Bản án số 13/2025/DS-PT ngày 17/03/2025 của TAND tỉnh Lào Cai về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 13/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 13/2025/DS-PT ngày 17/03/2025 của TAND tỉnh Lào Cai về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lào Cai
Số hiệu: 13/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/03/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÀO CAI
Bản án số: 13/2025/DS-PT
Ngày 17-3-2025
V/v “Tuyên bố văn bản tha thun thi
hành án, hợp đồng chuyển nhượng quyn
s dụng đất hiệu, buc tháo dỡ tài sản
xác định quyền tài sản thi hành án”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Nghĩa
Các thẩm phán: Ông Lương Văn Đài và ông Chu Văn Thanh
- Thư ký phiên tòa: H2g Thị Dung - Thư Tòa án nhân dân tỉnh Lào
Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông
Trần Xuân Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 17/3/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử phúc thẩm
công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ s33/2025/TLPT- DS ngày 07 tháng
10 năm 2024 về việc “Tuyên bố văn bản thỏa thuận thi hành án, hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, buộc tháo dỡ tài sản xác định quyền
tài sản thi hành án” do Bản án dân sự thẩm số 20/2024/DS-ST ngày
05/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã SP, tỉnh Lào Cai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1981/2024/QĐ-PT ngày
25/11/2024, quyết định hoãn phiên tòa số 3017/2024/QĐ-PT ngày 17/12/2024,
quyết định hoãn phiên tòa s 07/2015/QĐ-PT ngày 17/01/2025, quyết định hoãn
phiên tòa s 23/2015/QĐ-PT ngày 18/02/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
- Bà Vũ Thị L, sinh năm 1968. (Có mt)
- Vũ Thị H, sinh năm 1963. (Có mt)
- Ông Vũ Đức Đ, sinh năm 1971. (Vng mặt)
- Ông Vũ Hải Q, sinh năm 1978. (Có mặt)
Cùng địa chỉ: Tổ 04, phường PSP, thị SP, tỉnh Lào Cai.
- Thị L, sinh năm 1973. Địa chỉ: Xóm MC, xã MH, huyện QH, tỉnh
Nghệ An. (Vắng mt)
- Thanh H1, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn HG, xã VH, thành phố
LC, tỉnh Lào Cai. (Vắng mt)
2
Người đại diện theo ủy quyền của Thị H, ông Đức Đ, Thị
L, ông Hải Q, Thanh H1: Thị L, sinh năm 1968. Địa chỉ: Tổ
04, phường PSP, thị SP, tỉnh Lào Cai. (Có mặt)
Người bảo v quyền, lợi ích hợp pháp của bà Vũ Th L: Ông Cao Trần T.
Địa ch: Số 094 đường HHT, tổ 27, phường CL, thành phố LC, tỉnh Lào Cai.
(Có mt)
Bị đơn:
- Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1952. (Vắng mặt)
- Nguyễn ThH2, sinh năm 1955. (Vắng mt)
Cùng địa chỉ: Tổ 14, phường BM, thành phố LC, tỉnh Lào Cai.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị
H2: Ông Bùi Cao T1, sinh năm 1970. Địa chỉ: Tổ 02, phường SP, thị xã SP, tỉnh
Lào Cai. (Vắng mặt có đơn xin xét x vắng mt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan:
- Ông Phan Công S2, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn Văn Giáp, Văn
Bình, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)
- Ông: Bùi Cao T1, sinh năm 1970. Địa chỉ: Tổ 02 phường SP, thị SP,
tỉnh Lào Cai (Vắng mặt có đơn xin xét x vắng mt)
- Chi cục thi hành án dân sự thị SP. Địa chỉ: Số 10, đường Hồng
Phong, thị xã SP, tỉnh Lào Cai
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Đăng T3 - Phó chi cục trưởng
chi cục thi hành án dân sự thị xã SP, tỉnh Lào Cai. (Có mặt)
Do đơn kháng cáo của Thị L, đồng thời là người đại diện theo ủy
quyền của các nguyên đơn bà Vũ Th H, bà Vũ Đức Đ, bà Vũ Hải Q, bà Vũ Th
L, bà Vũ Thanh H1 đơn kháng cáo của Chi cục thi hành án dân sự thị SP,
tỉnh Lào Cai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Vũ Thị L trình bày:
Cụ Văn Đ1 cụ Trần Thị H4 sinh được 06 người con Thị L,
sinh năm 1963, bà Vũ Thị H, sinh năm 1968, ông Vũ Đức Đ, sinh năm 1971, bà
Vũ Thị L, sinh năm 1973, ông Vũ Hải Q, sinh năm 1978, Vũ Thanh H1, sinh
năm 1982. Cụ Văn Đ1 cụ Trần Thị H4 tạo dựng khối tài sản chung diện
tích đất 1.300m
2
, gồm đất đất trồng Dược-Địa chỉ thị trấn SP, huyện SP,
tỉnh H2g L n (Nay tổ 04, phường PSP thị xã SP, tỉnh Lào Cai) theo giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số 00116 do Ủy ban nhân dân huyện SP cấp ngày
15 tháng 6 năm 1990 mang tên cụ Văn Đ1. Đến năm 1997, cụ Văn Đ1
chết không để lại di chúc chưa chia di sản thừa kế. Đến năm 2002 Ủy ban
nhân dân huyện SP cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích đất ở là
120m
2
, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 00035
QSDĐ/23/22/1/01 do Ủy ban nhân dân thị SP cấp ngày 22 tháng 01 năm
3
2002 mang tên cụ Trần Thị H4, Nhà nước không cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đối với đất trồng Dược. Sau này, bà Vũ Thị L có kê khai phần diện tích
đất trồng Dược của cụ Vũ Văn Đ1 cụ Trần Thị H4 chưa được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Vũ Thị L.
Năm 2004, cụ Trần Thị H4 chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất
280m
2
diện tích đất 800m
2
-Địa chỉ thị trấn SP, huyện SP, tỉnh H2g L Sơn
(Nay t04, phường PSP thị SP, tỉnh Lào Cai) cho Nguyễn Thị H2. Tại
Bản án số: 03/2007/ST-DS ngày 25 tháng 6 năm 2007 của Tòa án nhân dân
huyện SP, tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký kết ngày 15
tháng 4 năm 2004 ngày 20 tháng 4 năm 2004, giữa cụ Trần Thị H4 với
Nguyễn Thị H2 vô hiệu, buộc cụ Trần Thị H4 phải trả cho bà Nguyễn Thị H2 số
tiền 423.000.000 đồng. Tại Bản án số 26/2007/DS-PT ngày 19 tháng 10 năm
2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai, tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, giữa cụ Trần Thị H4 Nguyễn Thị H2 hiệu, buộc cụ
Trần Thị H4 phải trả cho bà Nguyễn Thị H2 số tiền 423.000.000 đồng.
Ngày 18 tháng 11 năm 2008 ngày 21 tháng 11 năm 2008, cụ Trần Thị
H4 tthỏa thuận thi hánh án trả cho Nguyễn Thị H2 01 thửa chiều dài
theo mặt đường Nguyễn Chí Thanh 08m, chiều sâu 35m, diện ch 280m
2
01 thửa chiều dài 20m, chiều sâu 40m, diện tích 800m
2
, đều loại đất
nông nghiệp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất-Địa chỉ tổ 04,
phường PSP, thị SP, tỉnh Lào Cai để thi hành nghĩa vụ thi hành án số tiền
423.000.000 đồng do Chi cục thi hành án dân sự thị SP lập. Cụ Trần Thị H4
thỏa thuận thi hành án trả 02 thửa đất nêu trên cho Nguyễn Thị H2, nhưng
không được sự đồng ý của một số người con dẫn đến tranh chấp. Năm 2010 cụ
Trần Thị H4 chết. Đầu năm 2015, gia đình Nguyễn Thị H2 xây dựng kè,
ờng và đổ đất vào 02 thửa đất.
Vì vậy các nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết:
- Tuyên bố biên bản thỏa thuận thi hành án, giữa cụ Trần Thị H4, ông
Đức Đ, ông Vũ Hải Q với bà Nguyễn Thị H2 về việc thỏa thuận, cụ Trần ThH4
trả diện tích đất 280 m
2
diện tích là 800 m
2
(Địa chỉ tổ 04, phường PSP, thị xã
SP, tỉnh Lào Cai) cho Nguyễn Thị H2 do quan thi hành án huyện SP lập
ngày 18 tháng 11 năm 2008 ngày 21 tháng 11 năm 2008 hiệu. Buộc ông
Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị H2 và ông Bùi Cao T1 tháo dỡ toàn bộ tài sản
trả lại diện tích là 280m2 diện tích đất 660 m
2
, Địa chỉ tổ 04, phường PSP,
thị xã SP, tỉnh Lào Cai (Theo kết quả đo đạc xem xét thẩm định tại chỗ diện tích
là 705,4 m
2
và diện tích là 266,6 m
2
).
- Xác định quyền tài sản của cụ Trần Thị H4 để thực hiện nghĩa vụ thi hành
án và xác định quyền tài sản của các đồng nguyên đơn đối với quyền sử dụng 02
thửa đất tranh chấp.
- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15 tháng 11
năm 2014, giữa bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất ông Bùi Cao T1 với bên
nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ông Phan Công S2 hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 20 tháng 10 năm 2015, giữa bên chuyển
4
nhượng quyền sử dụng đất ông Phan Công S2 với bên nhận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ông Bùi Cao T1, đối với diện tích đất 280 m
2
diện tích
đất là 660 m
2
(Địa chỉ tổ 04, phường PSP, thị xã SP, tỉnh Lào Cai) là vô hiệu.
Ngoài ra nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ kết luận định giá tài
sản của hội đồng định giá tài sản tỉnh Lào Cai kết luận trị giá quyền sử dụng đất
là 50.000 đồng/m
2
.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn N Nguyễn Thị
H2, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Bùi Cao T1 trình bày:
Năm 2004, ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị H2 nhận chuyển nhượng
của cụ Trần Thị H4 02 thửa đất, tổng diện tích khoảng 1.080m
2
, trị g
355.000.000 đồng, ông Nguyễn Văn N Nguyễn Thị H2 đã giao đủ tiền,
nhưng cụ Trần Thị H4 nói chưa trả tiền nên không giao đất dẫn đến tranh chấp
được giải quyết tại Tòa án nhân dân huyện SP. Tại Bản án phúc thẩm số:
26/2007/DSPT ngày 19 tháng 10 năm 2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai,
tuyên xử cụ Trần Thị H4 trả cho Nguyễn Thị H2 số tiền 423.000.000 đồng.
Đến ngày 18 tháng 11 năm 2008 ngày 21 tháng 11 năm 2008, cụ Trần Thị
H4, ông Vũ Đức Đ, ông Vũ Hải Q tự nguyện thỏa thuận thi hành án trả thửa đất
diện tích là 280m
2
thửa đất diện tích 660m
2
-Địa chỉ tổ 11b, thị trấn SP,
huyện SP, tỉnh Lào Cai cho Nguyễn Thị H2 do quan thi hành án dân sự
huyện SP lập. Sau khi gia đình bà Nguyễn Thị H2 nhận bàn giao đất, đã T1 hành
xây kè, tường rào, đổ đất thì cụ Trần Thị H4 các con ngăn cản dẫn đến tranh
chấp.
Năm 2016, các con của cụ Trần Thị H4 khởi kiện buộc ông Nguyễn Văn N
Nguyễn Thị H2 tháo dỡ tài sản trên đất trả lại 02 thửa đất nhưng ông
Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị H2 không nhất trí, với do ngày 15 tháng 11
năm 2014, ông Nguyễn Văn N bà Nguyễn Thị H2 đã chuyển nhượng 02 thửa đất
này cho ông Phan Công S2 với giá 2.000.000.000 đồng, viết giấy chuyển
nhượng quyền sdụng đất viết tay. Đến ngày 20 tháng 10 năm 2015, ông Phan
Công S2 chuyển nhượng quyền sử dụng đất lại 02 thửa đất nêu trên cho ông Bùi
Cao T1, với trị giá 2.500.000.000 đồng, vì vậy ông Nguyễn Văn N và bà
Nguyễn Thị H2 không có quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất này. Ông không
nhất trí trả lại đất và đề nghị giải quyết hậu quả pháp nếu bà Vũ Thị L, bà
Thị H, ông Đức Đ, Thị L, ông Hải Q, Thanh H1 muốn lấy
lại 02 thửa đất, diện tích đất 972m
2
(Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ đo
đạc) thì phải trả trị giá quyền sdụng đất, theo kết quả định giá tài sản của Hội
đồng định giá tài sản thị xã SP, trị giá quyền sử dụng đất là 20.000.000 đồng/m
2
.
Ngoài ra bị đơn nhất trí yêu cầu của nguyên đơn về việc: Tuyên b hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15 tháng 11 năm 2014, giữa bên
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ông Bùi Cao T1 với bên nhận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ông Phan Công S2, đối với diện tích đất là 280m
2
và diện tích
đất là 660m
2
-Địa chỉ tổ 04, phường PSP, thị SP, tỉnh Lào Cai hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20 tháng 10 năm 2015, giữa bên chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ông Phan Công S2 với bên nhận chuyển nhượng
5
quyền sử dụng đất ông Bùi Cao T1, đối với diện tích đất 280m
2
và diện tích
đất là 660m
2
-Địa chỉ tổ 04, phường PSP, thị xã SP, tỉnh Lào Cai vô hiệu.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Bùi Cao T1 trình bày:
Năm 2014, ông Nguyễn Văn N Nguyễn Thị H2 ủy quyền cho ông
Bùi Cao T1 để chuyển nhượng quyền sử dụng đất 02 thửa đất hiện đang tranh
chấp, gồm thửa đất diện tích 280m
2
, thửa đất diện tích 660m
2
-Địa chỉ tổ
11b, thị trấn SP, huyện SP, tỉnh Lào Cai cho Phan Công S2 với giá
2.000.000.000 đồng, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ bằng giấy viết
tay có người làm chứng, không có xác nhận của chính quyền địa pH1, hai bên đã
thanh toán tiền và giao nhận đất. Sau khi giao đất thì ông Phan Công S2 nhờ ông
Nguyễn Văn N trông nom quản giúp. Đến ngày 20 tháng 10 năm 2015, anh
Phan Công S2 chuyển nhượng lại quyền sử dụng đất 02 thửa đất nêu trên cho
ông Bùi Cao T1, với trị giá 2.500.000.000 đồng. Ông không đồng ý yêu cầu
khởi kiện các nguyên đơn, về việc tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất đối với 02 thửa đất, diện tích 280m
2
thửa đất diện tích 660m
2
-
Địa chỉ tổ 11b, thị trấn SP, huyện SP, tỉnh Lào Cai vô hiệu.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phan Công S2 trình bày:
Trong quá trình giải quyết vụ án ông Phan Công S2 đã được Tòa án triệu
tập hợp lệ nhiều lần, nhưng đều không mặt tại Tòa án, gửi bản tkhai
trình bày, giữa ông Phan Công S2 và ông Bùi Cao T1, không có việc ký kết hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đối với 02 thửa đất như trong hợp đồng
chuyển nhượng ngày 15 tháng 11 năm 2014 và giấy hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 20 tháng 10 m 2015, hai hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất này là không thực. Ông không có quyền lợi L quan gì đến
vụ án, đề nghị không tham gia tố tụng.
Bản án sơ thẩm số 20/2024/DS-ST ngày 05/8/2024 của TAND thị xã SP đã
tuyên: Căn cứ Điều 106, Điều 136 ca Luật đất đai 2003; Điều 122, Điu 123,
Điu 124, khoản 2 Điều 129, Điu 131, Điều 357, Điều 468, Điều 649, Điều
650, Điều 651, Điều 658, Điều 660, Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015;
khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147,
khoản 1 Điều 157, Điều 217, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Thị L, Thị H,
ông Vũ Đức Đ, bà Vũ Thị L, ông Vũ Hải Q, bà Vũ Thanh H1 như sau:
- Tuyên bố biên bản thỏa thuận thi hành án, giữa cụ Trần Thị H4, ông
Hải Q, ông Vũ Đức Đ với bà Nguyễn Thị H2, về việc thỏa thuận cụ Trần Thị H4
thi hành án trả diện tích là 280m
2
(theo kết quả đo đạc xem xét thẩm định tại chỗ
diện tích đất là 266,6m
2
)-Địa chỉ tổ 04, phường PSP, thị xã SP, tỉnh Lào Cai cho
Nguyễn Thị H2 do quan thi hành án huyện SP lập ngày 18 tháng 11 năm
2008 ngày 21 tháng 11 năm 2008 hiệu. Buộc ông Nguyễn Văn N,
Nguyễn Thị H2 ông Bùi Cao T1 trả lại quyền sử dụng đất cho Thị L,
6
bà Vũ Thị H, bà Vũ Thị L và bà Vũ Thanh H1 diện tích đất là 266,6m
2
, có chiều
phía trước giáp mặt đường Nguyễn Chí Thanh kích thước 7,77m, chiều mặt
phía sau kích thước 7,90m, chiều sâu bên phải ch thước 33,62m, chiều
sâu bên trái kích thước là 34,3m, nằm trong thửa đất số 70, tờ bản đồ số 70, loại
đất nông nghiệp-Địa chỉ tổ 04, phường PSP, thị SP, tỉnh Lào Cai mang tên bà
Vũ Thị L nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15 tháng 11
năm 2014, giữa ông Bùi Cao T1 với ông Phan Công S2, đối với diện tích đất
thửa thứ nhất kích thước mặt đường 8m x 35m = 280m
2
, thửa đất thứ hai diện
tích kích thức 16,5m x 40m = 660m
2
-Địa chỉ tổ 04, phường PSP, thị SP,
tỉnh Lào Cai Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20 tháng 10
năm 2015, giữa ông Phan Công S2 với ông Bùi Cao T1, đối với diện tích đất
thửa thứ nhất kích thước mặt đường 8m x 35m = 280m
2
, thửa đất thứ hai diện
tích kích thức 16,5m x 40m = 660m
2
-Địa chỉ tổ 04, phường PSP, thị SP,
tỉnh Lào Cai là vô hiệu.
- Xác định quyền tài sản quyền sử dụng đất của cụ Trần Thị H4
555,42m
2
để thực hiện nghĩa vụ thi hành án xác định về quyền tài sản
quyền sử dụng đất của Thị L, Thị H, ông Đức Đ, Thị L,
ông Vũ Hải Q và bà Vũ Thanh H1, phần mỗi người diện tích đất là 69,42m
2
nằm
trong diện tích đất 705,4m
2
và diện tích đất 266,6m
2
-Địa chỉ tổ 04, phường PSP,
thị xã SP, tỉnh Lào Cai. Xác định phần quyền tài sản quyền sử dụng đất của
ông Hải Q ông Đức Đ để thực hiện nghĩa vụ thi hành án cho cTrần
Thị H4.
2. Không chấp nhận yêu cầu của bà Vũ Thị L, bà Vũ Thị H, ông Vũ Đức Đ,
Thị L, ông Hải Q Thanh H1 về việc, tuyên bố biên bản thỏa
thuận thi hành án, giữa cụ Trần Thị H4, ông Hải Q, ông Đức Đ với
Nguyễn Thị H2, về việc thỏa thuận cụ Trần Thị H4 thi hành án trả diện tích
800m
2
(theo kết quả đo đạc xem xét thẩm định tại chỗ diện tích đất là 705,4m
2
)-
Địa chỉ tổ 04, phường PSP, thị xã SP, tỉnh Lào Cai cho Nguyễn Thị H2 do
Cơ quan thi hành án huyện SP lập ngày 18 tháng 11 năm 2008 và ngày 21 tháng
11 năm 2008 vô hiệu.
3. Không chấp nhận yêu cầu của bà Vũ Thị L, bà Vũ Thị H, ông Vũ Đức Đ,
Thị L, ông Hải Q Thanh H1 về việc, buộc ông Nguyễn Văn
N, bà Nguyễn Thị H2 ông Bùi Cao T1 phải tháo dỡ tài sản trả quyền sử dụng
diện tích đất là 705,4m
2
, có chiều phía trước giáp mặt đường Nguyễn Chí Thanh
kích thước 16,96m, chiều mặt phía sau kích thước 16,47m, chiều sâu bên
phải kích thước 47,73m, chiều sâu bên trái kích thước 39,26m-Địa chỉ tổ
04, phường PSP, thị xã SP, tỉnh Lào Cai nằm trong thửa đất số 121, tờ bản đồ số
70, loại đất nông nghiệp mang tên Thị L chưa được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất,
Ông Nguyễn Văn N Nguyễn Thị H2 tiếp tục quản sử dụng tài sản
gắn liền trên diện tích đất 705,4m
2
, trị giá 657.242.720 đồng (Sáu trăm năm
mươi bẩy triệu hai trăm bốn mươi hai nghìn bẩy trăm hai mươi đồng). Ông
7
Nguyễn Văn N Nguyễn Thị H2 trách nhiệm thanh toán quyền sử dụng
đất diện tích 11,12m
2
, với trị giá 20.000.000 đồng/m
2
, thành số tiền
222.400.000 đồng (Hai trăm hai mươi hai triệu bốn trăm nghìn đồng) cho các
Thị L, Thị H, Thị L bà Thanh H1, phần của mỗi
người được hưởng số tiền 55.600.000 đồng (Năm mươi năm triệu sáu trăm
nghìn đồng).
4. Không chấp nhận yêu cầu của ông Đức Đ và ông Hải Q, vviệc
buộc ông Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị H2 ông Bùi Cao T1 phải trả lại
quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 266,6m
2
-Địa chỉ tổ 04, phường PSP,
thị xã SP, tỉnh Lào Cai cho ông Vũ Đức Đ và ông Vũ Hải Q.
5. Không chấp nhận yêu cầu của Thị L, Thị H, Thị L,
Vũ Thanh H1, ông Đức Đ và ông Vũ Hải Q về việc, buộc bà Nguyễn Thị
H2, ông Nguyễn Văn N, ông Bùi Cao T1 tháo dỡ tài sản gắn liền trên diện tích
đất 266,6m
2
-Địa chỉ tổ 04, phường PSP, thị xã SP, tỉnh Lào Cai.
Ông Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị H2, ông Bùi Cao T1 giao lại tài sản
nằm trên diện tích đất 266,6m
2
-Địa chỉ tổ 04, phường PSP, thị SP, tỉnh Lào
Cai cho Thị L, Thị H, Thị L Thanh H1, trị giá
31.335.693 đồng (Ba mươi một triệu ba trăm ba mươi năm nghìn sáu trăm chín
mươi ba đồng). Các bà Vũ Thị L, bà Vũ Thị H, bà Vũ Thị L bà Vũ Thanh H1
trách nhiệm thanh toán trị giá tài sản nằm trên diện tích đất 266,6m
2
, số tiền
31.335.693 đồng (Ba mươi một triệu ba trăm ba mươi năm nghìn sáu trăm chín
mươi ba đồng), phần của mỗi người phải trả số tiền là 7.833.923 đồng (Bẩy triệu
tám trăm ba mươi ba nghìn chín trăm hai mươi ba đồng) cho ông Nguyễn Văn
N và bà Nguyễn ThH2.
Ngoài ra bản án cũng đình chỉ yêu cầu nguyên đơn đã rút, tuyên nghĩa vụ
chịu chi phí tố tụng, án phí và tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo quy
định.
Ngày 16/8/2024, bà Thị L, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền
của các nguyên đơn bà Vũ Th H, ông Vũ Đức Đ, ông Vũ Hải Q, bà Vũ Th L,
bà Vũ Thanh H1 kháng cáo đnghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xtheo hướng
sửa bản án thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tuyên
bố văn bản thỏa thuận thi hành án ngày 18/11/2008 và 21/11/2008 vô hiệu, buộc
bị đơn phải tháo dỡ tài sản, trả lại các diện tích đất cho nguyên đơn.
Ngày 23/8/2024, Chi cục thi hành án dân sthị xã SP kháng cáo đề nghị
Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng sửa bản án thẩm, tuyên bố văn bản
thỏa thuận thi hành án ngày 18/11/2008 và 21/11/2008 có hiệu lực.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Nguyên đơn bà Vũ Th L, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của
các nguyên đơn bà Vũ Th H, ông Vũ Đức Đ, ông Vũ Hải Q, bà Vũ Th L, bà
Vũ Thanh H1 giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Người bảo v quyền, lợi ích hợp pháp của bà Vũ Th L đề ngh Tòa án chấp
nhận kháng cáo của bà Vũ Th L, sửa bản án thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn về việc tuyên bố văn bản thỏa thuận thi hành án ngày
8
18/11/2008 và 21/11/2008 hiệu, buộc bị đơn phải tháo dỡ tài sản, trả lại các
diện tích đất cho nguyên đơn.
Người đại diện theo ủy quyền của b đơn có đơn xin xét x vng mặt và gi
nguyên ý kiến như quá trình xét x sơ thẩm.
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa v liên quan
Chi cc thi hành án dân s th xã SP gi nguyên nội dung kháng cáo, đề ngh
Tòa án sửa bản án thẩm, tuyên b văn bản thỏa thuận thi hành án ngày
18/11/2008 và 21/11/2008 có hiệu lực.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai phát biểu ý kiến:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ vụ án cho đến trước
thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã thực hiện
đúng trình tự, thủ tục tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đều chấp
hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn c khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều
148, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản sử dụng, án phí lệ phí Tòa án, không chấp nhận kháng cáo của
các nguyên đơn bà Vũ Th L, bà Vũ Th H, bà Vũ Th L, bà Vũ Thanh H1, ông
Vũ Đức Đ, ông Vũ Hải Q và kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa v L quan
Chi cục thi hành án dân s th xã SP, gi nguyên bản án sơ thẩm s 20/2024/DS-
ST ngày 05/8/2024 của Tòa án nhân dân th xã SP.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hình thức đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của người kháng cáo
đầy đủ nội dung theo quy định pháp luật, nộp trong thời hạn luật định hợp lệ,
là căn cứ để xem xét vụ án theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của Thị L, bà Vũ Th H, bà Vũ Th L, bà Vũ
Thanh H1, ông Vũ Đức Đ, ông Vũ Hải Q
[2.1] Về khối tài sản cụ Vũ Văn Đ1 và cụ Trần Thị H4 đã tạo dựng
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã xác định, cụ Vũ Văn Đ1
cụ Trần Thị H4 01 thửa đất, diện tích 1.300m
2
, trong đó gồm đất đất
trồng Dược, địa chỉ thị trấn SP, huyện SP, tỉnh H2g L Sơn (Nay tổ 4, phường
PSP thị SP, tỉnh Lào Cai) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00116
do Ủy ban nhân dân huyện SP cấp ngày 15 tháng 6 năm 1990 mang tên cụ ông
Vũ Văn Đ1. Đến năm 2002, Ủy ban nhân dân huyện SP cấp lại giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất diện ch đất 120m
2
, số vào sổ cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất 00035 QSDĐ/23/22/1/01 do Ủy ban nhân dân thị SP cấp
ngày 22 tháng 01 năm 2002 mang tên cụ Trần Thị H4, Nhà nước không cấp đất
trồng Dược là tài sản chung của cụ Văn Đ1 cụ Trần Thị H4. Diện tích đất
không được cấp GCNQSDĐ không tranh chấp với ai, thuộc quyền sử dụng
của cụ Đ1, cụ H4.
9
Năm 1997 cụ Văn Đ1 chết, không để lại di chúc chưa chia di sản.
Quá trình xem xét, thẩm định tại chỗ, Tòa án cấp sơ thẩm xác định các diện tích
đất trên thực tế của c Đ1 và c H4 266,6 m
2
705,4 m
2
. vậy, căn cứ
xác định khối tài sản cụ Đ1 cụ H4 đã tạo lập được 266,6 m
2
+ 705,4 m
2
=
972 m
2
, mỗi cụ được hưởng diện tích đất 486 m
2
. Do cụ Đ1 chết không di
chúc, phần tài sản của cụ Đ1 để lại được chia đều cho 06 người con Thị
L, Thị H, Thị L, Thanh H1, ông Hải Q, ông Đức Đ
và cụ H4, mỗi người được hưởng 69,42 m
2
.
Năm 2008, cụ Trần Thị H4, ông Đức Đ, ông Hải Q cùng thỏa thuận
thi hành án bản án cụ Trần Thị H4 phải chấp hành, trả quyền sử dụng diện tích
đất 280m
2
diện tích đất 800m
2
(Quá trình xem xét, thẩm định tại chỗ, Tòa
án cấp thẩm xác định diện tích đất trên thực tế 266,6 m
2
705,4 m
2
) cho
Nguyễn Thị H2. Biên bản thỏa thuận thi hành án do Chi cục thi hành án dân
sự thị xã SP lập. Do cụ H4, ông Vũ Hải Q và ông Vũ Đức Đ sử dụng phần di sản
của mình để thực hiện nghĩa vụ thi hành án cho cụ H4, xác định khối tài sản đ
thực hiện thi hành án là 694,28 m
2
.
[2.2] Xét văn bản thỏa thuận thi hành án ngày 18 tháng 11 năm 2008 và văn
bản ngày 21 tháng 11 năm 2008, giữa cụ Trần Thị H4, ông Đức Đ, ông
Hải Q với Nguyễn Thị H2 đối với diện tích đất 280m
2
800m
2
-(Quá trình
xem xét, thẩm định tại chỗ, a án cấp thẩm xác định diện tích đất trên thực
tế là 266,6 m
2
705,4 m
2
) do quan thi hành án dân sự huyện SP (nay thị
SP) lập.
Cụ Trần Thị H4 người phải thi hành án Bản án số: 26/2007/PT-DS ngày
19 tháng 10 năm 2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai, theo đó cụ H4 phải trả
cho Nguyễn Thị H2 stiền 423.000.000 đồng. CTrần Thị H4 cùng con
ông Đức Đ, ông Hải Q đã thỏa thuận thi hành án, thực hiện nghĩa vụ trả
tiền bằng quyền sử dụng diện tích đất 280m
2
800m
2
(theo kết quả xem xét,
thẩm định tại chỗ thực tế 266,6m
2
705,4m
2
). Mặc các bên đều năng
lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, tnguyện thỏa thuận, tuy nhiên diện
tích đất cụ H4, ông Đ, ông Q đã thỏa thuận thi hành án còn thuộc quyền sử dụng
của những người con khác của cụ H4, cụ Đ1 Thanh H1, Thị L,
Thị H, Thị L, do đó việc cụ H4, ông Đ, ông Q tự ý định đoạt toàn
bộ các diện tích đất này trong khi chưa được sự đồng ý của những người con
còn lại là chưa đúng.
Khoản 1 Điều 6 Luật thi hành án dân snăm 2008, sửa đổi bổ sung năm
2022 quy định: Đương sự quyền thỏa thuận về việc thi hành án, nếu thoả
thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật không trái đạo đức hội.
Kết quả thi hành án theo thỏa thuận được công nhận”. Trường hợp này, thỏa
thuận thi hành án giữa cụ L, ông Đ, ông Q H2 một phần vi phạm pháp
luật thỏa thuận phần tài sản thuộc quyền sử dụng của người khác, do đó phần
thỏa thuận L quan đến diện tích đất thuộc quyền sử dụng của các Thị
L, bà Vũ Thị H, bà Vũ Thị L, bà Vũ Thanh H1 (277,72 m
2
) là vô hiệu, phần thỏa
10
thuận có L quan đến diện tích đất thuộc quyền sử dụng của cụ H4, ông Q, ông Đ
(694,28 m
2
) vẫn có hiệu lực pháp luật.
vậy, kháng cáo của Thị L về việc tuyên bố toàn bộ văn bản thỏa
thuận thi hành án ngày 18/11/2008 21/11/2008 vô hiệu kháng cáo của Chi
cục thi hành án dân sự về việc tuyên bố văn bản thỏa thuận thi hành án ngày
18/11/2008 21/11/2008 đối với thỏa thuận trả diện tích 280 m
2
(theo kết quả
thẩm định tại chỗ là 266,6 m
2
) có hiệu lực là không có căn cứ chấp nhận.
[2.3] Xét yêu cầu buộc bị đơn phải tháo dỡ tài sản, trả lại các diện tích đất
cho nguyên đơn.
Như phân tích trên, c Trần Thị H4, ông Đức Đ, ông Vũ Hải Q chỉ
được thực hiện nghĩa vụ thi hành án bằng quyền sử dụng 694,28 m
2
đất nằm
trong diện tích đất 705,4m
2
. Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định ông Nguyễn Văn N
Nguyễn Thị H2 được quyền sử dụng diện tích đất 705,4m
2
, ông N,
H2 có trách nhiệm trả phần quyền sử dụng diện tích đất 11,12m
2
nằm trong diện
tích đất 705,4m
2
tương đương trị giá 20.000.000 đồng/m
2
, thành tiền
222.400.000 đồng cho Thị L, bà Thị H, Thị L, Thanh
H1, phần của mỗi người được nhận số tiền 55.600.000 đồng các
trách nhiệm H2 trả tài sản tôn tạo nằm trên diện tích đất 266,6m
2
, trị giá
31.335.693 đồng, phần của mỗi bà có trách nhiệm H2 trả 7.833.923 đồng cho
ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị H2 là phù hợp. Việc tháo dỡ tài sản trên đất
không cần thiết, ảnh hưởng đến giá tr và việc sử dụng tài sản. Do đó không
có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
[3] Xét kháng cáo của Chi cục thi hành án dân s th xã SP, Lào Cai
Chi cục thi hành án th xã SP cho rằng, vic Tòa án cấp sơ thẩm coi biên
bản thỏa thuận thi hành án ngày 18/11/2008 và biên bản thỏa thuận thi hành án
ngày 21/11/2008 giữa c Trần Th H4, ông Vũ Hải Q, ông Vũ Đức Đ và bà
Nguyễn Th H2 tương t giao dịch dân s thông thường để tuyên vô hiệu là
không đúng quy định tại Điều 116 B luật dân s và hướng dn tại mục IV công
văn s 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân ti cao.
Hội đồng xét x nhận định:
Như phân tích tại mục [2.2] của bản án này, thỏa thuận thi hành án giữa
cụ L, ông Đ, ông Q H2 một phần vi phạm pháp luật vì thỏa thuận phần
tài sản thuộc quyền sử dụng của người khác, do đó căn c quy định tại khoản 1
Điều 6 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2022, phần thỏa
thuận vi phạm pháp luật không có hiệu lực.
Bên cạnh đó, tại mục IV công văn s 01/2017/GĐ-TANDTC ngày
07/4/2017 của Tòa án nhân dân ti cao, Tòa án nhân dân ti cao hướng dẫn
trường hợp giải quyết tranh chấp L quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án
quy định tại khoản 12 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, không L quan
đến yêu cầu của đương s trong v án này, do đó Chi cục thi hành án viện dn
công văn s 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân ti cao
là không có căn c.
11
T những phân tích nêu trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã nghiên cứu,
đánh giá toàn diện, khách quan các chứng c có trong h sơ v án, giải quyết v
án đúng quy định pháp luật. Kháng cáo của Thị L, Thị H,
Thị L, Thanh H1, ông Đức Đ, ông Hải Q và Chi cc thi hành án
dân s th xã SP là không có căn c chấp nhận.
[4] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các nguyên đơn
Thị L, bà Thị H, Thị L, Thanh H1, ông Đức Đ, ông
Vũ Hải Q phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật. Kháng cáo
của Chi cục thi hành án dân sự thị SP không được chấp nhận tuy nhiên kháng
cáo của Chi cục thi hành án dân sthị SP thuộc trường hợp không phải nộp
án phí theo điểm b khoản 1 Điều 11 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sdụng, án phí lệ pTòa án, do
đó Chi cục thi hành án dân sự thị SP không phải chịu án phí dân sự phúc
thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí
Tòa án:
1. Không chấp nhận kháng cáo của các nguyên đơn Thị L,
Thị H, Thị L, Thanh H1, ông Đức Đ, ông Hải Q, người
quyền lợi, nghĩa vụ L quan Chi cục thi hành án dân sự thị SP. Giữ nguyên
bản án dân sự thẩm số 20/2024/DS-ST ngày 05/8/2024 của Tòa án nhân dân
thị xã SP, tỉnh Lào Cai.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo Thị L; Thị
H; bà Vũ Thị L; bà Vũ Thanh H1; ông Vũ Đức Đ; ông Vũ Hải Q mi người phải
chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm. Được khấu
trừ số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số
0001633 ngày 22/8/2024 tại chi cục Thi hành án dân sự thị SP, tỉnh Lào Cai.
Xác nhận các nguyên đơn đã nộp đủ tiền án phí phúc thẩm.
3. Các phần khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,
7, 7a,7b 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
12
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lào Cai;
- TAND thị xã SP;
- VKSND thị xã SP;
- Chi cục THADS thị xã SP;
- Các đương sự;
- Lưu VT, HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Văn Nghĩa
Tải về
Bản án số 13/2025/DS-PT Bản án số 13/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 13/2025/DS-PT Bản án số 13/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất