Bản án số 44/2025/DS-PT ngày 13/03/2025 của TAND tỉnh Đắk Nông về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 44/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 44/2025/DS-PT ngày 13/03/2025 của TAND tỉnh Đắk Nông về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Nông
Số hiệu: 44/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/03/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Âu
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thế Hạnh và ông Dương Hà Ngân
- Thư ký phn tòa: Bà ơng Thuý Hảo T ký Toà án nn dân tỉnh Đk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa:
Vương Thị Bắc - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 m 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 163/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 12
năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bn ánn sự thẩm số: 29/2024/DS-ST ngày 30-09-2024 của Tòa án nhân
dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đk Nông bbà Đ Th Pơng T người đi diện theo u
quyền của bị đơn ông Trần Văn Q kháng cáo theo Quyết định đưa vụ án rat x phúc
thm s: 04/2025/-PT ngày 21 tháng 01 năm 2025, gia các đương s:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị B, sinh năm 1965 Có mặt.
Địa chỉ: Thôn a, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông
2. Bị đơn: Ông Trần Văn Q, sinh năm 1967 Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn a, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Đỗ Thị Phương T, sinh năm
1996 Có mặt.
Địa chỉ: Khối b, thị trấn N, huyện N, tỉnh Quảng Nam.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK NÔNG
Bản án số: 44/2025/DS-PT
Ngày 13 3 -2025
V/v: Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng
đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
- Bà Nguyễn Thị S– Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn c, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông
- UBND huyện T
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Trần Vĩnh P, Phó chủ tịch UBND huyện
T, tỉnh Đắk Nông Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị bà Phạm
Thị B trình bày:
Ngày 23/4/2020, ông Q sang nhượng cho 01 lô đất tọa lạc tại thôn d, Q,
huyện T, có chiều ngang theo đường vào Thác 72 là 33m, chiều dài là 40m, có diện
tích khoảng 1.320m
2
, trên đất 01 móng nhà diện tích khoảng 500m
2
với số tiền
sang nhượng là 140.000.000 đồng. Bà đã đưa đủ số tiền 140.000.000đ cho ông Trần
Văn Q và ông Q đã chỉ đất, giao đất cho bà trên thực địa. Tuy nhiên, sau đó bà S
vợ của ông Q đã vào tranh chấp và dựng 01 căn nhà tôn và sinh sống trên lô đất này.
Sau đó, được biết đất này nằm trong đất quy hoạch Cụm Công nghiệp - tiểu thủ
công nghiệp xã Q, huyện T. Khi sang nhượng ông Q làm giấy sang nhượng viết
tay ký n giao cho gi. Nhưng khoảng hơn 01 năm sau giấy sang nhượng
đề ngày 23/4/2020 cất tại nhà đã bị trộm mất, ai trộm giấy sang nhượng này thì
không nhưng nghĩ Nguyễn Thị S (vợ cũ) của ông Q lấy vào ngày
09/11/2021 thời gian này bà có thuê bà S háiphê và trong nhà của bà khoảng
gần 01 tháng. Tuy nhiên, trước đó S nói bà lấy giấy sang nhượng đất gia bà
với ông Q chụp và gửi Zalo để S làm thủ tục xin cấp giấy CNQSD đất cho nên
chụp giấy sang nhượng đất u trong điện thoại (hiện trong điện thoại vẫn
còn lưu nh chụp giấy sang nhượng bản gốc và thể hiện ngày chụp ngày
18/10/2021) nên việc ông Q bà S trình bày ngày Giấy sang nhượng đất ngày
23/4/2020 đã bị S khi không đồng ý sang nhượng đất đã luôn trong ngày
23/4/2020 không đúng. Nay yêu cầu Tòa án tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất gia bà với ông Trần Văn Q ngày 23/4/2020 và buộc ông Q phải
có nghĩa vụ trả lại số tiền sang nhượng đất đã nhận là 140.000:000đ. Về yêu cầu bồi
thường thiệt hại số tiền 140.000.000đ bà xin rút yêu cầu.
Bị đơn ông Trần Văn Q trình bày:
Ngày 23/4/2020, ông có sang nhượng cho bà B 01 lô đất tọa lạc tại thôn d, xã
Q (đường vào thác A) chiu ngang 33m, chiu dài 40, tổng diện tích là 1.320m
2
với giá thỏa thuận 140.000.000đ. Do đất chưa có giấy CNQSD đất nên các bên chỉ
làm giấy tờ viết tay. Tuy nhiên, lô đất này là tài sản của Nguyễn Thị S (vợ cũ của
ông nhưng đã ly hôn) nên khi c bên thỏa thuận làm giấy tờ sang nhượng đất xong
thì phải đợi bà S đến để cùng vào giấy chuyển nhượng đất thì các bên mới tiến
hành giao tiền. Tuy nhiên, khi bà S đến thì không đồng ý sang nhượng diện tích đất
3
này cho bà B và khi đọc giấy sang nhượng đất gia ông với bà B ghi trước đó xong
thì bà S xé mất giấy sang nhượng đất nên các bên chưa tiến hành sang nhượng
B cũng chưa đưa stiền 140.000.000đ nhưng đã thỏa thuận trong giấy sang nhượng
đất đã viết vào ngày 23/4/2020. B có giấy sang nhượng đất bn phô tô do khi
ông và bà B thỏa thuận viết xong giấy sang nhượng đất sau đó cùng ký tên vào xong
B cầm, thể B đã lấy điện thoại di động chụp lại tờ giấy sang nhượng bản
gốc lại trong điện thoại. Chứ bản gốc giấy sang nhượng đất ngày 23/4/2020 gia ông
với B hiện không còn cùng ngày đó thì S vợ cũ của ông đã xé tờ giấy này.
Hiện đt ông thoả thuận sang nhượng cho nằm trong đất dự án khu công nghiệp
Q đã được Nhà nước quy hoạch và diện tích đất này đã trả cho Nhà nước, bà S ng
không còn quản lý, sử dụng. Nay B yêu cầu tuyên hủy giấy sang nhượng đất ngày
23/4/2020 gia ông với B, buộc ông trả lại số tiền nhận sang nhượng đất
140.000.000đ bồi thường thiệt hại số tiền 140.000.00ông không đồng ý thực
tế việc mua bán đất có thỏa thuận nng sau đó vợ cũ của ông không đồng ý đã
giấy sang nhượng đất, B ng chưa đưa số tiền 140.000.000đ ông cũng chưa
giao đất cho bà B quản lý, sử dụng. Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của
B đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ni có quyền lợi, nghĩa vliên quan đến ván Nguyễn ThS trình y:
Phạm Thị B khởi kiện về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất với ông Trần Văn Q (chồng của hiện đã ly hôn). Theo được
biết, ngày 23/4/2020 ông Q viết giấy sang nhượng đất cho Phạm Thị B, nội
dung để sang nợng thửa đất tọa lạc tại thôn d, Q diện tích ngang 33m theo
mặt đường vào thác A, chiều sâu khoảng 40m với giá tiền 140.000.000đ. Tuy
nhiên, lô đất này là tài sản chung của bà và ông Q trong thời kỳ hôn nhân, khi bà và
ông Q ly hôn (đã ly hôn trước khi ông Q làm giấy sang nhượng đất cho bà B) thì bà
ông Q đã thỏa thuận đất này được giao lại cho quản lý, sử dụng. Do vậy, ông
Q sang nhượng lô đất cho Phạm Thị B bà không đồng ý nên khi ông Q đưa giấy
sang nhượng đất cho bà xem và (cùng trong ngày 23/4/2020) đã tờ giấy.
Việc B cho rằng đi làm thuê cho và biết được chỗ cất giấu tờ giấy sang
nhượng trong nhà B nên đã lấy trộm tờ giấy sang nhượng đất ngày 23/4/2020
bản gốc là không có căn cứ, bà B vu khống cho bà lấy trộm, thực tế bà đã xé tờ giấy
sang nhượng này tngày 23/4/2020. Còn việc ông Q B thoả thuận số tiền sang
nhượng đất 140.000.000đ viết giấy sang nhượng, B đã đưa tiền sang nhượng
đất cho ông Q chưa bà cũng không biết. không nhận được bất kỳ khoản tiền nào
từ bà B hay ông Q đưa. Do vậy việc tranh chấp gia bà B và ông Q không liên quan
đến bà.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện T trình bày: Toàn bộ
diện tích đất ông Q sang nhượng cho B nằm trong diện tích đất quy hoạch Cụm
Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp Q, huyện T. Hiện tại diện tích đất này đã được
thu hồi giao về cho UBND huyện T quản lý. Do vậy, đối với việc tranh chấp hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất gia B với ông Q, UBND huyện T không
có ý kiến và yêu cầu gì. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện T giải quyết vụ án theo quy
định của pháp luật.
4
Bản án dân sthẩm số: 29/2024/DS-ST ngày 30-09-2024 của Tòa án
nhân dân huyện Tuy Đức đã quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39;
Điều 91; Điều 147 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ Điều 117; Điều 122;
Điều 131; Điều 275; Điều 357; Điều 407; Điều 408; khoản 2 Điều 468; Điều 500;
Điều 501 Điều 502 Bộ luật Dân s; n cứ Điều 12; Điều 168; Điều 188 Luật đất
đai năm 2013; căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ quốc hội quy dịnh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản s
dụng án phí và lệ phí Tòà án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhn u cầu khởi kiện ca Phạm Thị B đối với ông Trần n Q.
1.1. Tuyên hợp đồng sang nhượng quyền sử dụng đất ngày 23/4/2020 gia
Phạm Thị B ông Trần Văn Q đối với diện tích 1.320m' đất tọa lạc tại thôn d,
Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông là vô hiệu.
1.2. Về giải quyết hậu quả hợp đồng hiệu: Buộc ông Trân Văn Q phải trả
cho bà Phạm Thị B số tiền 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng).
Áp dụng Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tính lãi suất chậm
thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo quy định của pháp luật.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu bồi thường stiền
140.000.000đ do nguyên đơn rút yêu cầu.
Ngoài ra, Tòa án cp sơ thm còn tuyên v chi phí t tng, án phí và quyn kng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 15-10-2024, bà Đ Thị Phương T là ngưi đi diện
theo uỷ quyền ca b đơn ông Trần n Q kháng o bản án sơ thẩm, đnghị Tòa án cấp
phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hưng c toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ngun
đơn Phạm Thị B.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ngưi đại din theo u quyn của nguyên đơn gi
ngun yêu cu khi kin, người kháng cáo gi nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị
Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông phát biểu quan điểm:
- V tố tụng: Ngưi tham gia t tng và người tiến hành t tụng đã thc hin
đúng quy định ca B lut T tng dân s ti Tòa án cp phúc thm.
- Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn
cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS; không chấp nhận kháng cáo của bà Đỗ Thị Phương
T, gi nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
5
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả hỏi, tranh tụng
tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Đỗ ThPơng T nộp trong thời hạn luật
định, đã nộp tiền tạm ứng án phí theo đúng quy định của pháp luật nên được Hội
đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về nội dung giải quyết vụ án và xét yêu cầu kháng cáo:
[2.1]. Theo các tài liệu, chứng cứ lời khai của các đương sự có trong hồ
vụ án, có căn cứ xác định:
Ngày 23/4/2020, bị đơn thoả thuận sang nhượng cho nguyên đơn 01 lô đất
diện tích 1.320m2, trên đất có 01 móng nhà diện tích khoảng 500m2 với số tiền
sang nhượng 140.000.000 đồng. Thời điểm sang nhượng do đất chưa được cấp
giấy CNQSD đất cho bị đơn nên các bên chỉ lập giấy sang nhượng đất viết tay. Nội
dung này được nguyên đơn và bị đơn thừa nhận.
Bị đơn cho rằng giấy sang nhượng ngày 23/4/2020 khi viết xong đã bbà S
(vợcủa bị đơn) xé trong cùng ngày, nhưng trước khi bà S thì nguyên đơn đã
lấy giấy sang nhượng đất dùng điện thoại chụp lại. Nội dung này không được
nguyên đơn thừa nhận và cho rằng giấy sang nhượng bản gốc sau khi thoả thuận,
được nguyên đơn gi nhưng đã bị mất trộm, sau khi bị mất trộm nguyên đơn báo
chính quyền địa phương và đã cung cấp đơn xác nhận củang an về ni dung
này. Đồng thời, tại Vi bằng số 48/2024/VB-TPLĐN ngày 27/3/2024 qua kiểm
hình ảnh trong điện thoại của nguyên đơn thể hiện nguyên đơn chụp ảnh giấy
sang nhượng bản gốc, thể hiện ngày chụp là ngày 18/10/2021, do đó căn cứ xác
định việc bị đơn S cho rằng đã “Giấy sang nhượng” trong ngày 23/4/2020
không đúng. Như vậy, căn cứ chng minh việc thoả thuận sang nhượng
thật, hai bên đã hoàn tất việc thoả thuận, ký giấy sang nhượng và giao nhận tiền như
lời trình bày của nguyên đơn.
Vềnh thức nội dung hợp đồng, xét thấy: Toàn bộ diện tích đất các bên
sang nhượng nằm trong diện tích đất quy hoạch Cụm Công nghiệp Tiểu thủ công
nghiệp Q, huyện T. Diện tích đất này đã được thu hồi giao về cho UBND huyện T
quản lý. Do đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất viết tay đã vi phạm về
hình thức; đối tượng của hợp đồng quyền sử dụng đất tọa lạc tại thôn d, Q, huyện
T nằm trong diện tích đất quy hoạch Cụm Công nghiệp Tiểu thủ công nghiệp xã
Q, huyện T n hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất gia nguyên đơn với bị
đơn lập ngày 23/4/2020 bị hiệu.
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị hiệu, không làm phát sinh
quyền, nghĩa vụ của hai bên, căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 131 Bộ luật Dân
sự 2015, hai bên trách nhiệm khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau
nhng đã nhận. Mặc dù, bị đơn cho rằng nguyên đơn chưa đưa tiền chuyển
nhượng nhưng không chứng cứ để chứng minh. Theo khoản 4 Điều 91 Bộ luật
tố tụng Dân sự quy định:“Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh
không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Toà án giải quyết
vụ án dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được trong hồ vụ việc”. Tại
6
giấy sang nhượng bị đơn đã đã cam kết “…Nếu sau này xảy ra vấn đthì hoàn
toàn chịu trách nhiệm bồi thượng lại toàn bộ stiền mà bđơn đã nhận của B
số tiền lãi theo thỏa thuận”. Như vậy, theo phân tích ở trên, có căn cứ xác định
các bên đã hoàn tất nội dung thoả thuân, hợp đồng đã giao nhận tiền, do hợp
đồng bị hiệu nên việc Tòa án cấp thẩm xét xử, buộc bđơn phải trả lại cho
nguyên đơn số tiền 140.000.000đ đã nhận là có căn cứ.
Tại phn a phúc thẩm, ni đại din theo ủy quyền của bị đơn kng cung cấp
thêm nh tiết mới chứng minh cho nội dung kháng o n XX không n cứ
chấp nhận kng o Đỗ ThPhương T, gi ngun bản án sơ thẩm.
[3]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa căn cứ nên
HĐXX chấp nhận.
[4]. Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên Đỗ Thị
Pơng T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c khon 1 Điu 308 ca B lut T tng dân s;
Không chấp nhận kháng cáo của ĐThị Pơng T, gi nguyên Bản án dân
s sơ thm s: 29/2024/DS-ST ngày 30-09-2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy
Đức, tỉnh Đắk Nông.
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39;
Điều 91; Điều 147 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117; Điều 122; Điều
131; Điều 275; Điều 357; Điều 407; Điều 408; khoản 2 Điều 468; Điều 500; Điều
501 Điều 502 Bộ luật Dân sự; Điều 12; Điều 168; Điều 188 Luật đất đai năm
2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ca Ủy ban Thường
v quc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí
và lệ phí Toà án.
Tun xử:
1. Chấp nhn u cầu khởi kiện của Phm ThB đi với ông Trn Văn Q.
Tuyên hợp đồng sang nhượng quyền sdụng đất ny 23/4/2020 gia
Phạm Thị B và ông Trần Văn Q đối với diện tích 1.320m
2
đất tọa lạc tại thôn d,
Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông hiệu.
Buộc ông Trần Văn Q phải trả cho Phạm Thị B số tiền 140.000.000 đồng
(Một trăm bốn mươi triệu đồng).
Áp dụng Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật n sự tính lãi suất chậm
thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo quy định của pháp luật.
7
Về chi phí tố tụng: Buộc bị đơn ông Trần Văn Q phải trả choPhạm Thị B
số tiền chi phí tố tụng là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).
Về án phí:
Án phí sơ thm: Ông Trn n Q phải chu 7.300.000 đng (Bảy triu ba trăm
nghìn đng) tiền án phí dân s sơ thm.
Bà Phạm ThB đưc nhn li stin 7.300.000 đng (Bảy triu ba trăm ngn đng)
đã np tạm ng án phí theo biên lai thu tin tạm ng án phí, l phí Tòa án s 0001283 ngày
12/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Đắk Nông.
Án phí phúc thẩm: Buộc Đỗ Thị Phương T phải chịu 300.000đ án phí dân
sự phúc thẩm được trừ đi số tiền tạm ứng đã nộp tại biên lai số 0008866 ngày 23-10-
2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.
2. Đối với các quyết định khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND cấp cao tại Tp.HCM;
- VKSND tỉnh Đăk Nông;
- TAND huyện Tuy Đức;
- Chi cục THADS huyện T;
- Các đương sự;
- Lưu: TDS, THCTP, HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký và đóng dấu)
Nguyễn Thị Hải Âu
Tải về
Bản án số 44/2025/DS-PT Bản án số 44/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 44/2025/DS-PT Bản án số 44/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất