Bản án số 52/2025/DS-ST ngày 13/02/2025 của TAND huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 52/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 52/2025/DS-ST ngày 13/02/2025 của TAND huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Trần Văn Thời (TAND tỉnh Cà Mau)
Số hiệu: 52/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/02/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 52/2025/DS-ST
Ngày 13-02-2025
V/v "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thành Quang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Duyên Văn Hiền
2. Ông Nguyễn Việt Thắng
- Thư phiên tòa: Nguyễn Cẩm Hường Thư viên, Toà án nhân dân
huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Mau tham
gia phiên tòa: Ông Đặng Đàm Hoàng Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời,
tỉnh Mau xét xử thẩm công khai vụ án thụ số: 639/2024/TLST-DS ngày 08
tháng 7 năm 2024 về việc "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số: 547/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 12 năm 2024, giữa các đương
sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phan Thị Hồng T, sinh năm 1995, địa chỉ trú: Số D -
N, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp theo uỷ quyền:
Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1985 (Có mặt), địa chỉ trú: ấp B, H,
thành phố C, tỉnh Cà Mau.
2. Bị đơn:
Lê Thị Bích V, sinh năm 1963 (Có mặt).
Anh Lê Tấn Thuận A, sinh năm 1994 (Có mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: Số A, tổ D, Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Phan Thị Hồng T (Uỷ quyền cho anh N) trình bày:
2
Giữa chị Phan Thị Hồng T với anh Lê Tấn Thuận A quen biết. Anh A hỏi
vay của chị T số tiền 484.000.000 đồng. Khi vay lập hợp đồng vay ngày
14/4/2023, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất 1,5%/tháng, thời điểm thanh toán ngày
30 hàng tháng số tiền 7.200.000 đồng. Chị T giao đủ tiền cho anh A, nhưng sau đó
anh A không đóng lãi, cũng như trả tiền gốc cho chị T đến nay. Chị T nhiều lần liên
hệ yêu cầu anh A trả nợ, nhưng anh A không trả. Sau đó, anh A hứa hẹn sẽ trả số tiền
nêu trên cho chị T, anh A làm cam kết sẽ trả đủ số nợ này, đồng thời mẹ của anh
A bà Thị Bích V đứng ra bảo lãnh sẽ trả đủ số nợ nêu trên thay cho anh A.
Từ khi viết giấy cam kết cho đến nay anh A V không trả nợ cho chị T như đã
cam kết. Chị T nhiều lần liên hệ để yêu cầu anh A và V thanh toán số nợ này,
nhưng vẫn cố tình lẫn trốn không chịu thực hiện. Nay, chị T yêu cầu anh A
V phải trả n cho chị T như sau: Tiền gốc 484.000.000 đồng. Tiền lãi từ ngày
14/4/2023 đến ngày 24/6/2024 = 14 tháng 10 ngày x 1,5%/tháng x 484.000.000
đồng = 104.060.000 đồng. Tổng cộng 588.060.000 đồng.
Bị đơn anh Lê Tấn Thuận A trình bày:
Từ ngày 29/11/2021 đến ngày 19/6/2022, bị đơn (A) vay của chị T số tiền
387.500.000 đồng, đóng lãi cho chị T 10%/tháng. Nhận tiền đóng lãi bằng hình
thức chuyển khoản. Bị đơn (A) đóng lãi cho T từ ngày 27/12/2021 đến ngày
19/4/2023 tổng số tiền 210.050.000 đồng (có chứng từ sao kê). Ngày 14/4/2023 do
chậm đóng lãi, chị T cộng tiền gốc 387.500.000 đồng với tiền lãi chưa đóng, thành
484.000.000 đồng. Chị T ghi giấy nợ và ép bị đơn (A) ký giấy nhận nợ tại phường V,
TP R, tỉnh Kiên Giang, để cho bị đơn (A) tiếp tục làm việc tại Cửa hàng H. Đến ngày
18/5/2023 chị T tiếp tục yêu cầu bị đơn (A) đóng lãi trên số tiền 484.000.000 đồng,
nhưng bị đơn (A) không còn khả năng đóng, chị T thuê thành phần “xã hội đen” đến
nhà cha mẹ bị đơn (A) thuộc Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Mau, ép cha mẹ
bị đơn (A) giấy nợ với số tiền 700.000.000 đồng (có hình ảnh kèm theo), nhưng
cha mẹ không ký, lúc này bị đơn (A) không ở nhà. Thời gian sau chị T gọi bị đơn
(A), chT lời lẽ hâm doạ buộc bị đơn (A) trả số tiền 484.000.000 đồng. Đến ngày
15/9/2023 cha bị đơn (A) chết nhà tang sự, đến ngày 19/9/2023 sau khi chôn
cất xong, chị T tiếp đến nhà cùng nhiều đối ợng khác, chỉ chị T vào nhà ép bị
đơn (A) ký giấy cam kết trả nợ. Thực tế bị đơn (A) vay chị T 387.500.000 đồng,
khoản nợ này nợ riêng của bị đơn (A), không liên quan đến V, nhưng chị T
khởi kiện yêu cầu V cùng trả nợ là không đúng. Bị đơn (A) yêu cầu điều chỉnh lãi
số tiền 387.500.000 đồng theo lãi suất do Nhà ớc từ ngày vay 29/11/2021 đến
ngày 19/4/2023, bị đơn (A) đã đóng cho chị T số tiền 210.050.000 đồng. Nếu số
tiền lãi thấp hơn số tiền lãi bị đơn (A) đã đóng cho chị T, yêu cầu được đối trừ
vào tiền gốc, còn lại số tiền bao nhiêu bị đơn (A) đồng ý trả cho chị T.
Bị đơn Thị Bích V trình bày: Nếu anh A vay tiền của chị T thì anh A
có trách nhiệm trả nợ cho chị T. Việc chị T có cung cấp Giấy cam kết, có nội dung bị
đơn (V) cam kết trả nợ thay cho anh A không có. Tại Giấy cam kết này bị đơn (V)
không có ký tên, vì bị đơn (V) không biết chữ.
3
Tại phiên toà:
- Anh Nuôi (được chị T uỷ quyền) yêu cầu: Anh Lê Tấn Thuận A và bà Thị
Bích V cùng liên đới trả cho chị T, n sau: tiền gốc 484.000.000 đồng x
1,5%/tháng x 21 tháng (do anh N m tròn, tính từ ngày vay ngày 14/4/2023 đến
ngày xét xử sơ thẩm ngày 13/02/2025) = 152.460.000 đồng, tổng số tiền 636.460.000
đồng.
- Đối với bà V thì không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị T.
- Đối với anh A chỉ đồng ý trả cho chị T tiền gốc 387.500.000 đồng, đồng thời
yêu cầu điều chỉnh lãi suất theo quy định của Nhà nước của stiền gốc (từ ngày vay
29/11/2021 đến ngày 19/4/2023), sau đó đối trừ số tiền lãi mà anh A đã đóng cho chị
T số tiền là 210.050.000 đồng.
*/ Ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát như sau:
1/ Về tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án
Thẩm phán tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử
đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm đảm
bảo đúng nguyên tắc xét xử.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ vụ án
cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ
luật Tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự.
2/ Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
chị Phan Thị Hồng T, buộc anh Tấn Thuận A trả cho chị T số tiền 484.000.000
đồng (kèm theo các khoản tiền lãi); Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan
Thị Hồng T về việc yêu cầu buộc Thị Bích V phải liên đới cùng với anh A trả
nợ; Về án phí đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Được xác định
“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, bị đơn Thị Bích V anh Tấn
Thuận A, đều nơi trú tại số A, tổ D, Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Mau.
Từ đó, Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng
theo khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của chị T, thấy rằng:
Chị T khởi kiện yêu cầu anh A V phải cùng liên đới trả nợ cho chị T,
tổng cộng số tiền 636.460.000 đồng (vốn 484.000.000 đồng, tiền lãi tính từ ngày
4
vay ngày 14/4/2023 đến ngày xét xử thẩm ngày 13/02/2025, m tròn 21 tháng
x 1,5%/tháng x 484.000.000 đồng = 152.460.000 đồng). Để chứng minh cho yêu cầu
khởi kiện, chị T cung cấp Giấy vay tiền ngày 14/4/2023 Giấy cam kết (không
ghi thời gian). Lý do cho việc yêu cầu, V mẹ ruột anh A, tại Giấy cam
kết V cam kết nếu anh A không trả nợ chị T, thì V đứng ra trả nợ thay cho
anh A. Ngoài ra, chị T không còn cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì khác.
Đối với V thì không đồng ý, vì V cho rằng khoản nợ nêu trên là nợ riêng
của anh A, bà V không có cam kết gì đối với chị T.
Đối với anh A xác định, Giấy vay tiền ngày 14/4/2023 do chị T ép buộc anh A
ký, mới để yên cho anh A làm việc tại Cửa hàng H (thời điểm này anh A đang làm
thuê tại Cửa hàng này). Tại phiên toà, anh A xác định lại, số tiền 484.000.000 đồng
(anh A tại Giấy vay tiền ngày 14/4/2023), bao gồm khoản tiền 200.000.000
đồng (anh A đã ký tại Giấy mượn tiền ngày 19/6/2022), khoản tiền còn lại là tiền lãi,
thành số tiền 484.000.000 đồng. Nhưng, anh A lại xác định đồng ý trả cho chị T
theo khoản tiền 387.500.000 đồng (theo c khoản sao kê từ bút lục 42 đến bút lục
80). Ngoài ra, anh A cho rằng vay tiền của chị T diễn ra nhiều lần từ ngày
29/11/2021 đến ngày 19/6/2022 với tổng số tiền 387.500.000 đồng, trong đó đóng
tiền lãi cho chị T (từ ngày 27/12/2021 đến ngày 19/4/2023), lãi suất 10%/tháng, với
tổng số tiền 210.050.000 đồng. Việc nhận tiền vay và đóng lãi cho chị T là bằng hình
thức chuyển khoản, tài khoản của anh A số 0111000156150 số 9888999449
(mở tại Ngân hàng TMCP N1 - V1), i khoản của chị T số 79888999979 (mở tại
Ngân hàng TMCP Q - M) số 070075865625 (mở tại Ngân hàng TMCP S - S1).
Đối với Giấy cam kết, anh A cho rằng V không ký tên, lúc chị T đến nhà ép
anh A ký Giấy cam kết này, thì V mặt tại nhà của V (Khóm A, thị trấn S),
V nói để cho anh A tại nhà của V làm để trả nợ cho chị T, chứ V
không có cam kết gì.
Xét, việc chị T khởi kiện yêu cầu anh A V cùng liên đới trả nợ, chị T
căn cứ vào Giấy vay tiền ngày 14/4/2023 Giấy cam kết (không ghi ngày tháng
năm).
Tại phiên toà, anh Nuôi (được chị T uỷ quyền) xác định số tài khoản nêu trên
(do anh A cung cấp) đúng số tài khoản của chị T. Nhưng, anh N cho rằng lời trình
bày của anh A không đúng, các giao dịch liên quan đến tổng số tiền 387.500.000
đồng, số tiền 210.050.000 đồng, cũng như số tiền 200.000.000 đồng (anh A tại
Giấy mượn tiền ngày 19/6/2022), đều c khoản tiền giao dịch riêng trước đó,
không liên quan gì đến khoản tiền 484.000.000 đồng (anh A tại Giấy vay tiền
ngày 14/4/2023), chị T đã khởi kiện vụ án này. Mặt khác, anh Nuôi xác định giữa
chị T anh A ký Giấy vay tiền ngày 14/4/2023 tại nơi anh A làm việc, nhưng khi
và chị T giao tiền mặt cho anh A số tiền nêu trên, thì không có ai chứng kiến việc
này, chỉ chị T anh A. Còn anh A cho rằng, lời trình bày của anh N không
đúng, anh A xác định tên tại Giấy vay tiền ngày 14/4/2023, nhưng thực tế
không có nhận tiền mặt từ chị T.
5
Xét quá trình giải quyết ván, anh A cung cấp danh sách các khoản sao
tại Ngân hàng (từ bút lục 42 đến bút lục 80), thể hiện chị T chuyển khoản cho
anh A nhiều lần với tổng số tiền 387.500.000 đồng; anh A cũng chuyển khoản lại
cho chị T nhiều lần với tổng số tiền 210.050.000 đồng; thời gian chuyển khoản qua
lại giữa chị T với anh A bắt đầu từ ngày 29/11/2021 đến ngày 19/4/2023, còn về mặt
nội dung để chuyển khoản, không thể hiện khác. Như vậy, đối chiếu tại Giấy
vay tiền ngày 14/4/2023, thì các lần chuyển khoản nêu trên là trước đó, còn anh A
Giấy vay tiền là ngày 14/4/2023. Ngoài ra, anh A cho rằng vay chị T số tiền
387.500.000 đồng, đóng lãi cho chị T số tiền 210.050.000 đồng nhưng anh A không
chứng cứ để chứng minh, nên xét lời trình bày của anh A không sở.
Mặt khác anh A n cho rằng, việc anh A Giấy vay tiền ngày 14/4/2023 do chị
T ép buộc, nhưng anh A cũng không tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh. Trường
hợp, nếu như sự ép buộc hoặc đe doạ như anh A trình bày, thì anh A quyền
trình báo đến Chính quyền địa phương đến để can thiệp. Trong khi đó, anh A đã tự
nguyện tên về mặt nội dung tại Giấy vay tiền ngày 14/4/2023, cũng không
nội dung nào thể hiện có việc ép buộc như anh A đã trình bày. Do đó có cơ sở để xác
định rằng, anh A vay của chị T số tiền 484.000.000 đồng theo như khởi kiện của
chị T là có cơ sở để chấp nhận.
Xét, yêu cầu của chị T vviệc yêu cầu V (mẹ ruột anh A) cùng anh A liên
đới trả nợ, thấy rằng: Tại Giấy cam kết (không ghi thời gian) do chị T cung cấp, anh
A thừa nhận có ký tên và đúng với nội dung cam kết tại văn bản này.
Tuy nhiên, phía chị T cho rằng V tên cam kết bảo lãnh trả nợ thay
cho anh A. Nhưng, phía V không thừa nhận tên bảo lãnh khoản nợ này
để trả nợ thay cho anh A. Đối với phía anh A xác định Giấy cam kết này V không
tên, khi chị T đến nhà của bà V ép anh A ký giấy cam kết trả nợ, lúc bà
V mặt ở nhà thuộc Khóm A, thị trấn S), bà V nói để cho anh A tại nhà của bà V
để làm trả nợ cho chị T, bà V không cam kết gì. Quá trình giải quyết vụ án, do
phía chị T người cung cấp Giấy cam kết cho rằng V tên, nhưng V
không thừa nhận, anh Nuôi (được chị T uỷ quyền) cũng không có yêu cầu giám định
chữ chữ viết của V tại Giấy cam kết này, nên không đặt ra giải quyết gì. Mặt
khác, xét về mặt nội dung tại Giấy cam kết, ở phần dưới đoạn: tôi cam kết A sẽ
đây làm việc để trả tiền cho chị T nếu không tôi sẽ chịu trách nhiệm. Trường hợp
bà V cam kết như nội dung nêu trên, thì V cam kết chỉ chịu trách nhiệm về mặt
con người anh A sẽ nhà của V để làm trả nợ cho chị T, nếu buộc V trả n
cùng anh A theo như nội dung cam kết nêu trên cũng chưa sở theo như chị T
yêu cầu. Do đó, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T về việc yêu cầu V
liên đới cùng anh A trả nợ cho chị T.
Xét, chị T khởi kiện yêu cầu anh A trả cho chị T tổng cộng số tiền là
636.460.000 đồng (trong đó, vốn 484.000.000 đồng, tiền lãi tính từ ngày vay ngày
14/4/2023 đến ngày xét xử thẩm ngày 13/02/2025, làm tròn 21 tháng x
1,5%/tháng x 484.000.000 đồng = 152.460.000 đồng) lợi cho anh A, nên cần
buộc anh A trả cho chị T tổng số tiền nêu trên.
6
Xét, đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở để chấp nhận.
[3] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, chị T được nhận lại
tiền tạm ứng án phí. Đối với anh A, buộc anh A phải nộp án phí dân sự có giá ngạch
số tiền 29.458.400 đồng (636.460.000 đồng = 20.000.000 đồng + 4% (của phần giá
trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng = 9.458.400 đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYT ĐỊNH:
Căn cứ: Các điều 271, 273 của Bộ luật Tố tng dân sự năm 2015; Các điều
463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Quốc Hội.
Tuyên x:
1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chPhan Thị Hồng T,
buộc bị đơn anh Tấn Thuận A trả cho chị Phan Thị Hồng T số tiền 636.460.000
đồng (Sáu trăm ba mươi sáu triệu bốn trăm sáu mươi ngàn đồng).
Kể từ ngày chị Phan ThHồng T đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Tấn
Thuận A không thi hành xong khoản tiền trên, thì anh Lê Tấn Thuận A còn phải chịu
thêm khoản tiền lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm
2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.
2/ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phan Thị Hồng T
về việc yêu cầu buộc bị đơn Thị Bích V phải liên đới cùng với anh Tấn
Thuận A trả nợ.
3/ Về án phí:
Chị Phan Thị Hồng T được nhận lại tiền tạm ứng án phí số tiền 13.761.000
đồng (Mười ba triệu bảy trăm sáu mươi mốt ngàn đồng) tại Biên lai thu 0005267
ngày 05/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Buộc anh Tấn Thuận A phải nộp án phí dân sự giá ngạch số tiền
29.458.400 đồng (Hai mươi chín triệu bốn trăm năm mươi tám ngàn bốn trăm đồng).
4/ Về quyền kháng cáo: Chị Phan Thị Hồng T, bà Thị ch V, anh Tấn
Thuận A được quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày
tuyên án.
“Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo qui định tại c Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành
án dân sự”.
Nơi nhận:
- Các đương sự (03b);
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
7
- VKSND H. Trần Văn Thời (01b);
- Chi cục THADS H. Trần Văn Thời (01b);
- Lưu hồ sơ vụ án (01b);
- Lưu án văn (01b).
Lâm Thành Quang
Tải về
Bản án số 52/2025/DS-ST Bản án số 52/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 52/2025/DS-ST Bản án số 52/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất