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Đăng T3 - Phó chi cục trưởng
chi cục thi hành án dân sự thị xã SP, tỉnh Lào Cai. (Có mặt)
Do có đơn kháng cáo của bà Vũ Thị L, đồng thời là người đại diện theo ủy
quyền của các nguyên đơn bà Vũ Thị H, bà Vũ Đức Đ, bà Vũ Hải Q, bà Vũ Thị
L, bà Vũ Thanh H1 và đơn kháng cáo của Chi cục thi hành án dân sự thị xã SP,
tỉnh Lào Cai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Vũ Thị L trình bày:
Cụ Vũ Văn Đ1 và cụ Trần Thị H4 sinh được 06 người con là bà Vũ Thị L,
sinh năm 1963, bà Vũ Thị H, sinh năm 1968, ông Vũ Đức Đ, sinh năm 1971, bà
Vũ Thị L, sinh năm 1973, ông Vũ Hải Q, sinh năm 1978, bà Vũ Thanh H1, sinh
năm 1982. Cụ Vũ Văn Đ1 và cụ Trần Thị H4 tạo dựng khối tài sản chung diện
tích đất là 1.300m
2
, gồm đất ở và đất trồng Dược-Địa chỉ thị trấn SP, huyện SP,
tỉnh H2g L Sơn (Nay là tổ 04, phường PSP thị xã SP, tỉnh Lào Cai) theo giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số 00116 do Ủy ban nhân dân huyện SP cấp ngày
15 tháng 6 năm 1990 mang tên cụ Vũ Văn Đ1. Đến năm 1997, cụ Vũ Văn Đ1
chết không để lại di chúc và chưa chia di sản thừa kế. Đến năm 2002 Ủy ban
nhân dân huyện SP cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích đất ở là
120m
2
, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 00035
QSDĐ/23/22/1/01 do Ủy ban nhân dân thị xã SP cấp ngày 22 tháng 01 năm
3
2002 mang tên cụ Trần Thị H4, Nhà nước không cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đối với đất trồng Dược. Sau này, bà Vũ Thị L có kê khai phần diện tích
đất trồng Dược của cụ Vũ Văn Đ1 và cụ Trần Thị H4 chưa được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Vũ Thị L.
Năm 2004, cụ Trần Thị H4 chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất là
280m
2
và diện tích đất là 800m
2
-Địa chỉ thị trấn SP, huyện SP, tỉnh H2g L Sơn
(Nay là tổ 04, phường PSP thị xã SP, tỉnh Lào Cai) cho bà Nguyễn Thị H2. Tại
Bản án số: 03/2007/ST-DS ngày 25 tháng 6 năm 2007 của Tòa án nhân dân
huyện SP, tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký kết ngày 15
tháng 4 năm 2004 và ngày 20 tháng 4 năm 2004, giữa cụ Trần Thị H4 với bà
Nguyễn Thị H2 vô hiệu, buộc cụ Trần Thị H4 phải trả cho bà Nguyễn Thị H2 số
tiền 423.000.000 đồng. Tại Bản án số 26/2007/DS-PT ngày 19 tháng 10 năm
2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai, tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, giữa cụ Trần Thị H4 và bà Nguyễn Thị H2 vô hiệu, buộc cụ
Trần Thị H4 phải trả cho bà Nguyễn Thị H2 số tiền 423.000.000 đồng.
Ngày 18 tháng 11 năm 2008 và ngày 21 tháng 11 năm 2008, cụ Trần Thị
H4 tự thỏa thuận thi hánh án trả cho bà Nguyễn Thị H2 01 thửa có chiều dài
theo mặt đường Nguyễn Chí Thanh 08m, chiều sâu 35m, diện tích là 280m
2
và
01 thửa có chiều dài 20m, chiều sâu 40m, diện tích là 800m
2
, đều là loại đất
nông nghiệp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất-Địa chỉ tổ 04,
phường PSP, thị xã SP, tỉnh Lào Cai để thi hành nghĩa vụ thi hành án số tiền
423.000.000 đồng do Chi cục thi hành án dân sự thị xã SP lập. Cụ Trần Thị H4
thỏa thuận thi hành án trả 02 thửa đất nêu trên cho bà Nguyễn Thị H2, nhưng
không được sự đồng ý của một số người con dẫn đến tranh chấp. Năm 2010 cụ
Trần Thị H4 chết. Đầu năm 2015, gia đình bà Nguyễn Thị H2 xây dựng kè,
tường và đổ đất vào 02 thửa đất.
Vì vậy các nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết:
- Tuyên bố biên bản thỏa thuận thi hành án, giữa cụ Trần Thị H4, ông Vũ
Đức Đ, ông Vũ Hải Q với bà Nguyễn Thị H2 về việc thỏa thuận, cụ Trần Thị H4
trả diện tích đất 280 m
2
và diện tích là 800 m
2
(Địa chỉ tổ 04, phường PSP, thị xã
SP, tỉnh Lào Cai) cho bà Nguyễn Thị H2 do Cơ quan thi hành án huyện SP lập
ngày 18 tháng 11 năm 2008 và ngày 21 tháng 11 năm 2008 vô hiệu. Buộc ông
Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị H2 và ông Bùi Cao T1 tháo dỡ toàn bộ tài sản
trả lại diện tích là 280m2 và diện tích đất là 660 m
2
, Địa chỉ tổ 04, phường PSP,
thị xã SP, tỉnh Lào Cai (Theo kết quả đo đạc xem xét thẩm định tại chỗ diện tích
là 705,4 m
2
và diện tích là 266,6 m
2
).
- Xác định quyền tài sản của cụ Trần Thị H4 để thực hiện nghĩa vụ thi hành
án và xác định quyền tài sản của các đồng nguyên đơn đối với quyền sử dụng 02
thửa đất tranh chấp.
- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15 tháng 11
năm 2014, giữa bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất ông Bùi Cao T1 với bên
nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ông Phan Công S2 và hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 20 tháng 10 năm 2015, giữa bên chuyển
4
nhượng quyền sử dụng đất ông Phan Công S2 với bên nhận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ông Bùi Cao T1, đối với diện tích đất là 280 m
2
và diện tích
đất là 660 m
2
(Địa chỉ tổ 04, phường PSP, thị xã SP, tỉnh Lào Cai) là vô hiệu.
Ngoài ra nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ kết luận định giá tài
sản của hội đồng định giá tài sản tỉnh Lào Cai kết luận trị giá quyền sử dụng đất
là 50.000 đồng/m
2
.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị
H2, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Bùi Cao T1 trình bày:
Năm 2004, ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị H2 nhận chuyển nhượng
của cụ Trần Thị H4 02 thửa đất, có tổng diện tích khoảng là 1.080m
2
, trị giá là
355.000.000 đồng, ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị H2 đã giao đủ tiền,
nhưng cụ Trần Thị H4 nói chưa trả tiền nên không giao đất dẫn đến tranh chấp
được giải quyết tại Tòa án nhân dân huyện SP. Tại Bản án phúc thẩm số:
26/2007/DSPT ngày 19 tháng 10 năm 2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai,
tuyên xử cụ Trần Thị H4 trả cho bà Nguyễn Thị H2 số tiền 423.000.000 đồng.
Đến ngày 18 tháng 11 năm 2008 và ngày 21 tháng 11 năm 2008, cụ Trần Thị
H4, ông Vũ Đức Đ, ông Vũ Hải Q tự nguyện thỏa thuận thi hành án trả thửa đất
diện tích là 280m
2
và thửa đất diện tích là 660m
2
-Địa chỉ tổ 11b, thị trấn SP,
huyện SP, tỉnh Lào Cai cho bà Nguyễn Thị H2 do cơ quan thi hành án dân sự
huyện SP lập. Sau khi gia đình bà Nguyễn Thị H2 nhận bàn giao đất, đã T1 hành
xây kè, tường rào, đổ đất thì cụ Trần Thị H4 và các con ngăn cản dẫn đến tranh
chấp.
Năm 2016, các con của cụ Trần Thị H4 khởi kiện buộc ông Nguyễn Văn N
và bà Nguyễn Thị H2 tháo dỡ tài sản trên đất trả lại 02 thửa đất nhưng ông
Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị H2 không nhất trí, với lý do ngày 15 tháng 11
năm 2014, ông Nguyễn Văn N bà Nguyễn Thị H2 đã chuyển nhượng 02 thửa đất
này cho ông Phan Công S2 với giá 2.000.000.000 đồng, có viết giấy chuyển
nhượng quyền sử dụng đất viết tay. Đến ngày 20 tháng 10 năm 2015, ông Phan
Công S2 chuyển nhượng quyền sử dụng đất lại 02 thửa đất nêu trên cho ông Bùi
Cao T1, với trị giá 2.500.000.000 đồng, vì vậy ông Nguyễn Văn N và bà
Nguyễn Thị H2 không có quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất này. Ông không
nhất trí trả lại đất và đề nghị giải quyết hậu quả pháp lý nếu bà Vũ Thị L, bà Vũ
Thị H, ông Vũ Đức Đ, bà Vũ Thị L, ông Vũ Hải Q, bà Vũ Thanh H1 muốn lấy
lại 02 thửa đất, diện tích đất 972m
2
(Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ đo
đạc) thì phải trả trị giá quyền sử dụng đất, theo kết quả định giá tài sản của Hội
đồng định giá tài sản thị xã SP, trị giá quyền sử dụng đất là 20.000.000 đồng/m
2
.
Ngoài ra bị đơn nhất trí yêu cầu của nguyên đơn về việc: Tuyên bố hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15 tháng 11 năm 2014, giữa bên
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ông Bùi Cao T1 với bên nhận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ông Phan Công S2, đối với diện tích đất là 280m
2
và diện tích
đất là 660m
2
-Địa chỉ tổ 04, phường PSP, thị xã SP, tỉnh Lào Cai và hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20 tháng 10 năm 2015, giữa bên chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ông Phan Công S2 với bên nhận chuyển nhượng

5
quyền sử dụng đất ông Bùi Cao T1, đối với diện tích đất là 280m
2
và diện tích
đất là 660m
2
-Địa chỉ tổ 04, phường PSP, thị xã SP, tỉnh Lào Cai vô hiệu.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Bùi Cao T1 trình bày:
Năm 2014, ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị H2 ủy quyền cho ông
Bùi Cao T1 để chuyển nhượng quyền sử dụng đất 02 thửa đất hiện đang tranh
chấp, gồm thửa đất diện tích là 280m
2
, thửa đất diện tích là 660m
2
-Địa chỉ tổ
11b, thị trấn SP, huyện SP, tỉnh Lào Cai cho Phan Công S2 với giá là
2.000.000.000 đồng, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ bằng giấy viết
tay có người làm chứng, không có xác nhận của chính quyền địa pH1, hai bên đã
thanh toán tiền và giao nhận đất. Sau khi giao đất thì ông Phan Công S2 nhờ ông
Nguyễn Văn N trông nom quản lý giúp. Đến ngày 20 tháng 10 năm 2015, anh
Phan Công S2 chuyển nhượng lại quyền sử dụng đất 02 thửa đất nêu trên cho
ông Bùi Cao T1, với trị giá 2.500.000.000 đồng. Ông không đồng ý yêu cầu
khởi kiện các nguyên đơn, về việc tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất đối với 02 thửa đất, diện tích là 280m
2
và thửa đất diện tích là 660m
2
-
Địa chỉ tổ 11b, thị trấn SP, huyện SP, tỉnh Lào Cai vô hiệu.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phan Công S2 trình bày:
Trong quá trình giải quyết vụ án ông Phan Công S2 đã được Tòa án triệu
tập hợp lệ nhiều lần, nhưng đều không có mặt tại Tòa án, có gửi bản tự khai
trình bày, giữa ông Phan Công S2 và ông Bùi Cao T1, không có việc ký kết hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đối với 02 thửa đất như trong hợp đồng
chuyển nhượng ngày 15 tháng 11 năm 2014 và giấy hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 20 tháng 10 năm 2015, hai hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất này là không có thực. Ông không có quyền lợi L quan gì đến
vụ án, đề nghị không tham gia tố tụng.
Bản án sơ thẩm số 20/2024/DS-ST ngày 05/8/2024 của TAND thị xã SP đã
tuyên: Căn cứ Điều 106, Điều 136 của Luật đất đai 2003; Điều 122, Điều 123,
Điều 124, khoản 2 Điều 129, Điều 131, Điều 357, Điều 468, Điều 649, Điều
650, Điều 651, Điều 658, Điều 660, Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015;
khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147,
khoản 1 Điều 157, Điều 217, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị L, bà Vũ Thị H,
ông Vũ Đức Đ, bà Vũ Thị L, ông Vũ Hải Q, bà Vũ Thanh H1 như sau:
- Tuyên bố biên bản thỏa thuận thi hành án, giữa cụ Trần Thị H4, ông Vũ
Hải Q, ông Vũ Đức Đ với bà Nguyễn Thị H2, về việc thỏa thuận cụ Trần Thị H4
thi hành án trả diện tích là 280m
2
(theo kết quả đo đạc xem xét thẩm định tại chỗ
diện tích đất là 266,6m
2
)-Địa chỉ tổ 04, phường PSP, thị xã SP, tỉnh Lào Cai cho
bà Nguyễn Thị H2 do Cơ quan thi hành án huyện SP lập ngày 18 tháng 11 năm
2008 và ngày 21 tháng 11 năm 2008 vô hiệu. Buộc ông Nguyễn Văn N, bà
Nguyễn Thị H2 và ông Bùi Cao T1 trả lại quyền sử dụng đất cho bà Vũ Thị L,
6
bà Vũ Thị H, bà Vũ Thị L và bà Vũ Thanh H1 diện tích đất là 266,6m
2
, có chiều
phía trước giáp mặt đường Nguyễn Chí Thanh kích thước là 7,77m, chiều mặt
phía sau kích thước là 7,90m, chiều sâu bên phải kích thước là 33,62m, chiều
sâu bên trái kích thước là 34,3m, nằm trong thửa đất số 70, tờ bản đồ số 70, loại
đất nông nghiệp-Địa chỉ tổ 04, phường PSP, thị xã SP, tỉnh Lào Cai mang tên bà
Vũ Thị L nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15 tháng 11
năm 2014, giữa ông Bùi Cao T1 với ông Phan Công S2, đối với diện tích đất
thửa thứ nhất kích thước mặt đường 8m x 35m = 280m
2
, thửa đất thứ hai diện
tích kích thức là 16,5m x 40m = 660m
2
-Địa chỉ tổ 04, phường PSP, thị xã SP,
tỉnh Lào Cai và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20 tháng 10
năm 2015, giữa ông Phan Công S2 với ông Bùi Cao T1, đối với diện tích đất
thửa thứ nhất kích thước mặt đường 8m x 35m = 280m
2
, thửa đất thứ hai diện
tích kích thức là 16,5m x 40m = 660m
2
-Địa chỉ tổ 04, phường PSP, thị xã SP,
tỉnh Lào Cai là vô hiệu.
- Xác định quyền tài sản là quyền sử dụng đất của cụ Trần Thị H4 là
555,42m
2
để thực hiện nghĩa vụ thi hành án và xác định về quyền tài sản là
quyền sử dụng đất của bà Vũ Thị L, bà Vũ Thị H, ông Vũ Đức Đ, bà Vũ Thị L,
ông Vũ Hải Q và bà Vũ Thanh H1, phần mỗi người diện tích đất là 69,42m
2
nằm
trong diện tích đất 705,4m
2
và diện tích đất 266,6m
2
-Địa chỉ tổ 04, phường PSP,
thị xã SP, tỉnh Lào Cai. Xác định phần quyền tài sản là quyền sử dụng đất của
ông Vũ Hải Q và ông Vũ Đức Đ để thực hiện nghĩa vụ thi hành án cho cụ Trần
Thị H4.
2. Không chấp nhận yêu cầu của bà Vũ Thị L, bà Vũ Thị H, ông Vũ Đức Đ,
bà Vũ Thị L, ông Vũ Hải Q và bà Vũ Thanh H1 về việc, tuyên bố biên bản thỏa
thuận thi hành án, giữa cụ Trần Thị H4, ông Vũ Hải Q, ông Vũ Đức Đ với bà
Nguyễn Thị H2, về việc thỏa thuận cụ Trần Thị H4 thi hành án trả diện tích là
800m
2
(theo kết quả đo đạc xem xét thẩm định tại chỗ diện tích đất là 705,4m
2
)-
Địa chỉ tổ 04, phường PSP, thị xã SP, tỉnh Lào Cai cho bà Nguyễn Thị H2 do
Cơ quan thi hành án huyện SP lập ngày 18 tháng 11 năm 2008 và ngày 21 tháng
11 năm 2008 vô hiệu.
3. Không chấp nhận yêu cầu của bà Vũ Thị L, bà Vũ Thị H, ông Vũ Đức Đ,
bà Vũ Thị L, ông Vũ Hải Q và bà Vũ Thanh H1 về việc, buộc ông Nguyễn Văn
N, bà Nguyễn Thị H2 và ông Bùi Cao T1 phải tháo dỡ tài sản trả quyền sử dụng
diện tích đất là 705,4m
2
, có chiều phía trước giáp mặt đường Nguyễn Chí Thanh
kích thước là 16,96m, chiều mặt phía sau kích thước là 16,47m, chiều sâu bên
phải kích thước là 47,73m, chiều sâu bên trái kích thước là 39,26m-Địa chỉ tổ
04, phường PSP, thị xã SP, tỉnh Lào Cai nằm trong thửa đất số 121, tờ bản đồ số
70, là loại đất nông nghiệp mang tên bà Vũ Thị L chưa được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất,
Ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị H2 tiếp tục quản lý sử dụng tài sản
gắn liền trên diện tích đất 705,4m
2
, trị giá là 657.242.720 đồng (Sáu trăm năm
mươi bẩy triệu hai trăm bốn mươi hai nghìn bẩy trăm hai mươi đồng). Ông
7
Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị H2 có trách nhiệm thanh toán quyền sử dụng
đất diện tích 11,12m
2
, với trị giá 20.000.000 đồng/m
2
, thành số tiền là
222.400.000 đồng (Hai trăm hai mươi hai triệu bốn trăm nghìn đồng) cho các
bà Vũ Thị L, bà Vũ Thị H, bà Vũ Thị L và bà Vũ Thanh H1, phần của mỗi
người được hưởng số tiền là 55.600.000 đồng (Năm mươi năm triệu sáu trăm
nghìn đồng).
4. Không chấp nhận yêu cầu của ông Vũ Đức Đ và ông Vũ Hải Q, về việc
buộc ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị H2 và ông Bùi Cao T1 phải trả lại
quyền sử dụng đất đối với diện tích đất là 266,6m
2
-Địa chỉ tổ 04, phường PSP,
thị xã SP, tỉnh Lào Cai cho ông Vũ Đức Đ và ông Vũ Hải Q.
5. Không chấp nhận yêu cầu của bà Vũ Thị L, bà Vũ Thị H, bà Vũ Thị L,
bà Vũ Thanh H1, ông Vũ Đức Đ và ông Vũ Hải Q về việc, buộc bà Nguyễn Thị
H2, ông Nguyễn Văn N, ông Bùi Cao T1 tháo dỡ tài sản gắn liền trên diện tích
đất 266,6m
2
-Địa chỉ tổ 04, phường PSP, thị xã SP, tỉnh Lào Cai.
Ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị H2, ông Bùi Cao T1 giao lại tài sản
nằm trên diện tích đất 266,6m
2
-Địa chỉ tổ 04, phường PSP, thị xã SP, tỉnh Lào
Cai cho bà Vũ Thị L, bà Vũ Thị H, bà Vũ Thị L và bà Vũ Thanh H1, trị giá là
31.335.693 đồng (Ba mươi một triệu ba trăm ba mươi năm nghìn sáu trăm chín
mươi ba đồng). Các bà Vũ Thị L, bà Vũ Thị H, bà Vũ Thị L và bà Vũ Thanh H1
có trách nhiệm thanh toán trị giá tài sản nằm trên diện tích đất 266,6m
2
, số tiền
31.335.693 đồng (Ba mươi một triệu ba trăm ba mươi năm nghìn sáu trăm chín
mươi ba đồng), phần của mỗi người phải trả số tiền là 7.833.923 đồng (Bẩy triệu
tám trăm ba mươi ba nghìn chín trăm hai mươi ba đồng) cho ông Nguyễn Văn
N và bà Nguyễn Thị H2.
Ngoài ra bản án cũng đình chỉ yêu cầu nguyên đơn đã rút, tuyên nghĩa vụ
chịu chi phí tố tụng, án phí và tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo quy
định.
Ngày 16/8/2024, bà Vũ Thị L, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền
của các nguyên đơn bà Vũ Thị H, ông Vũ Đức Đ, ông Vũ Hải Q, bà Vũ Thị L,
bà Vũ Thanh H1 kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng
sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tuyên
bố văn bản thỏa thuận thi hành án ngày 18/11/2008 và 21/11/2008 vô hiệu, buộc
bị đơn phải tháo dỡ tài sản, trả lại các diện tích đất cho nguyên đơn.
Ngày 23/8/2024, Chi cục thi hành án dân sự thị xã SP kháng cáo đề nghị
Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng sửa bản án sơ thẩm, tuyên bố văn bản
thỏa thuận thi hành án ngày 18/11/2008 và 21/11/2008 có hiệu lực.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Nguyên đơn bà Vũ Thị L, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của
các nguyên đơn bà Vũ Thị H, ông Vũ Đức Đ, ông Vũ Hải Q, bà Vũ Thị L, bà
Vũ Thanh H1 giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà Vũ Thị L đề nghị Tòa án chấp
nhận kháng cáo của bà Vũ Thị L, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn về việc tuyên bố văn bản thỏa thuận thi hành án ngày
8
18/11/2008 và 21/11/2008 vô hiệu, buộc bị đơn phải tháo dỡ tài sản, trả lại các
diện tích đất cho nguyên đơn.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ
nguyên ý kiến như quá trình xét xử sơ thẩm.
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Chi cục thi hành án dân sự thị xã SP giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị
Tòa án sửa bản án sơ thẩm, tuyên bố văn bản thỏa thuận thi hành án ngày
18/11/2008 và 21/11/2008 có hiệu lực.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai phát biểu ý kiến:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước
thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã thực hiện
đúng trình tự, thủ tục tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đều chấp
hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều
148, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng, án phí lệ phí Tòa án, không chấp nhận kháng cáo của
các nguyên đơn bà Vũ Thị L, bà Vũ Thị H, bà Vũ Thị L, bà Vũ Thanh H1, ông
Vũ Đức Đ, ông Vũ Hải Q và kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan
Chi cục thi hành án dân sự thị xã SP, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 20/2024/DS-
ST ngày 05/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã SP.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hình thức đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của người kháng cáo có
đầy đủ nội dung theo quy định pháp luật, nộp trong thời hạn luật định là hợp lệ,
là căn cứ để xem xét vụ án theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bà Vũ Thị L, bà Vũ Thị H, bà Vũ Thị L, bà Vũ
Thanh H1, ông Vũ Đức Đ, ông Vũ Hải Q
[2.1] Về khối tài sản cụ Vũ Văn Đ1 và cụ Trần Thị H4 đã tạo dựng
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã xác định, cụ Vũ Văn Đ1
và cụ Trần Thị H4 có 01 thửa đất, diện tích 1.300m
2
, trong đó gồm đất ở và đất
trồng Dược, địa chỉ thị trấn SP, huyện SP, tỉnh H2g L Sơn (Nay là tổ 4, phường
PSP thị xã SP, tỉnh Lào Cai) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00116
do Ủy ban nhân dân huyện SP cấp ngày 15 tháng 6 năm 1990 mang tên cụ ông
Vũ Văn Đ1. Đến năm 2002, Ủy ban nhân dân huyện SP cấp lại giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất diện tích đất ở là 120m
2
, số vào sổ cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất 00035 QSDĐ/23/22/1/01 do Ủy ban nhân dân thị xã SP cấp
ngày 22 tháng 01 năm 2002 mang tên cụ Trần Thị H4, Nhà nước không cấp đất
trồng Dược là tài sản chung của cụ Vũ Văn Đ1 và cụ Trần Thị H4. Diện tích đất
không được cấp GCNQSDĐ không có tranh chấp với ai, thuộc quyền sử dụng
của cụ Đ1, cụ H4.

9
Năm 1997 cụ Vũ Văn Đ1 chết, không để lại di chúc và chưa chia di sản.
Quá trình xem xét, thẩm định tại chỗ, Tòa án cấp sơ thẩm xác định các diện tích
đất trên thực tế của cụ Đ1 và cụ H4 là 266,6 m
2
và 705,4 m
2
. Vì vậy, có căn cứ
xác định khối tài sản cụ Đ1 và cụ H4 đã tạo lập được là 266,6 m
2
+ 705,4 m
2
=
972 m
2
, mỗi cụ được hưởng diện tích đất là 486 m
2
. Do cụ Đ1 chết không có di
chúc, phần tài sản của cụ Đ1 để lại được chia đều cho 06 người con bà Vũ Thị
L, bà Vũ Thị H, bà Vũ Thị L, bà Vũ Thanh H1, ông Vũ Hải Q, ông Vũ Đức Đ
và cụ H4, mỗi người được hưởng 69,42 m
2
.
Năm 2008, cụ Trần Thị H4, ông Vũ Đức Đ, ông Vũ Hải Q cùng thỏa thuận
thi hành án bản án cụ Trần Thị H4 phải chấp hành, trả quyền sử dụng diện tích
đất 280m
2
và diện tích đất là 800m
2
(Quá trình xem xét, thẩm định tại chỗ, Tòa
án cấp sơ thẩm xác định diện tích đất trên thực tế là 266,6 m
2
và 705,4 m
2
) cho
bà Nguyễn Thị H2. Biên bản thỏa thuận thi hành án do Chi cục thi hành án dân
sự thị xã SP lập. Do cụ H4, ông Vũ Hải Q và ông Vũ Đức Đ sử dụng phần di sản
của mình để thực hiện nghĩa vụ thi hành án cho cụ H4, xác định khối tài sản để
thực hiện thi hành án là 694,28 m
2
.
[2.2] Xét văn bản thỏa thuận thi hành án ngày 18 tháng 11 năm 2008 và văn
bản ngày 21 tháng 11 năm 2008, giữa cụ Trần Thị H4, ông Vũ Đức Đ, ông Vũ
Hải Q với bà Nguyễn Thị H2 đối với diện tích đất 280m
2
và 800m
2
-(Quá trình
xem xét, thẩm định tại chỗ, Tòa án cấp sơ thẩm xác định diện tích đất trên thực
tế là 266,6 m
2
và 705,4 m
2
) do cơ quan thi hành án dân sự huyện SP (nay là thị
xã SP) lập.
Cụ Trần Thị H4 là người phải thi hành án Bản án số: 26/2007/PT-DS ngày
19 tháng 10 năm 2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai, theo đó cụ H4 phải trả
cho bà Nguyễn Thị H2 số tiền 423.000.000 đồng. Cụ Trần Thị H4 cùng con là
ông Vũ Đức Đ, ông Vũ Hải Q đã thỏa thuận thi hành án, thực hiện nghĩa vụ trả
tiền bằng quyền sử dụng diện tích đất 280m
2
và 800m
2
(theo kết quả xem xét,
thẩm định tại chỗ thực tế là 266,6m
2
và 705,4m
2
). Mặc dù các bên đều có năng
lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, tự nguyện thỏa thuận, tuy nhiên diện
tích đất cụ H4, ông Đ, ông Q đã thỏa thuận thi hành án còn thuộc quyền sử dụng
của những người con khác của cụ H4, cụ Đ1 là bà Vũ Thanh H1, bà Vũ Thị L,
bà Vũ Thị H, bà Vũ Thị L, do đó việc cụ H4, ông Đ, ông Q tự ý định đoạt toàn
bộ các diện tích đất này trong khi chưa được sự đồng ý của những người con
còn lại là chưa đúng.
Khoản 1 Điều 6 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm
2022 quy định: “Đương sự có quyền thỏa thuận về việc thi hành án, nếu thoả
thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội.
Kết quả thi hành án theo thỏa thuận được công nhận”. Trường hợp này, thỏa
thuận thi hành án giữa cụ L, ông Đ, ông Q và bà H2 có một phần vi phạm pháp
luật vì thỏa thuận phần tài sản thuộc quyền sử dụng của người khác, do đó phần
thỏa thuận có L quan đến diện tích đất thuộc quyền sử dụng của các bà Vũ Thị
L, bà Vũ Thị H, bà Vũ Thị L, bà Vũ Thanh H1 (277,72 m
2
) là vô hiệu, phần thỏa

10
thuận có L quan đến diện tích đất thuộc quyền sử dụng của cụ H4, ông Q, ông Đ
(694,28 m
2
) vẫn có hiệu lực pháp luật.
Vì vậy, kháng cáo của bà Vũ Thị L về việc tuyên bố toàn bộ văn bản thỏa
thuận thi hành án ngày 18/11/2008 và 21/11/2008 vô hiệu và kháng cáo của Chi
cục thi hành án dân sự về việc tuyên bố văn bản thỏa thuận thi hành án ngày
18/11/2008 và 21/11/2008 đối với thỏa thuận trả diện tích 280 m
2
(theo kết quả
thẩm định tại chỗ là 266,6 m
2
) có hiệu lực là không có căn cứ chấp nhận.
[2.3] Xét yêu cầu buộc bị đơn phải tháo dỡ tài sản, trả lại các diện tích đất
cho nguyên đơn.
Như phân tích trên, cụ Trần Thị H4, ông Vũ Đức Đ, ông Vũ Hải Q chỉ
được thực hiện nghĩa vụ thi hành án bằng quyền sử dụng 694,28 m
2
đất nằm
trong diện tích đất 705,4m
2
. Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định ông Nguyễn Văn N
và bà Nguyễn Thị H2 được quyền sử dụng diện tích đất là 705,4m
2
, ông N, bà
H2 có trách nhiệm trả phần quyền sử dụng diện tích đất 11,12m
2
nằm trong diện
tích đất 705,4m
2
tương đương trị giá 20.000.000 đồng/m
2
, thành tiền là
222.400.000 đồng cho bà Vũ Thị L, bà Vũ Thị H, bà Vũ Thị L, bà Vũ Thanh
H1, phần của mỗi người được nhận số tiền là 55.600.000 đồng và các bà có
trách nhiệm H2 trả tài sản tôn tạo nằm trên diện tích đất 266,6m
2
, trị giá là
31.335.693 đồng, phần của mỗi bà có trách nhiệm H2 trả là 7.833.923 đồng cho
ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị H2 là phù hợp. Việc tháo dỡ tài sản trên đất
là không cần thiết, ảnh hưởng đến giá trị và việc sử dụng tài sản. Do đó không
có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
[3] Xét kháng cáo của Chi cục thi hành án dân sự thị xã SP, Lào Cai
Chi cục thi hành án thị xã SP cho rằng, việc Tòa án cấp sơ thẩm coi biên
bản thỏa thuận thi hành án ngày 18/11/2008 và biên bản thỏa thuận thi hành án
ngày 21/11/2008 giữa cụ Trần Thị H4, ông Vũ Hải Q, ông Vũ Đức Đ và bà
Nguyễn Thị H2 tương tự giao dịch dân sự thông thường để tuyên vô hiệu là
không đúng quy định tại Điều 116 Bộ luật dân sự và hướng dẫn tại mục IV công
văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao.
Hội đồng xét xử nhận định:
Như phân tích tại mục [2.2] của bản án này, thỏa thuận thi hành án giữa
cụ L, ông Đ, ông Q và bà H2 có một phần vi phạm pháp luật vì thỏa thuận phần
tài sản thuộc quyền sử dụng của người khác, do đó căn cứ quy định tại khoản 1
Điều 6 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2022, phần thỏa
thuận vi phạm pháp luật không có hiệu lực.
Bên cạnh đó, tại mục IV công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày
07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn
trường hợp giải quyết tranh chấp L quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án
quy định tại khoản 12 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, không L quan
đến yêu cầu của đương sự trong vụ án này, do đó Chi cục thi hành án viện dẫn
công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao
là không có căn cứ.

11
Từ những phân tích nêu trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã nghiên cứu,
đánh giá toàn diện, khách quan các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, giải quyết vụ
án đúng quy định pháp luật. Kháng cáo của bà Vũ Thị L, bà Vũ Thị H, bà Vũ
Thị L, bà Vũ Thanh H1, ông Vũ Đức Đ, ông Vũ Hải Q và Chi cục thi hành án
dân sự thị xã SP là không có căn cứ chấp nhận.
[4] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các nguyên đơn
bà Vũ Thị L, bà Vũ Thị H, bà Vũ Thị L, bà Vũ Thanh H1, ông Vũ Đức Đ, ông
Vũ Hải Q phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật. Kháng cáo
của Chi cục thi hành án dân sự thị xã SP không được chấp nhận tuy nhiên kháng
cáo của Chi cục thi hành án dân sự thị xã SP thuộc trường hợp không phải nộp
án phí theo điểm b khoản 1 Điều 11 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng, án phí lệ phí Tòa án, do
đó Chi cục thi hành án dân sự thị xã SP không phải chịu án phí dân sự phúc
thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án:
1. Không chấp nhận kháng cáo của các nguyên đơn bà Vũ Thị L, bà Vũ
Thị H, bà Vũ Thị L, bà Vũ Thanh H1, ông Vũ Đức Đ, ông Vũ Hải Q, người có
quyền lợi, nghĩa vụ L quan Chi cục thi hành án dân sự thị xã SP. Giữ nguyên
bản án dân sự sơ thẩm số 20/2024/DS-ST ngày 05/8/2024 của Tòa án nhân dân
thị xã SP, tỉnh Lào Cai.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo bà Vũ Thị L; bà Vũ Thị
H; bà Vũ Thị L; bà Vũ Thanh H1; ông Vũ Đức Đ; ông Vũ Hải Q mỗi người phải
chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm. Được khấu
trừ số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số
0001633 ngày 22/8/2024 tại chi cục Thi hành án dân sự thị xã SP, tỉnh Lào Cai.
Xác nhận các nguyên đơn đã nộp đủ tiền án phí phúc thẩm.
3. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,
7, 7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
12
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lào Cai;
- TAND thị xã SP;
- VKSND thị xã SP;
- Chi cục THADS thị xã SP;
- Các đương sự;
- Lưu VT, HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Văn Nghĩa
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 20/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 20/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 06/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 06/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 04/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 04/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 04/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 03/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 03/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm