Bản án số 44/2025/DS-PT ngày 13/03/2025 của TAND tỉnh Đắk Nông về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 44/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 44/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 44/2025/DS-PT
Tên Bản án: | Bản án số 44/2025/DS-PT ngày 13/03/2025 của TAND tỉnh Đắk Nông về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đắk Nông |
Số hiệu: | 44/2025/DS-PT |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 13/03/2025 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Âu
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thế Hạnh và ông Dương Hà Ngân
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thuý Hảo – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà
Vương Thị Bắc - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 163/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 12
năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 29/2024/DS-ST ngày 30-09-2024 của Tòa án nhân
dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông bị bà Đỗ Thị Phương T là người đại diện theo uỷ
quyền của bị đơn ông Trần Văn Q kháng cáo theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc
thẩm số: 04/2025/QĐ-PT ngày 21 tháng 01 năm 2025, gia các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị B, sinh năm 1965 – Có mặt.
Địa chỉ: Thôn a, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông
2. Bị đơn: Ông Trần Văn Q, sinh năm 1967 – Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn a, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Đỗ Thị Phương T, sinh năm
1996 – Có mặt.
Địa chỉ: Khối b, thị trấn N, huyện N, tỉnh Quảng Nam.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK NÔNG
Bản án số: 44/2025/DS-PT
Ngày 13 – 3 -2025
“V/v: Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng
đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
- Bà Nguyễn Thị S– Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn c, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông
- UBND huyện T
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Trần Vĩnh P, Phó chủ tịch UBND huyện
T, tỉnh Đắk Nông – Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị bà Phạm
Thị B trình bày:
Ngày 23/4/2020, ông Q sang nhượng cho bà 01 lô đất tọa lạc tại thôn d, xã Q,
huyện T, có chiều ngang theo đường vào Thác 72 là 33m, chiều dài là 40m, có diện
tích khoảng 1.320m
2
, trên đất có 01 móng nhà diện tích khoảng 500m
2
với số tiền
sang nhượng là 140.000.000 đồng. Bà đã đưa đủ số tiền 140.000.000đ cho ông Trần
Văn Q và ông Q đã chỉ đất, giao đất cho bà trên thực địa. Tuy nhiên, sau đó bà S là
vợ của ông Q đã vào tranh chấp và dựng 01 căn nhà tôn và sinh sống trên lô đất này.
Sau đó, bà được biết lô đất này nằm trong đất quy hoạch Cụm Công nghiệp - tiểu thủ
công nghiệp xã Q, huyện T. Khi sang nhượng ông Q có làm giấy sang nhượng viết
tay và có ký tên và giao cho bà gi. Nhưng khoảng hơn 01 năm sau giấy sang nhượng
đề ngày 23/4/2020 bà cất tại nhà đã bị trộm mất, ai trộm giấy sang nhượng này thì
bà không rõ nhưng bà nghĩ bà Nguyễn Thị S (vợ cũ) của ông Q lấy vào ngày
09/11/2021 vì thời gian này bà có thuê bà S hái cà phê và ở trong nhà của bà khoảng
gần 01 tháng. Tuy nhiên, trước đó bà S có nói bà lấy giấy sang nhượng đất gia bà
với ông Q chụp và gửi Zalo để bà S làm thủ tục xin cấp giấy CNQSD đất cho nên bà
có chụp giấy sang nhượng đất và lưu trong điện thoại (hiện trong điện thoại bà vẫn
còn lưu ảnh chụp giấy sang nhượng bản gốc và có thể hiện ngày chụp là ngày
18/10/2021) nên việc ông Q và bà S trình bày ngày Giấy sang nhượng đất ngày
23/4/2020 đã bị bà S khi không đồng ý sang nhượng đất đã xé luôn trong ngày
23/4/2020 là không đúng. Nay bà yêu cầu Tòa án tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất gia bà với ông Trần Văn Q ngày 23/4/2020 và buộc ông Q phải
có nghĩa vụ trả lại số tiền sang nhượng đất đã nhận là 140.000:000đ. Về yêu cầu bồi
thường thiệt hại số tiền 140.000.000đ bà xin rút yêu cầu.
Bị đơn ông Trần Văn Q trình bày:
Ngày 23/4/2020, ông có sang nhượng cho bà B 01 lô đất tọa lạc tại thôn d, xã
Q (đường vào thác A) có chiều ngang 33m, chiều dài 40, tổng diện tích là 1.320m
2
với giá thỏa thuận là 140.000.000đ. Do đất chưa có giấy CNQSD đất nên các bên chỉ
làm giấy tờ viết tay. Tuy nhiên, lô đất này là tài sản của bà Nguyễn Thị S (vợ cũ của
ông nhưng đã ly hôn) nên khi các bên thỏa thuận làm giấy tờ sang nhượng đất xong
thì phải đợi bà S đến để cùng ký vào giấy chuyển nhượng đất thì các bên mới tiến
hành giao tiền. Tuy nhiên, khi bà S đến thì không đồng ý sang nhượng diện tích đất
3
này cho bà B và khi đọc giấy sang nhượng đất gia ông với bà B ghi trước đó xong
thì bà S xé mất giấy sang nhượng đất nên các bên chưa tiến hành sang nhượng và bà
B cũng chưa đưa số tiền 140.000.000đ nhưng đã thỏa thuận trong giấy sang nhượng
đất đã viết vào ngày 23/4/2020. Bà B có giấy sang nhượng đất bản phô tô là do khi
ông và bà B thỏa thuận viết xong giấy sang nhượng đất sau đó cùng ký tên vào xong
bà B cầm, có thể bà B đã lấy điện thoại di động chụp lại tờ giấy sang nhượng bản
gốc lại trong điện thoại. Chứ bản gốc giấy sang nhượng đất ngày 23/4/2020 gia ông
với bà B hiện không còn vì cùng ngày đó thì bà S vợ cũ của ông đã xé tờ giấy này.
Hiện lô đất ông thoả thuận sang nhượng cho bà nằm trong đất dự án khu công nghiệp
Q đã được Nhà nước quy hoạch và diện tích đất này đã trả cho Nhà nước, bà S cũng
không còn quản lý, sử dụng. Nay bà B yêu cầu tuyên hủy giấy sang nhượng đất ngày
23/4/2020 gia ông với bà B, buộc ông trả lại số tiền nhận sang nhượng đất
140.000.000đ và bồi thường thiệt hại số tiền 140.000.000đ ông không đồng ý vì thực
tế việc mua bán đất có thỏa thuận nhưng sau đó vợ cũ của ông không đồng ý đã xé
giấy sang nhượng đất, bà B cũng chưa đưa số tiền 140.000.000đ và ông cũng chưa
giao đất cho bà B quản lý, sử dụng. Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà
B đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị S trình bày:
Bà Phạm Thị B khởi kiện về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất với ông Trần Văn Q (chồng cũ của bà hiện đã ly hôn). Theo bà được
biết, ngày 23/4/2020 ông Q có viết giấy sang nhượng đất cho bà Phạm Thị B, nội
dung để sang nhượng thửa đất tọa lạc tại thôn d, xã Q có diện tích ngang 33m theo
mặt đường vào thác A, chiều sâu khoảng 40m với giá tiền là 140.000.000đ. Tuy
nhiên, lô đất này là tài sản chung của bà và ông Q trong thời kỳ hôn nhân, khi bà và
ông Q ly hôn (đã ly hôn trước khi ông Q làm giấy sang nhượng đất cho bà B) thì bà
và ông Q đã thỏa thuận lô đất này được giao lại cho bà quản lý, sử dụng. Do vậy, ông
Q sang nhượng lô đất cho bà Phạm Thị B bà không đồng ý nên khi ông Q đưa giấy
sang nhượng đất cho bà xem và ký (cùng trong ngày 23/4/2020) bà đã xé tờ giấy.
Việc bà B cho rằng bà đi làm thuê cho bà và biết được chỗ cất giấu tờ giấy sang
nhượng ở trong nhà bà B nên đã lấy trộm tờ giấy sang nhượng đất ngày 23/4/2020
bản gốc là không có căn cứ, bà B vu khống cho bà lấy trộm, thực tế bà đã xé tờ giấy
sang nhượng này từ ngày 23/4/2020. Còn việc ông Q và bà B thoả thuận số tiền sang
nhượng đất là 140.000.000đ và viết giấy sang nhượng, bà B đã đưa tiền sang nhượng
đất cho ông Q chưa bà cũng không biết. Bà không nhận được bất kỳ khoản tiền nào
từ bà B hay ông Q đưa. Do vậy việc tranh chấp gia bà B và ông Q không liên quan
đến bà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện T trình bày: Toàn bộ
diện tích đất ông Q sang nhượng cho bà B nằm trong diện tích đất quy hoạch Cụm
Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp Q, huyện T. Hiện tại diện tích đất này đã được
thu hồi giao về cho UBND huyện T quản lý. Do vậy, đối với việc tranh chấp hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất gia bà B với ông Q, UBND huyện T không
có ý kiến và yêu cầu gì. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện T giải quyết vụ án theo quy
định của pháp luật.
4
Bản án dân sự sơ thẩm số: 29/2024/DS-ST ngày 30-09-2024 của Tòa án
nhân dân huyện Tuy Đức đã quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39;
Điều 91; Điều 147 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ Điều 117; Điều 122;
Điều 131; Điều 275; Điều 357; Điều 407; Điều 408; khoản 2 Điều 468; Điều 500;
Điều 501 và Điều 502 Bộ luật Dân sự; Căn cứ Điều 12; Điều 168; Điều 188 Luật đất
đai năm 2013; căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ quốc hội quy dịnh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòà án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị B đối với ông Trần Văn Q.
1.1. Tuyên hợp đồng sang nhượng quyền sử dụng đất ngày 23/4/2020 gia bà
Phạm Thị B và ông Trần Văn Q đối với diện tích 1.320m' đất tọa lạc tại thôn d, xã
Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông là vô hiệu.
1.2. Về giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu: Buộc ông Trân Văn Q phải trả
cho bà Phạm Thị B số tiền 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng).
Áp dụng Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tính lãi suất chậm
thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo quy định của pháp luật.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu bồi thường số tiền
140.000.000đ do nguyên đơn rút yêu cầu.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 15-10-2024, bà Đỗ Thị Phương T là người đại diện
theo uỷ quyền của bị đơn ông Trần Văn Q kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp
phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn bà Phạm Thị B.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn gi
nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo gi nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị
Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện
đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
- Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn
cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS; không chấp nhận kháng cáo của bà Đỗ Thị Phương
T, gi nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

5
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả hỏi, tranh tụng
tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Đỗ Thị Phương T nộp trong thời hạn luật
định, đã nộp tiền tạm ứng án phí theo đúng quy định của pháp luật nên được Hội
đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về nội dung giải quyết vụ án và xét yêu cầu kháng cáo:
[2.1]. Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các đương sự có trong hồ sơ
vụ án, có căn cứ xác định:
Ngày 23/4/2020, bị đơn có thoả thuận sang nhượng cho nguyên đơn 01 lô đất
có diện tích 1.320m2, trên đất có 01 móng nhà diện tích khoảng 500m2 với số tiền
sang nhượng là 140.000.000 đồng. Thời điểm sang nhượng do đất chưa được cấp
giấy CNQSD đất cho bị đơn nên các bên chỉ lập giấy sang nhượng đất viết tay. Nội
dung này được nguyên đơn và bị đơn thừa nhận.
Bị đơn cho rằng giấy sang nhượng ngày 23/4/2020 khi viết xong đã bị bà S
(vợ cũ của bị đơn) xé trong cùng ngày, nhưng trước khi bà S xé thì nguyên đơn đã
lấy giấy sang nhượng đất dùng điện thoại chụp lại. Nội dung này không được
nguyên đơn thừa nhận và cho rằng giấy sang nhượng bản gốc sau khi thoả thuận,
được nguyên đơn gi nhưng đã bị mất trộm, sau khi bị mất trộm nguyên đơn có báo
chính quyền địa phương và đã cung cấp đơn xác nhận của công an xã về nội dung
này. Đồng thời, tại Vi bằng số 48/2024/VB-TPLĐN ngày 27/3/2024 và qua kiểm
hình ảnh trong điện thoại của nguyên đơn thể hiện nguyên đơn có chụp ảnh giấy
sang nhượng bản gốc, thể hiện ngày chụp là ngày 18/10/2021, do đó có căn cứ xác
định việc bị đơn và bà S cho rằng đã xé “Giấy sang nhượng” trong ngày 23/4/2020
là không đúng. Như vậy, có căn cứ chứng minh việc thoả thuận sang nhượng là có
thật, hai bên đã hoàn tất việc thoả thuận, ký giấy sang nhượng và giao nhận tiền như
lời trình bày của nguyên đơn.
Về hình thức và nội dung hợp đồng, xét thấy: Toàn bộ diện tích đất các bên
sang nhượng nằm trong diện tích đất quy hoạch Cụm Công nghiệp – Tiểu thủ công
nghiệp Q, huyện T. Diện tích đất này đã được thu hồi giao về cho UBND huyện T
quản lý. Do đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất viết tay đã vi phạm về
hình thức; đối tượng của hợp đồng là quyền sử dụng đất tọa lạc tại thôn d, xã Q, huyện
T nằm trong diện tích đất quy hoạch Cụm Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp xã
Q, huyện T nên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất gia nguyên đơn với bị
đơn lập ngày 23/4/2020 bị vô hiệu.
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị vô hiệu, không làm phát sinh
quyền, nghĩa vụ của hai bên, căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 131 Bộ luật Dân
sự 2015, hai bên có trách nhiệm khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau
nhng gì đã nhận. Mặc dù, bị đơn cho rằng nguyên đơn chưa đưa tiền chuyển
nhượng nhưng không có chứng cứ để chứng minh. Theo khoản 4 Điều 91 Bộ luật
tố tụng Dân sự quy định:“Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà
không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Toà án giải quyết
vụ án dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Tại
6
giấy sang nhượng bị đơn đã đã cam kết “…Nếu sau này xảy ra vấn đề gì thì hoàn
toàn chịu trách nhiệm bồi thượng lại toàn bộ số tiền mà bị đơn đã nhận của bà B
và số tiền lãi theo thỏa thuận”. Như vậy, theo phân tích ở trên, có căn cứ xác định
các bên đã hoàn tất nội dung thoả thuân, ký hợp đồng và đã giao nhận tiền, do hợp
đồng bị vô hiệu nên việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử, buộc bị đơn phải trả lại cho
nguyên đơn số tiền 140.000.000đ đã nhận là có căn cứ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn không cung cấp
thêm tình tiết mới chứng minh cho nội dung kháng cáo nên HĐXX không có căn cứ
chấp nhận kháng cáo bà Đỗ Thị Phương T, gi nguyên bản án sơ thẩm.
[3]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên
HĐXX chấp nhận.
[4]. Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Đỗ Thị
Phương T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bà Đỗ Thị Phương T, gi nguyên Bản án dân
sự sơ thẩm số: 29/2024/DS-ST ngày 30-09-2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy
Đức, tỉnh Đắk Nông.
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39;
Điều 91; Điều 147 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117; Điều 122; Điều
131; Điều 275; Điều 357; Điều 407; Điều 408; khoản 2 Điều 468; Điều 500; Điều
501 và Điều 502 Bộ luật Dân sự; Điều 12; Điều 168; Điều 188 Luật đất đai năm
2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị B đối với ông Trần Văn Q.
Tuyên hợp đồng sang nhượng quyền sử dụng đất ngày 23/4/2020 gia bà
Phạm Thị B và ông Trần Văn Q đối với diện tích 1.320m
2
đất tọa lạc tại thôn d, xã
Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông là vô hiệu.
Buộc ông Trần Văn Q phải trả cho bà Phạm Thị B số tiền 140.000.000 đồng
(Một trăm bốn mươi triệu đồng).
Áp dụng Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tính lãi suất chậm
thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo quy định của pháp luật.
7
Về chi phí tố tụng: Buộc bị đơn ông Trần Văn Q phải trả cho bà Phạm Thị B
số tiền chi phí tố tụng là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).
Về án phí:
Án phí sơ thẩm: Ông Trần Văn Q phải chịu 7.300.000 đồng (Bảy triệu ba trăm
nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Phạm Thị B được nhận lại số tiền 7.300.000 đồng (Bảy triệu ba trăm nghìn đồng)
đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001283 ngày
12/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Đắk Nông.
Án phí phúc thẩm: Buộc bà Đỗ Thị Phương T phải chịu 300.000đ án phí dân
sự phúc thẩm được trừ đi số tiền tạm ứng đã nộp tại biên lai số 0008866 ngày 23-10-
2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.
2. Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND cấp cao tại Tp.HCM;
- VKSND tỉnh Đăk Nông;
- TAND huyện Tuy Đức;
- Chi cục THADS huyện T;
- Các đương sự;
- Lưu: TDS, THCTP, HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký và đóng dấu)
Nguyễn Thị Hải Âu
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 25/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 20/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 20/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 06/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 06/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 04/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 04/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm