Bản án số 117/2025/DS-PT ngày 17/03/2025 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 117/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 117/2025/DS-PT ngày 17/03/2025 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 117/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/03/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 117/2025/DS-PT
Ngày: 17/3/2025
V/v “Tranh chấp về hợp đồng dân sự
chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy.
- Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tn Tng
Ông S Danh Đạt
- Thư ký phiên tòa: Phạm Thị Ngọc Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà:
Ông Bùi Văn Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 17/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc
thẩm công khai vụ án thụ số: 02/2025/TLPT-DS ngày 08 tháng 01 năm 2025,
về việc Tranh chấp v hợp đồng dân sự chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự thẩm số: 184/2024/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024
của Tòa án nhân dân huyện T bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 57/2025/QĐ-PT ngày
11 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1974.
Địa chỉ: Ấp 5, xã Đốc Binh K, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện theo ủy quyền: anh Lê Văn Lợi, sinh năm 1993;
Địa chỉ: Ấp 1, xã Thạnh Lợi, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (theo Hợp đồng ủy
quyền ngày 05/7/2024).
- Bị đơn:
1. Võ Văn N1, sinh năm 1973.
2. Lê Thị Kim L1, sinh năm 1973.
Cùng địa chỉ: Ấp 5, xã Đốc Binh K, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện theo ủy quyền: chị Phan Thị Thảo Q - sinh năm 1996;
Địa chỉ: Địa chỉ: Số 138/4 Lê Duẩn, phường Mỹ Phú, thành phố Cao Lãnh,
tnh Đồng Tháp (theo văn bản ủy quyền ngày 19/9/2024).
2
Người B5 vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông Văn N1 Thị
Kim L1: Luật M Công ty Luật TNHH MTV Tuyên Thụy Cộng sự, thuộc
Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vL1 quan:
1. Lê Văn L3, sinh năm 1932 (cha ruột ông Xiêm),
2. Lê Nguyễn Chí B5, sinh năm 1998 (con ruột ông Xiêm),
3. Lê Nguyễn Tiểu B5, sinh năm 2003 (con ruột ông Xiêm);
Cùng địa chỉ: Ấp 5, xã Đốc Binh K, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Người kháng cáo: Ông Văn N1, Thị Kim L1, các bị đơn của
vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Anh Văn Lợi người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn
Nguyễn Thị Thanh N trình bày:
Nguyên vào năm 2009, vợ chồng ông Văn N1, Thị Kim L1
kêu chồng N ông Minh Xiêm nhận chuyển nhượng phần diện tích
2.437m
2
thuộc thửa đất số 1559, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại Đốc Binh K, huyện
T, tỉnh Đồng Tháp với giá 250.000.000 đồng (hai trăm m mươi triệu đồng).
Hai bên đã lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đã thực hiện xong
nghĩa vụ với nhau, chồng N ông Minh Xiêm đã được đứng tên giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đến năm 2011, chồng N bị tai nạn chết nên toàn bộ diện tích đất (bao
gồm đất nông thôn đất trồng cây lâu năm) được chuyển qua cho N được
thừa kế đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đến ngày 11/7/2016, bà N yêu cầu đo đạc lại phần diện tích đất trên để
làm hàng rào thì N phát hiện diện tích đất bị thiếu so với Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất vợ chồng ông N1, L1 đã bán cho chồng N
vào năm 2009, cụ thể:
- Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ Th Năm được
UBND huyện T cấp năm 1995 thì cụ Năm ch 3.000m
2
, loại đất thổ (T) thuộc
thửa 1559, tờ bản đồ số 3, tại xã Đốc Binh K, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Đến năm 2004, cụ m làm thủ tục tách thửa 1559 thành 02 thửa là: Thửa
2381, diện tích 563m
2
thửa 1559, diện tích 2.437m
2
. Sau đó, cụ Năm đã bán
cho ông Xiêm thửa đất 2381 (nay là thửa 2652), diện tích 563m
2
; còn lại thửa
1559, diện tích 2.437m
2
thì đến năm 2007 cụ Năm tặng cho lại cho ông N1 thửa
đất này, tứ cận như sau: Phía Đông giáp Thị Thiêu ông Minh
Xiêm, phía Nam giáp Kênh Nguyễn Văn Tiếp, phía Tây giáp ông Nguyễn Văn
Đặng, phía Bắc giáp lộ xe 846.
Như vậy, cụ Năm không còn phần đất nào tại khu vực này nữa, đã bán
cho ông Xiêm và tặng cho ông N1.
3
Đến ngày 29/6/2009, vợ chồng ông N1 làm Hợp đồng chuyển nhượng hết
thửa đất 1559, diện tích 2.437m
2
cho ông Xiêm với giá 250.000.000 đồng ghi
trong hợp đồng. Do đó, ông N1 đã bán toàn bộ diện tích đất cụ Năm đã tặng
cho ông vào năm 2007 cho ông Xiêm nên việc ông N1 tự ý kê khai để được đứng
tên quyền sdụng đất thửa 2996, diện tích 1.353,5m
2
(khai nguồn gốc được mẹ
tặng cho) vào năm 2016 là không đúng (vì cụ Năm không còn đất).
Đến năm 2011, ông Xiêm làm thủ tục tách thửa 1559 thành 02 thửa là:
Thửa 1559, diện tích 349,9m
2
(đã bị thu hồi theo Quyết định số 89/QĐ-UBND
ngày 10/6/2010 của UBND huyện T) thửa 2653, diện tích 2.087,1m
2
. Tuy
nhiên, theo đo đạc thực tế ngày 03/01/2023 thì diện tích thửa 2653 chỉ còn
635,6m
2
, thiếu 1.451,5m
2
theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
29/6/2009.
Bà N đã nhiều lần yêu cầu vợ chồng ông N1 phải giao đủ diện tích đất theo
hợp đồng đã mua bán với chồng N vào năm 2009 nhưng vợ chồng ông N1
không đồng ý nên vào năm 2017 N khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện
T. Đến tháng 8 năm 2023, Tòa án đưa vụ án ra xét xử, tại phiên tòa Hội đồng xét
xử đã làm nội dung vụ án xác định vchồng ông N1 không còn chỗ nào
khác và trên đất nhiều ngôi mộ người thân của ông N1 nên việc thi hành án sẽ
rất khó khăn nếu chấp nhận yêu cầu khởi kiện của N. Do đó, N đã rút lại
toàn bộ yêu cầu khởi kiện để đề nghị tiến hành định giá phần đất tranh chấp theo
giá thị trường để N thay đổi yêu cầu khởi kiện buộc vợ chồng ông N1 phải
trả giá trị đối với phần đất đã giao thiếu theo hợp đồng chuyển nhượng với chồng
bà N vào năm 2009.
Theo đơn khởi kiện N yêu cầu Tòa án nhân dân huyện T xem xét giải
quyết:
Buộc vợ chồng ông Văn N1, Thị Kim L1 nghĩa vụ trả lại cho
bà N giá trị phần diện tích 1.451,5m
2
đã giao thiếu theo hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 29/6/2009 với số tiền 1.451,5m
2
x 1.810.000 đồng/m
2
= 2.627.215.000 đồng, làm tròn 2.627.000.000 đồng (hai tỷ sáu trăm hai mươi
bảy triệu đồng).
Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm ngày 30/8/2024, anh Lợi là người đại diện
theo ủy quyền của nguyên đơn Nguyễn Thị Thanh N xác định lại giá trị phần đất
tranh chấp theo thị trường hiện nay giá 1.200.000 đồng/m
2
xin thay đổi
yêu cầu khởi kiện như sau:
Anh Lợi yêu cầu Tòa án huyện T giải quyết buộc vợ chồng ông Văn
N1, Thị Kim L1 nghĩa vụ trả cho Nguyễn Thị Thanh N gtrị phần
diện tích 1.451,5m
2
đã giao thiếu theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng
đất ngày 29/6/2009 với số tiền 1.451,5m
2
x 1.200.000đ/m
2
= 1.741.800.000
đồng.
Ngoài ra, bà N không còn yêu cầu hay tranh chấp gì khác.
* Bị đơn Võ Văn N1 trình bày:
4
Ông không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của N. năm 2009, vợ
chồng ông chuyển nhượng đất cho chồng N ông Minh Xiêm, các bên
đã thực hiện xong quyền và nghĩa vụ với nhau, cụ thể là ông đã nhận đủ tiền
30.000.000 đồng (việc giao nhận tiền không có làm giấy tờ gì) đã giao đất cho
ông Xiêm sử dụng từ năm 2009 đến nay, làm hợp đồng chuyển nhượng ngày
29/6/2009 (do ông Xiêm soạn hợp đồng) ông Xiêm đã được đứng giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. Việc mua bán không nói diện tích bao nhiêu, chỉ
nói bán từ ranh giáp với đất của mẹ ông cụ Thị Năm (đã bán cho ông
Xiêm m 2004) đến hàng dừa. Khi giao đất cấm trụ đá bàn giao trên thực tế
nhđịa chính xã ông Hải đo đạc và chứng kiến, lúc còn sống thì ông Xiêm
không bất cứ tranh chấp với ông. Nay, ông Xiêm chết không hiểu sao
N lại tranh chấp với ông, trong khi việc chuyển nhượng đất giữa ông với ông
Xiêm thì bà N hoàn toàn không biết gì.
Việc ông Xiêm được đứng tên diện tích 2.437m
2
thuộc thửa 1559 do
ông Xiêm kêu địa chính đo tới giữa sông cho đủ diện tích trong giấy chứng
nhận của ông N1 để dễ làm thủ tục sang tên, không phải làm thủ tục tách thửa lu
bu ông Xiêm kêu ông N1 đi khai phần đất còn lại để được cấp bằng khoán
mới, lúc đó có ông Hải địa chính xã chứng kiến nên ông N1 mới đồng ý làm theo.
Chứ thực tế vợ chồng ông N1 không bán toàn bộ diện tích đất 2.437m
2
thuộc
thửa 1559 như bà N trình bày.
Về giá ghi trong Hợp đồng chuyển nhượng ngày 29/6/2009 250.000.000
đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng) do ông Xiêm tghi, chứ thực tế giá mua
bán chỉ 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng), khi xác lập hợp đồng do vợ
chồng ông tin tưởng ông Xiêm nên cũng không có đọc lại nội dung ca hợp đồng.
Ông N1 thừa nhận nguồn gốc đất tranh chấp tmẹ ông là cụ Thị
Năm được UBND huyện T cấp năm 1995, diện tích 3.000m
2
, loại đất thổ (T)
thuộc thửa 1559, tờ bản đồ số 3, tại Đốc Binh K, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Đến năm 2004, cụ Năm làm thủ tục tách thửa 1559 thành 02 thửa là: Thửa 2381,
diện tích 563m
2
và thửa 1559, diện tích 2.437m
2
. Sau đó, cụ Năm đã bán cho ông
Xiêm thửa đất 2381 (nay là thửa 2652), diện tích 563m
2
; còn lại thửa 1559, diện
tích 2.437m
2
thì đến năm 2007 cụ Năm tặng cho lại cho ông N1 thửa đất này, có
tứ cận như sau: Phía Đông giáp Thị Thiêu, Văn Xiêm; phía Nam giáp
Kênh Nguyễn Văn Tiếp; phía Tây giáp ông Nguyễn Văn Đặng; phía Bắc giáp lộ
xe 846. Như vậy, cụ Năm không còn phần đất nào tại khu vực này nữa, vì đã n
cho ông Xiêm và tặng cho ông N1. Ngoài ra, cụ Năm không còn thửa đất thổ nào
khác.
Việc ông làm thủ tục khai đăng đđược cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất lần đầu đối với thửa 2996 theo yêu cầu của ông Xiêm hướng
dẫn của cán bộ địa chính Đốc Binh K, trên mặt giấy tông Xiêm đã đứng
tên hết diện tích thửa đất 1559, nhưng thực tế ông Xiêm chỉ sử dụng có một phần.
Khi làm thủ tục cấp giấy thì quan nhà nước thông báo cho N biết nhưng
bà N không có tranh chấp gì.
5
Về giá phần đất tranh chấp thì ông N1 thống nhất theo giá thị trường hiện
nay 1.200.000 đồng/m
2
ông N1 đề nghị Tòa án áp dụng giá này để giải
quyết vụ án, không yêu cầu định giá lại.
* Anh Võ Văn Đạt là người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị Kim L1
trình bày:
Anh Đạt thống nhất với lời trình bày của ông N1. Anh Đạt không đồng ý
theo yêu cầu khởi kiện của bà N, ngoài ra anh không có tranh chấp hay yêu cầu gì
khác.
Về giá phần đất tranh chấp thì anh cũng thống nhất theo gthị trường hiện
nay 1.200.000 đồng/1m
2
và anh đề nghị Tòa án sdụng giá này đgiải quyết
vụ án, không yêu cầu định giá lại.
Ti quyết định của bản án thẩm s 184/2024/DS-ST ngày 30 tháng 8
năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện T đã tuyên x:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Thanh
N.
Buộc vợ chồng ông Văn N1 và Thị Kim L1 phải tiếp tục thực
hiện theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 29/6/2009
nghĩa vụ trả cho Nguyễn Thị Thanh N gtrị phần diện tích 1.451,5m
2
đã giao
thiếu theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất ngày 29/6/2009 với s
tiền 1.451,5m
2
x 1.200.000 đồng/m
2
= 1.741.800.000 đồng (một tỷ bảy trăm
bốn mươi mốt triệu tám trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong
tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi
của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468
của Bộ luật Dân sự.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Văn N1 bà Thị Kim L1 phải chịu 64.254.000 đồng (sáu
mươi bốn triệu hai trămm mươi bốn nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyễn Thị Thanh N không phải chịu án phí dân sự thẩm; Hoàn trả
lại cho chị Nguyễn Thị Thanh N stiền 42.270.000 đồng (bốn mươi hai triệu hai
trăm bảy mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên
lai thu số 0005358 ngày 27 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự
huyện T.
4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và thẩm định giá phía
nguyên đơn tự nguyện chịu, đã nộp và chi xong.
Ngoài ra, bản án thẩm n tuyên quyền thời hạn kháng cáo của
các đương sự.
6
Sau khi xét xử thẩm, ngày 05/9/2024, ông Văn N1, Thị Kim
L1 kháng cáo bản án thẩm, yêu cầu xem xét sửa bản án thẩm không chấp
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh N.
Tại phiên tòa phúc thẩm;
+ Ông Văn N1, Thị Kim L1 vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng
cáo.
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến: Xét
kháng cáo của ông N1, L1 không có căn cứ; đề nghị Hội đồng xét xử không
chấp nhận kháng cáo của ông N1, bà L1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa phúc thẩm; trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu chứng cứ
và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm; sau khi nghe ý kiến của các đương
sự và quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét kháng cáo của ông Võ Văn N1, bà Lê Thị Kim L1, Hội đồng xét xử
xét thấy:
Căn cứ các tài liệu trong hồ vụ án lời trình bày thống nhất của các
bên đương sự thì nguồn gốc phần đất tranh chấp trước đây là của cụ Thị Năm
(mẹ của ông N1) được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
năm 1995 diện tích 3.000m
2
, loại đất thổ (T) thuộc thửa 1559, tờ bản đồ số 3,
nhưng việc cấp đất không đo đạc thực tế. Đến năm 2004, cụ Năm làm thủ tục
tách thửa 1559 thành 02 thửa là: Thửa 2381, diện tích 563m
2
thửa 1559, diện
tích 2.437m
2
. Sau đó, cụ Năm chuyển nhượng cho ông Xiêm (chồng N -
nguyên đơn) thửa đất 2381 (diện tích 563m
2
nay thửa 2652); còn lại thửa
1559, diện tích là 2.437m
2
tđến năm 2007 cụ Năm đã tặng cho lại cho ông N1;
thửa đất tứ cận như sau: Phía Đông giáp bà Thị Thiêu, Minh Xiêm;
phía Tây giáp ông Nguyễn Văn Đặng; phía Nam giáp Kênh Nguyễn Văn Tiếp;
phía Bắc giáp Lộ xe 846.
Như vậy, cụ Năm không còn diện tích đất nào tại khu vực này nữa, đã
chuyển nhượng cho ông Xiêm và tặng cho ông N1.
Đến ngày 29/6/2009, vợ chồng ông N1 chuyển nhượng toàn bộ thửa đất
1559, diện tích 2.437m
2
cho ông Xiêm với giá 250.000.000 đồng; các nội dung
này được thể hiện trong hợp đồng chuyển nhượng; hợp đồng chuyển nhượng
cũng được chứng thực tại UBND Đốc Binh K. Sau đó, ông Xiêm được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 1559, diện tích 2.437m
2
.
Năm 2011, ông Xiêm bị tại nạn giao thông chết, thì các thửa đất này (thửa 2381
thửa 1559) do N được hưởng thừa kế, tuy nhiên khi kiểm tra lại diện tích
đất thì N phát hiện đất bị thiếu so với diện tích đất đã nhận chuyển nhượng
như trên, nên bà N bắt đầu tranh chấp cho đến nay.
7
Theo đo đạc thực tế ngày 03/01/2023 thì diện tích thửa 2653 (trước đây
1559) chỉ còn 635,6m
2
cộng với phần diện tích bị thu hồi là 349,9m
2
thì còn thiếu
1.451,5m
2
so với diện tích đất chuyển nhượng theo Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 29/6/2009 giữa ông Xiêm với vợ chồng ông N1.
Đối với việc ông N1 trình bày cho rằng ông chỉ chuyển nhượng cho ông
Xiêm diện tích 985,5m
2
(gồm 635,6m
2
hiện bà N đang quản lý, sử dụng
349,9m
2
diện tích đất bị thu hồi) nhưng ông Xiêm được đứng tên diện tích
2.437m
2
(toàn bộ thửa 1559) do ông Xiêm yêu cầu địa chính đo đạc đến vị
trí giữa con sông cho đủ diện tích theo trong giấy chứng nhận của ông N1 được
cấp để dễ dàng trong việc làm thủ tục chuyển nhượng, sang tên, không phải làm
thủ tục tách thửa lu bu… Xét thấy lời trình bày này của ông N1 hoàn toàn
không sở không phù hợp với thực tế, khi làm thủ tục chuyển nhượng
cho ông Xiêm thì không đo đạc thực tế, thể hiện bằng biên bản, văn bản ghi
diện tích thực tế bao nhiêu, kích thước ngang dài bao nhiêu. n đối với vic N1
trình bày rng khi giao đất chuyển nhượng cho ông Xiêm thì có ông Hải cán bộ
địa chính xã xuống đo đạc và cấm trụ đá m ranh, nhưng ông N1 cũng không
chứng cứ để chứng minh vic này.
Đối với lời trình bày của ông N1, cho rằng năm 2009, ông chuyển nhượng
cho ông Xiêm thửa đất 1559 với giá chỉ 30.000.000 đồng, nhưng ông N1
không chứng cứ để chứng minh. Mặt khác, lời trình bày này của ông N1
hoàn toàn không phù hợp với thực tế, theo lẽ thông thường thì các bên thống
nhất ghi giá chuyển nhượng trong hợp đồng bằng hoặc thấp hơn giá chuyển
nhượng thực tế (nhằm giảm bớt số tiền thuế), trong khi giá chuyển nhượng được
ghi trong hợp đồng giữa hai bên 250.000.000 đồng thì không việc giá
chuyển nhượng thực tế chỉ 30.000.000 đồng như ông N1 trình bày. Điều này
cho thấy, việc ông N1 khai gchuyển nhượng chỉ 30.000.000 đồng cho phù
hợp với diện tích đất đã giao cho phía vợ chồng ông Xiêm.
Như vậy,đủ cơ sở xác định vợ chồng ông N1 đã chuyển nhượng toàn bộ
diện tích đất của thửa 1559 cho ông Xiêm, là 2.437m
2
, nhưng trên thực tế ch
giao diện tích đất 985,5m
2
(gm 635,6m
2
hin N đang quản lý, sử dụng
349,9m
2
diện tích đất bị thu hồi) còn thiếu diện tích 1.451,5m
2
. n lời trình bày
yêu cầu khởi kiện của N hoàn toàn phù hợp và căn cứ. Đồng thời nay
N cũng chỉ yêu cầu phía vợ chồng ông N1, L1 phải bồi hoàn li cho
bng giá trị đất trên diện tích 1.451,5m
2
vi giá hai n đương sự đã thống
nhất 1.200.000đ/m
2
, thp hơn giá công ty thẩm định giá đã định cũng phù
hợp là đã li cho phía vợ chồng ông N1, L1. vậy, vic Tòa án cấp
thẩm đã xét xchấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của N, buộc vợ chồng
ông N1, L1 phải tiếp tục thực hiện theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất ngày 29/6/2009, theo đó, ông N1, L1 có nghĩa vụ trả cho N giá trị
phần diện tích 1.451,5m
2
đã giao thiếu theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất ngày 29/6/2009 với số tiền 1.451,5m
2
x 1.200.000đ/m
2
=
1.741.800.000 đồngcó căn cứ và phù hợp.
8
Đối với thửa đất s 2996, diện tích 1.353,5m
2
ông N1 đăng ký được
cp mi o năm 2016, thì căn cứ vị tthửa đất li thừa nhận của ông N1,
thừa nhận rằng phần diện tích đất này trước đây nằm trong thửa đất 1559 cụ
Năm trước đây đã tặng cho ông, n căn cứ xác định đây phần diện tích đất
còn lại của thửa 1559 ông N1 chưa giao cho phía ông Xiêm theo hợp đồng
chuyển nhượng năm 2009 diện tích 1.353,5m
2
diện tích hiện trạng thực tế,
đồng thời do thủ tục chuyển nhượng gia vợ chồng ông N1 vi ông Xiêm cũng
không đo đạc thực tế, không xác định kích thước, ranh giới cụ thể, n phía
ông N1 mi thực hiện được vic đăng cp mi quyền sử dụng đối với diện
tích đất còn lại này, thửa s 2996. Tuy nhiên, nay phía N ch yêu cầu phía
ông N1, L1 phải tiếp tục hợp đồng chuyển nhượng bng vic tr giá trị đất,
n Tòa án cấp thẩm không xem xét vic kê khai cp quyền sử dụng cũng như
xem xét tính hợp pháp của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 2996
này, cũng là phù hợp.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Văn N1, Thị Kim L1 cũng
không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh cho yêu cầu
kháng cáo của mình căn cứ, nên Hội đồng xét xkhông chấp nhận yêu cầu
kháng cáo của ông N1, bà L1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] t lời trình bày của người B5 vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông
N1, L1, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét li giá đất cho phù hợp; yêu cầu
thẩm định li phần đất tranh chấp đề nghị áp dụng thời hiệu đối với yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử xét thấy:
Tòa án cấp thẩm khi xét xử đã áp dụng giá đất hai n nguyên, bị
đơn đã thống nhất 1.200.000đ/m
2
, thp hơn gcông ty thẩm định giá đã định
phù hợp và cũng đã li cho phía bị đơn, nên đề nghị về việc xem xét li giá
đất của người B5 vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là chưa phù hợp.
Khi giải quyết vụ án, Tòa án cấp thẩm đã tiến hành vic xem xét, thẩm
định tại chỗ theo đúng thủ tục luật định; khi thẩm định, hai n đương sự đều
thống nhất đồng ý vi diện tích, mốc gii phần đất tranh chấp đồng ý vi
sơ đồ đo đạc của cơ quan đo đạc thực hiện, nên vic người B5 vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của bị đơn đề nghị đo đạc, thẩm định li phần đất tranh chấp không
có căn cứ, vì không cần thiết.
Tranh chấp L1 quan đến quyền sử dụng đất thì không áp dụng thời hiệu
khởi kiện, n đề nghị của người B5 vquyền lợi ích hợp pháp của bị đơn về
việc yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện không có cơ sở để chấp nhận.
[4] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát
biểu về việc tuân thủ pháp luật tkhi thụ vụ án tại phiên tòa, Thẩm phán,
Hội đồng xét xcác đương sự đều thực hiện đúng quy định của pháp luật
không kiến nghị. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Đồng Tháp đề xuất hướng giải quyết không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của
Ông Võ Văn N1, bà Lê Thị Kim L1, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân
dân huyện T. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị trên căn cứ, phù hợp với
nhận định của Hi đồng xét xử, nên chấp nhận.
9
[5] Về án phí phúc thẩm: Do bản án thẩm được giữ nguyên nên ông N1,
L1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[6] Các phần khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015; các Điều 500, 501, 502, 503 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166 Luật
Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Võ Văn N1, bà Lê Thị Kim L1.
- Giữ nguyên Bản án dân sthẩm số 184/2024/DS-ST ngày 30 tháng 8
năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện T.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh N.
2. Buộc vợ chồng ông Văn N1 Thị Kim L1 phải tiếp tục thực
hiện theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 29/6/2009
nghĩa vụ trả cho Nguyễn Thị Thanh N giá trị phần diện tích 1.451,5m
2
đã giao
thiếu theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất ngày 29/6/2009 với s
tiền 1.451,5m
2
x 1.200.000đ/m
2
= 1.741.800.000 đồng (Một tỷ bảy trăm bốn
mươi mốt triệu tám trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong
tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi
của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468
của Bộ luật Dân sự.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
+ Ông n N1 Thị Kim L1 phải chịu 64.254.000 đồng (sáu
ơi bốn triệu hai tm năm mươi bốn nghìn đồng) tiền án pdân sự sơ thẩm.
+ Nguyễn Thị Thanh N không phải chịu án phí dân sự thẩm; Hoàn
trả lại cho chị Nguyễn Thị Thanh N số tiền 42.270.000 đồng (bốn ơi hai triệu
hai trăm bảy mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự thẩm đã nộp theo
Biên lai thu số 0005358 ngày 27 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân
sự huyện T.
10
4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc thẩm định giá phía
nguyên đơn tự nguyện chịu (đã nộp và chi xong).
5. Về án phí dân sphúc thẩm: Ông Văn N1, Thị Kim L1 mỗi
người phải chịu 300.000 đồng tiền án phí phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào số
tiền tạm ứng án phí mỗi người 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số
0011077, số 0011076 cùng ngày 05/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện
T. Ông N1, bà L1 đã nộp xong án phí phúc thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7,7a,7b 9
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Phòng KTNV & THA Tỉnh;
- VKSND Tỉnh;
- TAND huyện T;
- Chi cục THADS huyện T;
- Đương sự;
- L3: VT, HSVA, TDS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy
Tải về
Bản án số 117/2025/DS-PT Bản án số 117/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 117/2025/DS-PT Bản án số 117/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất