Bản án số 645/2026/DS-PT ngày 25/06/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 645/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 645/2026/DS-PT ngày 25/06/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 645/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: 645/2026/DS-PT HUỲNH THIỆN N-PHẠM NGỌC N2
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 645/2026/DS-PT Bản án số 645/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 645/2026/DS-PT Bản án số 645/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ CẦN THƠ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 645/2026/DS-PT
Ngày: 25-6-2026
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Phương Thanh
Các thẩm phán: Ông Võ Bảo Anh
Ông Nguyễn Vĩnh Khương
- Thư phiên tòa: Phạm Thị Thúy Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Ông Trương
Minh Diền - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 25 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ
xét xử công khai vụ án thụ số 638/2026/TLPT-DS ngày 28 tháng 4 năm 2026
về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 138/2025/DS-ST ngày 26 tháng 11 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 741/2026/QĐ-PT ngày
13 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Thiện N, sinh năm 1972 (đã chết). Địa chỉ: ấp
P, xã P, thành phố Cần Thơ.
Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng: Phạm Thị N1, sinh năm
1973 (vợ) Huỳnh Thiện Hữu T, sinh năm 1998 (con), Huỳnh Thị Hiếu G,
sinh năm 2012 (con); Cùng địa chỉ: ấp P, xã P, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp của Huỳnh Thiện Hữu T, Huỳnh Thị Hiếu G: Bà
Phạm Thị N1, sinh năm 1973 (có mặt)
- Bị đơn: Ông Phạm Ngọc N2, sinh năm 1971. Địa chỉ: ấp P, P, thành
phố Cần Thơ (có mặt)
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Hoàng D, sinh năm
1973; Địa chỉ: ấp P, xã P, thành phố Cần Thơ (có mặt)
2
4. Người làm chứng: Ông Phạm Thanh H, sinh năm 1957. Địa chỉ: ấp P,
xã P, thành phố Cần Thơ (vắng mặt)
- Người kháng cáo: Ông Phạm Ngọc N2 là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn ông Huỳnh Thiện N trình bày nội dung yêu cầu khởi
kiện như sau: Nguồn gốc đất tranh chấp do ông nhận chuyển nhượng từ ông
Phạm Văn H1 vào năm 2009. Khi nhận chuyển nhượng đất không đo đạc
thực tế mà chỉ căn cứ vào giấy chứng nhận của ông H1 được cấp và sau này mới
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 444, tờ bản đồ số 05 với diện
tích 1.511m
2
loại đất trồng cây lâu năm. Diện tích đất giáp ranh với ông Phạm
Ngọc N2 không xác định các mốc ranh giới (trụ, công trình, hàng rào..) đến
năm 2014 thì ông mới phát hiện phần đất đã bị lấn không đúng với diện tích đất
đã được cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay những người kế
thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn ông Huỳnh Thiện N yêu cầu ông Phạm
Ngọc N2 phải trả lại diện tích đất đã lấn đúng theo giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đã được cấp diện tích 1511m
2
. Nhưng qua kết quả đo thực tế của mảnh
trích đo địa chính số 24 do Công ty cổ phần Đ bản đồ và thiết kế xây dựng C lập
ngày 02/7/2024 thống nhất với kết quả đo đạc và không có ý kiến gì thêm.
*Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông N, bị đơn ông Phạm Ngọc
N2 ý kiến như sau: Nguồn gốc đất hiện đang tranh chấp do cha ruột ông
Phạm Văn Ú tặng cho ông toàn bộ diện tích đất gồm các thửa
445+432+1257+458+470, tờ bản đồ số 5 đất tọa lạc ấp Phương Quới C, P,
thành phố Cần Thơ nhưng không tiến hành đo đạc thực tế chỉ chỉnh trang
3 trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong đó, một phần diện tích đất
thuộc thửa 445, tờ bản đồ số 5 với diện tích đất được quan thẩm quyền
công nhận 1.714,0m
2
giáp với đất của nguyên đơn ông Huỳnh Thiện N tức
chồng của Phạm Thị N1. Phần ranh giới giữa các bên được xác định một
con mương. Theo ông biết thì về nguồn gốc đất của ông Huỳnh Thiện N nhận
chuyển nhượng từ ông H1, không có đo đạc nhưng chỉ có tiến hành cặm trụ ranh
với nhau, phần trụ giáp với sông bị sạt lỡ chỉ còn ranh phía trong là trụ đá và bụi
đủng đỉnh. Đối với diện tích đất ông được cho và sử dụng ổn định tới nay không
chuyển nhượng hay cầm cố cho ai và không có khiếu nại trình tự, thủ tục giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Các thửa đất 1257, 432, 445 được cho năm
2017, trên phần đất này một căn nhà cấp bốn nằm gần ranh đất với ông N.
Theo kết quả đo đạc thực tế thì ông thống nhất. Riêng diện tích đất ông Phạm
Hoàng D em ruột ông đang trực tiếp quản lý, sử dụng cũng được ông Phạm
Văn Ú tặng cho thuộc thửa 445, tờ bản đồ số 5 nhưng không văn bản tài liệu
chứng minh. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông N tông không thống nhất
yêu cầu giải quyết đúng theo diện ch giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được
cấp cho các bên.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Phạm Hoàng D trình bày:
Nguồn gốc đất ông đang quản sdụng giáp với ranh đất của anh ruột ông
3
Phạm Ngọc N2 được t việc ông Phạm Văn Ú cha ruột cho cách nay
khoảng 20 năm nhưng không giấy tờ đến nay chưa được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất được xác định thuộc thửa 445, tờ bản đồ số 5. Đối với
nội dung tranh chấp trong vụ án này ông không có yêu cầu.
* Vụ việc hòa giải không thành nên được đưa ra xét xử thẩm công
khai. Tại bản án dân sự sơ thẩm số 138/2025/DS-ST ngày 26 tháng 11 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ xét xử và quyết định như sau:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Huỳnh Thiện N (người
kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng gồm Phạm Thị N1, Huỳnh Thiện Hữu T,
Huỳnh Thị Hiếu G).
1.1. Buộc b đơn ông Phạm Ngọc N2 trả diện tích đất tranh chấp cho
nguyên đơn Phạm Thị N1, Huỳnh Thiện Hữu T, Huỳnh Thị Hiếu G diện tích
433,8m
2
thuộc thửa số 444, tờ bản đồ số 5. Vị tsố II mảnh trích đo địa chính
số 24 do Công ty cổ phần Đ bản đồ và thiết kế xây dựng C lập ngày 02/7/2024
và phụ lục kèm theo.
1.2. Công nhận cho nguyên đơn diện tích đất 433,8m
2
thuộc thửa số 444,
tờ bản đồ số 5. Vị trí số II mảnh trích đo địa chính số 24 do Công ty cổ phần Đ
bản đồ và thiết kế xây dựng C lập ngày 02/7/2024 và phụ lục kèm theo (Đính
kèm mảnh đo địa chính).
2. Buộc bị đơn ông Phạm Ngọc N2 nghĩa vụ di dời toàn bộ cây trồng,
vật kiến trúc trên đất (01 cái Miếu thờ, một phần chuồng nuôi heo) vị trí số II
mảnh trích đo địa chính số 24 do Công ty cổ phần Đ bản đồ và thiết kế xây dựng
C lập ngày 02/7/2024 và phụ lục kèm theo.
3. Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí dân sự, chi phí thẩm định quyền
kháng cáo của các đương sự.
* Ngày 04 tháng 12 năm 2025, bị đơn ông Phạm Ngọc N2 kháng cáo yêu
cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện không đồng ý kháng
cáo của bị đơn.
- Bị đơn vẫn giữ nguyên kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa phúc thẩm:
+ Về tố tụng: Người tham gia tố tụng người tiến hành tố tụng đã thực
hiện đúng quy định của Bộ luật tố Tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
+ Về nội dung: Qua tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm xem xét các
chứng cứ trong hồ sơ, thấy rằng, cấp thẩm xét xử đúng quy định nên đề
nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông N là anh
4
Hữu T, cháu Hiếu G vắng mặt nhưng N1 đại diện nên tiến hành xét xử
vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn ông Phạm Ngọc N2:
[2.1] Qua diễn biến tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm xem xét các
chứng cứ trong hồ sơ, thấy rằng, phần diện tích bên nguyên đơn được cấp tại
thửa 444, tờ bản đồ số 5 có diện tích 1.511,0m
2
, thực tế chỉ 864,2m
2
so với Giấy
chứng nhận được cấp bị thiếu 646,8m
2
(chưa tính phần tranh chấp), nếu tính
phần tranh chấp thì vẫn thiếu 213m
2
. Phần đất bị đơn ông N2 đang quản nằm
trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp là 1714,0m
2
, thửa 445 tờ bản
đồ số 5 giáp với diện tích đất đang tranh chấp của nguyên đơn, diện tích đất sử
dụng thực tế 2.084,7m
2
thừa so với giấy được cấp 307,7m
2
(chưa tính phần
tranh chấp 443,8m
2
). Tuy nhiên, việc xác định ranh giới đất không chỉ dựa
vào việc thiếu hay thừa đất cần xác định qua nhiều chứng cứ khác như sự
theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền hoặc theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại 30 năm trở lên. Xét,
nguồn gốc đất của nguyên đơn nhận chuyển nhượng t ông H1, khi chuyển
nhượng không chỉ ranh giới giao đất căn cứ vào giấy để chuyển nhượng,
sau đó nguyên đơn làm thủ tục cấp giấy chứng nhận mới theo như hồ cấp
giấy chứng nhận quyền s dụng đất của ông Huỳnh Thiện Nguyên D1 Chi
nhánh Văn phòng đất đai huyện P (cũ) cung cấp theo văn bản số
135/CN.VPĐKĐĐ ngày 07/3/2025 thể hiện họa mốc giới thửa đất 444 của
nguyên đơn thì phần đất thửa 445 của ông Phạm Văn Ú (cha ruột Phạm Ngọc
N2) đã tên giáp ranh với phần đất của nguyên đơn ông N, theo họa mốc
giới thửa đất của ông N ngày 17/6/2009 thì diện tích các cạnh cụ thể như sau:
cạnh chiều ngang 30,2m (giáp Kênh rạch cũ) , 25,2m+29,9m (cạnh giáp thửa
431 của nguyên đơn, cạnh 25,2m (giáp thửa 458 của bị đơn), cạnh 36,2m+17,9m
(cạnh giáp thửa 1257 445)). Nay đối chiếu với trích đo hiện tại thì đối với
phần cạnh chiều ngang 30,2m (đoạn giáp Kênh rạch cũ) của nguyên đơn mất rất
nhiều, hiện chỉ còn 17,46m, phần tranh chấp 9,94m không đảm bảo diện tích
cho nguyên đơn.
[2.2] Bên cạnh đó, theo như giấy đất nguyên đơn được cấp thì thửa 444
giáp thửa 432 của bị đơn (đoạn đầu trên cạnh 17,9m) thửa 445 (đoạn đầu
dưới cạnh 36,2m), thửa 432 của bị đơn trong giấy lại giáp thửa 1257 vẫn của
bị đơn rồi mới tới thửa 444 của nguyên đơn, là phù hợp với trích đo thực tế. Nay
phần tranh chấp bị đơn cho rằng nằm trong thửa 445 không đúng với hình thể
của hai giấy hai bên được cấp phần tranh chấp thực tế giáp thửa 1257 của bị
đơn và 444 của nguyên đơn, thửa 445 giáp sau lưng thửa 1257 giáp bên hông
thửa 444 từ đoạn giữa đi xuống tính từ Kênh rạch nên không căn cứ xác
đinh phần tranh chấp thuộc thửa 445 của bị đơn thuộc thửa 444 của nguyên
đơn. Do đó, kháng cáo của bị đơn là không có căn cứ chấp nhận.
[3] Với những nhận định trên nên đề nghị của đại diện Viện kiểm sát
phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, đúng quy định pháp luật. Cấp sơ
5
thẩm đánh giá chứng cứ và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng
nên giữ nguyên.
[4] Về chi phí tố tụng: giữ nguyên như án sơ thẩm
[4] Về phần án phí:
[4.1] Sơ thẩm: giữ nguyên như án sơ thẩm
[4.2] Phúc thẩm: bị đơn ông N2 phải chịu do kháng cáo không được chấp
nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: - Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
* Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Ngọc N2.
- Giữ nguyên Bản án dân sthẩm số 138/2025/DS-ST ngày 26 tháng
11 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ.
- Về án phí phúc thẩm: Bị đơn ông Phạm Ngọc N2 phải chịu 300.000đ.
Được trừ vào tiền tạm ứng án pđã nộp theo Biên lai thu số 0011450 ngày
04/12/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Nơi nhận: THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Các đương sự;
- VKSND TPCT;
- TAND khu vực 13 – Cần Thơ;
- Phòng THADS khu vực 13 – Cần Thơ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Hà Thị Phương Thanh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 645/2026/DS-PT Bản án số 645/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 645/2026/DS-PT Bản án số 645/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất