Bản án số 50/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của TAND huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 50/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 50/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 50/2024/DS-ST
Tên Bản án: | Bản án số 50/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của TAND huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND huyện U Minh Thượng (TAND tỉnh Kiên Giang) |
Số hiệu: | 50/2024/DS-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 20/09/2024 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN U MINH THƯỢNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 50/2024/DS-ST
Ngày: 20/9/2024
“V/v tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG, KIÊN GIANG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Tám
2. Ông Lê Hoàng Vũ
- Thư ký phiên tòa: Bà Thị Thúy Kiều là Thư ký Tòa án nhân dân huyện
U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh Thượng: Ông Huỳnh
Hải Đăng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U
Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:
11/2021/TLST- DS, ngày 18 tháng 01 năm 2021 về việc tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
50/2024/QĐXX-DS, ngày 26 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lê Đình T, sinh năm 1960 (Có mặt).
Bà Nguyễn Thị Thu M, sinh năm 1989 (Vợ ông T – Có
mặt).
Cùng địa chỉ: Số G6A-153, đường Văn C, khu phố 5, phường An Hòa,
thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Trần
Văn Chính – Văn phòng Luật sư Diệu Hải và cộng sự, thuộc đoàn luật sư tỉnh
Kiên Giang (Có mặt).
2. Bị đơn:
- Ông Nguyễn Hữu L, sinh năm 1964 (Có văn bản xin vắng mặt).
- Bà Lê Thị H, sinh năm 1972 (Vợ ông L - Có đơn xin vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn 02, xã Quảng T2, huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk N1.
2
- Ông Lê Văn H1, sinh năm 1979 (Em bà H – Có mặt).
Địa chỉ: Ấp Minh T2, xã Minh T3, U Minh T4, Kiên G.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1954 (Có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Song Chinh, xã Bình Trị, huyện Kiên Lương, Kiên Giang.
3.2. Ông Lê Văn H, sinh năm 1957 (Có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Minh Tiến, xã Minh T3, huyện U Minh T4, tỉnh Kiên G.
3.3. Ông Lê Giang S, sinh năm 1960 (Có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Áp Song Chinh, xã Bình Trị, huyện Kiên Lương, Kiên Giang.
3.4. Ông Lê Hà L1, sinh năm 1960 (Có mặt).
3.5. Bà Lê Thị N, sinh năm 1962 (Có mặt).
3.6. Bà Lê Thị T1, sinh năm 1970 (Có văn bản xin vắng mặt).
3.7. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1979 (Vợ ông H1– Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp Minh T2, xã Minh T3, huyện U Minh T4, tỉnh Kiên G.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 28/12/2020, khởi kiện bổ sung ngày 01/4/2022
và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Lê Đình T,
bà Nguyễn Thị Thu M – Luật sư Trần Văn Chính trình bày:
Ngày 28/6/2013 vợ chồng ông Lê Đình T, bà Nguyễn Thị Thu M (Sau
đây gọi tắt là ông T, bà M) có nhận chuyển nhượng một phần đất của vợ chồng
ông Lê Văn Sự, bà Phạm Cẩm Chi theo giấy chứng nhận QSD đất số: BA
095983, diện tích 1.097,4m
2
, tọa lạc ấp Minh Tiến, xã Minh T3, huyện U Minh
T4, tỉnh Kiên G, với giá 730.000.000 đồng nhưng ông Sự, bà Chi chưa sang tên
cho vợ chồng ông T, bà M.
Ngày 04/6/2019 vợ chồng ông T, bà M chuyển nhượng lại phần đất này
cho bà Lê Thị H (Gọi tắt là bà H), với giá 798.600.000 đồng. Bà H đặt cọc số
tiền 50.000.000 đồng; còn lại số tiền 748.600.000 đồng bà H sẽ thanh toán cho
ông T, bà M trong vòng 60 ngày (tức là đến ngày 04/8/2019). Do vợ chồng ông
Sự, bà Chi chưa sang tên cho vợ chồng ông T, bà M trong giấy chứng nhận QSD
đất, nên vợ chồng ông T, bà M giao giấy chứng nhận QSD đất số: BA 095983,
diện tích 1.097,4m
2
, tọa lạc ấp Minh Tiến, xã Minh T3, huyện U Minh T4, tỉnh
Kiên G và Hợp đồng sang nhượng đất này từ vợ chồng ông Sự, bà Chi cho bà H
đi làm giấy tờ trực tiếp với Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện U Minh
Thượng, tỉnh Kiên Giang. Bà H giao cho vợ chồng ông T, bà M một giấy chứng
nhận QSD đất số: W 361509, do UBND huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang
cấp cho bà Lê Thị Sáu (Mẹ bà H) ngày 22/12/2003 để làm tin. Khi bà H thanh
3
toán đủ tiền đất thì vợ chồng ông T, bà M sẽ trả lại cho bà H giấy chứng nhận
QSD đất số: W 361509 do UBND huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang cấp cho
bà Lê Thị Sáu ngày 22/12/2003.
Sau nhiều lần bà H viết giấy cam kết trả nợ cho vợ chồng ông T, bà M thì
bà có thanh toán cho ông T, bà M được số tiền 180.600.000 đồng, hiện bà H còn
nợ vợ chồng ông T, bà M gốc 798.600.000đ - 180.600.000đ = 618.000.000 đồng
(Sáu trăm mười tám triệu đồng).
Ngày 02/01/2021 bà H viết giấy cam kết: “Bà H có nợ ông T vào ngày
04/6/2019, còn tổng số tiền hợp đồng mua bán đất là 618.000.000 đồng, bà H có
thế chấp một sổ bản gốc QSD đất đứng tên bà Lê Thị Sáu (Mẹ bà H), diện tích
23.235.000 m
2
, bà Sáu đã chết không kịp sang tên cho các anh, em của bà H, bà
H thế chấp để làm tin cho ông T giữ. Bà H cam kết cùng với ông Lê Văn H1 đến
ngày 02/07/2021, bà thanh toán cho ông T đủ số tiền 618.000.000 đồng, thì ông
T trả lại cho bà H một giấy chứng nhận QSĐ đứng tên bà Sáu. Nếu qua ngày
02/07/2021 bà H không thanh toán đủ số tiền trên thì ông H1 chịu trách nhiệm
đối với ông T về khoản nợ 618.000.000 đồng, bà H chịu tiền lãi suất là
9.000.000đ/tháng”.
Luật sư Chính yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng bà H, ông L trả
cho vợ chồng ông T, bà M nợ gốc 618.000.000đ và lãi suất theo thỏa thuận từ
ngày 02/07/2021 đến khi Tòa án xét xử. Nếu vợ chồng bà H, ông L không có
khả năng trả nợ thì buộc người bảo lãnh ông H1 phải có nghĩa vụ trả nợ thay
cho vợ chồng ông L, bà H.
Nguyên đơn ông T, bà M thống nhất với lời trình bày của Luật sư
Chính, ông bà không bổ sung thêm.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 23/5/2024 bị đơn bà Lê Thị H trình bày: Bà
H thừa nhận có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của vợ chồng ông T, bà M,
tọa lạc ấp Minh Tiến, xã Minh T3, huyện U Minh T4, tỉnh Kiên G, với giá khoảng
800.000.000 đồng, bà có thanh toán cho vợ chồng ông T, bà M được số tiền
180.600.000 đồng, hiện bà H còn nợ vợ chồng ông T, bà M tiền mua đất là
618.000.000 đồng và bà đồng ý chịu tiền lãi suất theo quy định pháp luật từ ngày
14/11/2020 đến Tòa án xét xử. Bà H đồng ý trả cho vợ chồng ông T, bà M nợ gốc
618.000.000 đồng nhưng xin ông T, bà M không tính lãi suất; còn nợ gốc
618.000.000 đồng bà H xin trả ông T, bà M với hình thức mỗi năm trả 100.000.000
đồng đến khi dứt nợ. Bắt đầu trả nợ ngày 15/12/2025. Trả nợ vào ngày 15 dương
lịch.
Việc nhận chuyển nhượng phần đất của vợ chồng ông T, bà M thì ông L
4
(Chồng bà H) không biết, nhưng khi bà H sang tên trong giấy chứng nhận QSD đất
đối với phần đất này thì ông L biết và đồng tình. Sau đó, ông L có thiết kế cây xăng
và cùng làm cây xăng, kinh doanh xăng, dầu với bà H. Bà H xin đứng ra chịu
khoản nợ với vợ chồng ông T, bà M số tiền 618.000.000 đồng.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 07/7/2023 bị đơn ông Nguyễn Hữu L
(Chồng bà H) trình bày: Ông L không có bà con thân thích với vợ chồng ông T, bà
M và cũng không có liên quan đến vụ án của vợ chồng ông T, bà M đang khởi kiện
tại Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang. Do ông L ở xa, bận
công việc nên ông xin vắng mặt trong tất cả các giai đoạn tố tụng đối với vụ án.
Bị đơn ông Lê Văn H1 trình bày: Ông H1 thừa nhận chữ ký và viết tên
“Lê Văn H1” trong giấy cam kết ngày 02/01/2021 là chữ viết, chữ ký của ông
H1. Ông H1 có ký bảo lãnh nhận nợ thay cho vợ chồng bà H, ông L về việc vợ
chồng bà H, ông L còn nợ tiền mua đất của vợ chồng ông T, bà M, với số tiền
618.000.000 đồng. Hiện ông H1 không có khả năng trả nợ thay cho bà H, ông L.
Ngoài ra, ông H1 để cho ông Lê Hà L1 đứng ra nhận lại 01 giấy chứng
nhận QSD đất số: W 361509 do UBND huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang cấp
cho bà Lê Thị Sáu (Mẹ ông H1) ngày 22/12/2003 mà hiện nay vợ chồng ông T,
bà M đang giữ.
Bà Nguyễn Thị L1 là vợ ông H1 không biết việc ông H1 bảo lãnh ký nhận
nợ thay cho vợ chồng bà H, ông L với số tiền 618.000.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L1 (Vợ ông H1)
trình bày: Bà L1 là vợ ông H1, bà không biết ông H1 ký giấy cam kết bảo lãnh
nợ ngày 02/01/2021 cho vợ chồng ông L, bà H về việc bà H, ông L còn thiếu vợ
chồng ông T, bà M số tiền 618.000.000 đồng. Sau này, Tòa án thông báo tham
gia tố tụng thì bà L1 mới biết ông H1 bảo lãnh nợ thay cho ông L, bà H đối với
vợ chồng ông T, bà M, số tiền 618.000.000 đồng. Nếu bà L1 biết thì bà không
cho ông H1 ký giấy bão lãnh nợ, nên bà không đồng ý cùng với ông H1 trả nợ
thay cho ông L, bà H; còn việc ông H1 bảo lãnh nợ thay cho vợ chồng ông L, bà
H đề nghị Tòa án xem xét theo quy định pháp luật. Bà L1 không có yêu cầu gì
trong vụ án này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Đ, ông Lê Văn H2, bà
Lê Thị N, ông Lê Giang S, bà Lê Thị T1 trình bày: Cụ Lê Văn Phò và cụ Lê
Thị Sáu (Cụ Phò, cụ Sáu đã chết), có 08 người con chung, gồm: Bà Lê Thị Đ,
ông Lê Văn H2, bà Lê Thị N, ông Lê Hà L1 ông Lê Giang S, bà Lê Thị T1, bà
Lê Thị H và ông Lê Văn H1. Do vợ chồng bà H, ông L còn nợ tiền mua đất của
vợ chồng ông T, bà M số tiền 618.000.000 đồng, nên bà H đã giao cho vợ chồng
5
ông T, bà M cất giữ 01 giấy chứng nhận QSD đất số: W 361509 do UBND
huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang cấp cho bà Lê Thị Sáu ngày 22/12/2003.
Việc bà H nợ vợ chồng ông T, bà M số tiền 618.000.000 đồng không liên quan
đến bà Sáu và những người thừa kế các con của bà Sáu gồm: Bà Đ, ông H2, bà
N, ông L1, ông S, bà T1, bà H, ông H1 nên đề nghị Tòa án xem xét buộc vợ
chồng ông T, bà M phải trả lại 01 giấy chứng nhận nêu trên. Đồng thời bà Đ,
ông H2, bà N, ông S, bà T1 để cho ông L1 là người đại diện nhận lại giấy chứng
nhận QSD đất số: W 361509. Ngoài ra bà Đ, ông H2, bà N, ông S, bà T1 không
có yêu cầu gì khác trong vụ án này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hà L1 trình bày: Ông
L1 là con của cụ Lê Văn Phò, cụ Lê Thị Sáu. Vợ chồng bà H, ông L nợ vợ
chồng ông T, bà M tiền sang đất là 618.000.000 đồng nên bà H, ông L giao cho
vợ chồng ông T, bà M giữ 01 giấy chứng nhận QSD đất số: W 361509 do
UBND huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang cấp cho bà Lê Thị Sáu (Mẹ ông L1)
ngày 22/12/2003, việc này làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của ông
L1. Do vậy, ông L1 yêu cầu Tòa án xem xét buộc vợ chồng ông T, bà M trả lại
cho các con của bà sáu gồm bà Đ, ông H2, bà N, ông L1, ông S, bà T1, bà H,
ông H1. Ông L1 đồng ý làm người đại diện để nhận lại 01 giấy chứng nhận QSD
đất số: W 361509 do UBND huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang cấp cho bà Lê
Thị Sáu ngày 22/12/2003. Ngoài ra, ông L1 không có yêu cầu gì khác trong vụ
án này.
Tại phiên tòa:
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông T – Luật
sư Trần Văn Chính trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận toàn
bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T. Buộc vợ chồng ông L, bà H phải
trả cho nguyên đơn tiền mua đất còn thiếu là 618.000.000 đồng và lãi suất theo
các bên thỏa thuận 9.000.000đ/tháng, từ ngày 02/07/2021 đến Tòa án xét xử
ngày 20/9/2024 là: 38 tháng 18 ngày x 9.000.000đ/tháng = 347.400.000 đồng.
Nếu vợ chồng ông L, bà H không có khả năng trả nợ thì buộc người bảo
lãnh là ông H1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho vợ chồng ông T, bà M.
- Nguyên đơn ông T, bà M bổ sung: Ông T, bà M đang giữ 01 giấy chứng
nhận QSD đất số: W 361509 do UBND huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang cấp
cho bà Lê Thị Sáu ngày 22/12/2003, đến khi nào vợ chồng bà H, ông L thanh
toán số tiền 618.000.000 đồng thì ông, bà trả lại 01 giấy chứng nhận QSD đất
số: W 361509 cho các con của bà Sáu. Ngoài ra, ông T, bà M thống nhất với lời
trình bày của Luật sư Trần Văn Chính không bổ sung gì thêm.
6
- Bị đơn ông Lê Văn H1 thừa nhận có ký bảo lãnh nhận nợ cho vợ chồng
ông T, bà M số tiền 618.000.000 đồng. Tuy nhiên, ông H1 đang khó khăn về
kinh tế, nên ông không thể thực hiện theo nội dung bảo lãnh, đề nghị HĐXX
xem xét buộc vợ chồng ông Nguyễn Hữu L, bà H thanh toán cho vợ chồng ông
T, bà M số tiền 618.000.000 đồng, với phương thức như bà H xin trả cho ông T,
bà M mỗi năm là 100.000.000 đồng cho đến khi dứt số tiền 618.000.000 đồng.
Bắt đầu trả nợ ngày 15/12/2025. Trả nợ vào ngày 15 dương lịch. Mặc dù, bà H
đang chấp hành án nhưng chồng bà H là ông Nguyễn Hữu L vẫn còn khả năng trả
nợ cho vợ chồng ông T, bà M.
Ông H1 để cho ông Lê Hà L1 đứng ra nhận lại 01 giấy chứng nhận QSD
đất số: W 361509 do UBND huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang cấp cho bà Lê
Thị Sáu (Mẹ ông H1) ngày 22/12/2003 mà hiện nay vợ chồng ông T, bà M đang
giữ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hà L1 (Con cụ Sáu) có ý
kiến HĐXX xem xét buộc vợ chồng ông T, bà M trả lại cho Người đại diện ông
Lê Hà L1 01 giấy chứng nhận QSD đất số: W 361509 do UBND huyện Vĩnh
Thuận, tỉnh Kiên Giang cấp cho bà Lê Thị Sáu ngày 22/12/2003.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị N (Con cụ Sáu) thống
nhất với lời trình bày của ông Lê Hà L1.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm
nghị án HĐXX, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện và chấp hành đúng các quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn ông T, bà M. Buộc vợ chồng bà H, ông L phải trả cho vợ chồng
ông T, bà M số tiền 618.000.000 đồng và lãi suất theo quy định pháp luật. Nếu
vợ chồng ông L, bà H không có khả năng trả nợ thì buộc người bảo lãnh ông H1
phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho vợ chồng ông T, bà M.
Về án phí: Vợ chồng ông L, bà H phải chịu án phí theo quy định pháp
luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa HĐXX nhận định:
[1]. Về thẩm quyền xét xử: Xét mối quan hệ tranh chấp giữa các đương sự
là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Phần đất tranh chấp
trên địa giới hành chính huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang nên căn cứ
7
khoản 3 Điều 26, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa
án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang thụ lý giải quyết là đúng
thẩm quyền.
[2]. Về thủ tục tố tụng:
2.1. Về sự có mặt của các đương sự:
Bị đơn ông Nguyễn Hữu L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà
Lê Thị Đ, ông Lê Văn H2, ông Lê Giang S, bà Lê Thị T1 có đơn đề nghị Tòa án
xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015,
Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với ông Nguyễn Hữu L, bà Đ,
ông H2, ông S, bà T1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L1 (Vợ ông H1)
được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia xét xử nhưng vắng mặt
không có lý do. Tại phiên tòa ông H1 trình bày ông có giao tận tay cho bà L1
thông báo tham gia tố tụng và các giấy triệu tập của Tòa án cho bà L1, nhưng do
bận việc gia đình nên không đến Tòa án. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt đối với bà L1.
2.2. Về việc tham gia tố tụng: Sau khi bà H nhận chuyển nhượng QSD đất
của vợ chồng ông T, bà M, phần đất theo giấy chứng nhận QSD đất số: BA
095983, diện tích 1.097,4 m
2
, tọa lạc ấp Minh Tiến, xã Minh T3, huyện U Minh
T4, tỉnh Kiên G, do UBND huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang cấp cho bà
Phạm Cẩm Chi ngày 27/10/2010, bà H đã làm thủ tục đánh biến động sang tên
bà H. Sau đó bà H sang nhượng phần đất này cho ông Trương Minh S1, ông S1
làm thủ tục đánh biến động sang tên ông S1 ngày 20/8/2021. Nên Tòa án Thông
báo cho ông S1 tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan nhưng ông S1 có có đơn xin từ chối tham gia tố tụng ngày 07/6/2024, ông
cho rằng việc tranh chấp giữa nguyên đơn ông T, bà M với bị đơn bà H, ông L
và ông H1 các bên tự giải quyết, ông S1 không có liên quan. Đồng thời, ông S1
cũng không yêu cầu gì trong vụ án này. Do đó, Tòa án xét thấy không cần thiết
phải đưa ông S1 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan.
[3]. Về quan hệ pháp luật: Tranh chấp giữa nguyên đơn ông Lê Đình T,
bà Nguyễn Thị Thu M với bị đơn ông Nguyễn Hữu L, bà Lê Thị H, ông Lê Văn
H1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L1 (Vợ ông H1),
ông Lê Văn H2, ông Lê Hà L1, bà Lê Thị T1, bà Lê Thị N, bà Lê Thị Đ và ông
Lê Giang S là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Cụ thể,
vợ chồng ông T, bà M yêu cầu vợ chồng bà H, ông L và ông H1 thanh toán tiền
8
nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất còn thiếu là 618.000.000 đồng và lãi
suất theo các bên thỏa thuận từ ngày 02/7/2021 đến khi Tòa án xét xử.
[4]. Về nội dung tranh chấp:
Ngày 28/6/2013 vợ chồng ông T, bà M có nhận chuyển nhượng một phần
đất vợ chồng ông Sự, bà Chi theo giấy chứng nhận QSD đất số: BA 095983,
diện tích 1.097,4m
2
, tọa lạc ấp Minh Tiến, xã Minh T3, huyện U Minh T4, tỉnh
Kiên G. Ngày 04/6/2019 vợ chồng ông T, bà M sang nhượng lại phần đất này
cho bà H, với giá 798.600.000 đồng. Sau đó, bà H có thanh toán cho vợ chồng
ông T, bà M được số tiền 180.600.000 đồng; còn lại số tiền 618.000.000 đồng.
Vợ chồng ông T, bà M có giao cho bà H 01 giấy chứng nhận QSD đất số: BA
095983, diện tích 1.097,4m
2
, tọa lạc ấp Minh Tiến, xã Minh T3, huyện U Minh
T4, tỉnh Kiên G và các giấy tờ liên quan để bà H đi làm giấy tờ trực tiếp với Chi
nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.
Đồng thời, bà H giao cho vợ chồng ông T, bà M giấy chứng nhận QSD đất số:
W 361509 do UBND huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang cấp cho bà Lê Thị
Sáu (Mẹ bà H) ngày 22/12/2003 để làm tin. Ngày 10/6/2019, bà H đã được đánh
biến động sang tên bà H, nhưng bà H chưa thanh toán tiền sang đất cho vợ
chồng ông T, bà M. Hiện bà H còn nợ ông T, bà M tiền sang đất là 618.000.000
đồng. Nhiều lần, bà H viết giấy cam kết thanh toán cho vợ chồng ông T, bà M số
tiền 618.000.000 đồng nhưng bà H không thực hiện. Ngày 02/01/2021 bà H tiếp
tục viết giấy cam kết, cùng với ông H1 (Em bà H) đứng ra bảo lãnh thanh toán
cho vợ chồng ông T, bà M, số tiền 618.000.000 đồng. Vì vậy, vợ chồng ông T,
bà M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất nêu trên đối với vợ chồng bà H, ông L và ông H1.
Việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được xem xét trên cơ
sở các tài liệu, chứng cứ do các đương sự cung cấp và do Tòa án thu thập.
[5]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T, bà M HĐXX, nhận
thấy: Căn cứ vào Biên nhận đặt cọc bán đất giữa vợ chồng ông T, bà M và bà H
lập ngày 04/6/2019. Vợ chồng ông T, bà M có sang nhượng cho bà H phần đất
theo giấy chứng nhận QSD đất số: BA 095983, diện tích 1.097,4m
2
, tọa lạc ấp
Minh Tiến, xã Minh T3, huyện U Minh T4, tỉnh Kiên G, do UBND huyện U
Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang cấp cho bà Phạm Cẩm Chi ngày 27/10/2010. Do
phần đất này ông T, bà M nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Sự, bà Chi
nhưng chưa sang tên cho vợ chồng ông T, bà M nên khi ông T, bà M sang lại
cho bà H thì vợ chồng ông T, bà M để cho bà H làm thủ tục trực tiếp với Chi
nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang. Ngày
9
10/6/2019 bà H đã được đánh biến động sang tên bà H theo quy định luật đất
đai.
Về hình thức và nội dung của hợp đồng. Mặc dù, các bên giao kết hợp
đồng có vi phạm về hình thức hợp đồng, nhưng các bên đã thống nhất với nhau
toàn bộ nội dung trong hợp đồng. Nguyên đơn ông T, bà M đã giao phần đất
trên cho bị đơn bà H và bà H đã đánh biến động sang tên theo quy định pháp
luật. Bà H có thanh toán cho vợ chồng ông T, bà M được một phần giá trị hợp
đồng với số tiền 180.600.000 đồng, còn lại số tiền 618.000.000 đồng đến nay
chưa thanh toán, việc này các bên đều thừa nhận. Các bên thực hiện giao đất cho
nhau xong, chỉ còn tranh chấp về nghĩa vụ thanh toán tiền sang đất là
618.000.000 đồng, mà phía bị đơn bà H chưa thanh toán cho nguyên đơn ông T,
bà M.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 23/5/2024 bị đơn bà H trình bày: Bà H thừa
nhận có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của vợ chồng ông T, bà M, tọa lạc
ấp Minh Tiến, xã Minh T3, huyện U Minh T4, tỉnh Kiên G, với giá khoảng
800.000.000 đồng, hiện bà H còn nợ vợ chồng ông T, bà M tiền mua đất là
618.000.000 đồng, bà chịu tiền lãi suất theo quy định pháp luật. Bà H đồng ý trả
cho vợ chồng ông T, bà M nợ gốc 618.000.000 đồng nhưng xin ông T, bà M không
tính tiền lãi suất; còn nợ gốc 618.000.000 đồng bà H sẽ trả cho vợ chồng ông T, bà
M với hình thức mỗi năm là 100.000.000 đồng đến khi dứt nợ. Bắt đầu trả nợ ngày
15/12/2025. Trả nợ vào ngày 15 dương lịch, nhưng phía nguyên đơn ông T, bà M
không đồng ý. Vợ chồng ông T, bà M sang nhượng đất cho bà H từ năm 2019 đến
nay đã hơn 04 năm và ông, bà đã cho bà H hơn 10 lần viết giấy cam kết thanh toán
tiền nhận chuyển nhượng đất với số tiền 618.000.000 đồng, nhưng đến nay vẫn
không thanh toán. Vợ chồng ông T, bà M không còn tin tưởng bà H nên ông, bà
yêu cầu vợ chồng bà H, ông Nguyễn Hữu L thanh toán dứt số tiền 618.000.000
đồng và lãi suất các bên thỏa thuận 9.000.000đ/tháng. Nếu vợ chồng bà H, ông L
không có khả năng thanh toán thì yêu cầu người bảo lãnh ông H1 có nghĩa vụ thanh
toán cho vợ chồng ông T, bà M. HĐXX nhận thấy, các bên đã thống nhất bị đơn
còn thiếu tiền mua đất của nguyên đơn ông T, bà M là 618.000.000 đồng, thuộc
trường hợp những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo Điều 92 của Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2015, các bên chỉ còn tranh chấp về phương thức thanh
toán.
HĐXX cho rằng: Theo quy định tại mục 1, phần II, Thông tư liên tịch số
01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân
tối cao – Bộ tư pháp – Bộ tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài
10
sản có quy định “Tòa án không tự ấn định trong bản án, quyết định thời điểm
hoặc thời hạn bên có nghĩa vụ thi hành”. Do đó, việc bà H xin thanh toán cho
vợ chồng ông T, bà M với hình thức mỗi năm số tiền 100.000.000 đồng là
không có cơ sở để HĐXX chấp nhận.
[6]. Về phần tiền lãi suất: Theo giấy cam kết ngày 02/01/2021 của bà H,
cùng với ông H1 cam kết với vợ chồng ông T, bà M đến ngày 02/7/2021, bà H
sẽ thanh toán cho ông T, bà M số tiền 618.000.000 đồng, nếu không thì bà H
chịu tiền lãi suất 9.000.000đ/tháng. Tại phiên tòa vợ chồng ông T, bà M yêu cầu
tính lãi suất theo thỏa thuận 9.000.000đ/tháng, từ ngày 02/7/2021 đến Tòa án xét
xử, HĐXX nhận thấy: Việc tự thỏa thuận giữa các bên đương sự phù hợp với
quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 (Không quá
20%/năm, tương ứng 1,66%/tháng). Như vậy, các bên thỏa thuận lãi suất
9.000.000đ/tháng, tương đương với 1,456%/tháng, nên HĐXX chấp nhận.
Lãi suất được tính từ ngày 02/07/2021 đến xét xử ngày 20/9/2024 là:
9.000.000đ/tháng x 38 tháng 18 ngày = 347.400.000 đồng.
Như vậy, bà H còn nợ vợ chồng ông T, bà M là 965.400.000 đồng.
Trong đó, nợ gốc 618.000.000 đồng, nợ lãi 347.400.000 đồng.
[7]. Về trách nhiệm trả nợ chung của vợ chồng:
Tại biên bản lấy lời khai ngày 07/7/2023 bị đơn ông Nguyễn Hữu L (Chồng
bà H) cho rằng ông L không có liên quan đến vụ án của vợ chồng ông T, bà M
đang khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 23/5/2024 bị đơn bà H xác định, việc bà H
nhận chuyển nhượng phần đất của vợ chồng ông T, bà M thì ông L không biết,
nhưng khi đánh biến động sang tên bà H thì ông L có biết và ông L đồng tình. Sau
đó, ông L có thiết kế cây xăng và cùng làm cây xăng, kinh doanh xăng, dầu với bà
H trên phần diện tích đất này. Ngoài ra, trong tờ giấy cam kết trả nợ cho ông T, bà
M của bà H ngày 21/02/2020 và ngày 18/9/2020 (Bút lụt số 19-20) ông L có ký
chứng kiến việc bà H còn nợ tiền mua đất của vợ chồng ông T, bà M là
618.000.000 đồng; tờ thỏa thuận của ông L ngày 08/12/2021 về việc ông L cho vợ
chồng ông H1, bà L1 thuê phần đất, gắn liền với cây xăng (Bút lục số 153), mà
diện tích đất này bà H đã nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông T, bà M. Ông L là
người trực tiếp xây dựng cây xăng và kinh doanh xăng, dầu trền phần đất này. Do
đó, theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Vợ, chồng chịu
trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1
Điều 30… và Điều 37 của Luật này”. Tại khoản 1 Điều 30 “Vợ chồng có quyền,
nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình” và
11
khoản 2 Điều 37 “Nghĩa vụ do vợ chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết
yếu của gia đình”. Do vậy, có đủ cở sở để buộc vợ chồng bà H, ông L cùng liên
đới trả cho vợ chồng ông T, bà M tổng số tiền 965.400.000 đồng. Nếu vợ chồng
bà H, ông L không còn tài sản thanh toán thì người bảo lãnh ông H1 phải có
trách nhiệm trả số tiền trên cho vợ chồng ông T, bà M theo quy định tại Điều
335, Điều 342 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Từ những cơ sở trên thấy rằng bà H là bên nhận chuyển nhượng QSD đất
của vợ chồng ông T, bà M nhưng bà H chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán mà
các bên thỏa thuận, là vi phạm quy định tại Điều 351, Điều 353 của Bộ luật dân
sự năm 2015. Do đó, yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông T, bà M đòi bà H
thanh toán tiền nhận chuyển nhượng quuyền sử dụng đất còn thiếu, với tiền gốc
là 618.000.000 đồng là có căn cứ, nên HĐXX chấp nhận.
Đối với bà Nguyễn Thị Loan (Vợ ông Hội) thì bà không biết việc ông Hội
bảo lãnh nợ cho vợ chồng ông Lâm, bà Hồng đối với số tiền 618.000.000 đồng.
Nếu bà Loan biết ông Hội bảo lãnh số tiền 618.000.000 đồng cho vợ chồng ông
Thông, bà Mới thì bà ngăn cản, nên bà Loan không đồng ý cùng với ông Hội
bảo lãnh trả nợ cho vợ chồng ông Thông, bà Mới số tiền 618.000.000 đồng. Tại
phiên tòa nguyên đơn ông Thông, bà Mới không yêu cầu bà Loan trả số tiền
618.000.000 đồng, nên HĐXX không xem xét nghĩa vụ bà Loan trả nợ cho vợ
chồng ông Thông, bà Mới trong vụ án này.
[8]. Xét, việc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Đ, ông Lê
Văn H2, bà Lê Thị N, ông Lê Hà L1, ông Lê Giang S, bà Lê Thị T1 có ý kiến
HĐXX xem xét buộc vợ chồng ông T, bà M trả lại cho người đại diện ông Lê
Hà L1 01 giấy chứng nhận QSD đất số: W 361509, diện tích 23.235m
2
, tọa lạc
ấp Minh Tân, xã Minh Thuận, huyện Vĩnh Thuận (Nay thuộc huyện U Minh
Thượng), tỉnh Kiên Giang, do UBND huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang cấp
cho bà Lê Thị Sáu ngày 22/12/2003. Nguyên đơn ông T, bà M đồng ý trả cho
người đại diện ông Lê Hà L1 01 giấy chứng nhận QSD đất số: W 361509 khi vợ
chồng bà H, ông Nguyễn Hữu L thanh toán xong số tiền 618.000.000 đồng,
HĐXX nhận thấy: Giấy chứng nhận QSD đất số: W 361509 đứng tên cụ Lê Thị
Sáu, nay cụ Sáu, cụ Phò (Chồng cụ Sáu) đã chết nên những hàng thừa kế quyền
và nghĩa vụ của cụ Sáu, cụ Phò gồm các con của cụ: Bà Lê Thị Đ, ông Lê Văn
H2, bà Lê Thị N, ông Lê Hà L1, ông Lê Giang S, bà Lê Thị T1, bà Lê Thị H và
ông Lê Văn H1. Hiện giấy chứng nhận số W 361509, bà H đã giao cho vợ chồng
ông T, bà M cất giữ, việc này ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của của bà
Đ, ông H2, bà Nga, ông L1, ông S, bà T1 và ông H1, nên thiết nghĩ cần buộc vợ
12
chồng ông T, bà M phải trả cho người đại diện ông Lê Hà L1 01 giấy chứng
nhận QSD đất số W 361509 là phù hợp.
Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh
Thượng, cũng như lời đề nghị của vị Luật sư Trần Văn Chính bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn phù hợp với nhận định của HĐXX, nên
chấp nhận.
[9]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Vợ chồng ông Nguyễn Hữu L, bà Lê Thị H
phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: 36.000.000đ + (165.400.000đ x
3%) = 40.962.000 đồng (Bốn mươi triệu, chín trăm sáu mươi hai nghìn đồng).
Hoàn trả cho ông Lê Đình T, bà Nguyễn Thị Thu M số tiền tạm ứng án
phí là 14.360.000 đồng, theo biên lai thu số: 0000603 ngày 12/01/2021 của Chi
cục Thi hành án dân sự huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các khoản 3 Điều 26, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91,
Điều 92, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Áp dụng Điều 335, Điều 342, Điều 351, Điều 353, Điều 357, Điều 468
và Điều 500 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27, Điều 30 và Điều 37 Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Đình T,
bà Nguyễn Thị Thu M đối với bị đơn ông Nguyễn Hữu L, bà Lê Thị H, ông Lê
Văn H1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L1, bà Lê Thị
Đ, ông Lê Văn H2, bà Lê Thị N, ông Lê Hà L1, ông Lê Giang S, bà Lê Thị T1
về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
2. Buộc vợ chồng ông Nguyễn Hữu L, bà Lê Thị H chịu trách nhiệm liên
đới trả cho vợ chồng ông Lê Đình T, bà Nguyễn Thị Thu M số tiền 965.400.000
đồng (Chín trăm sáu mươi lăm triệu, bốn trăm nghìn đồng).
Nếu vợ chồng ông Nguyễn Hữu L, bà H không còn tài sản để thi hành án
thì ông Lê Văn H1 phải có trách nhiệm trả nợ cho vợ chồng ông T, bà M thay
cho vợ chồng ông L, bà H.
13
Các bên trực tiếp giao nhận tiền hoặc giao nhận tại Chi cục Thi hành án
Dân sự huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành
án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Buộc vợ chồng ông Lê Đình T, bà Nguyễn Thị Thu M trả cho bà Lê
Thị Đ, ông Lê Văn H2, bà Lê Thị N, ông Lê Hà L1, ông Lê Giang S, bà Lê Thị
T1, bà Lê Thị H và ông Lê Văn H1 – Người đại diện ông Lê Hà L1 01 bản chính
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: W 361509, diện tích 23.235m
2
, tọa lạc
ấp Minh Tân, xã Minh Thuận, huyện Vĩnh Thuận (Nay thuộc huyện U Minh
Thượng), tỉnh Kiên Giang, do Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên
Giang cấp cho bà Lê Thị Sáu ngày 22/12/2003.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Vợ chồng ông Nguyễn Hữu L, bà Lê Thị H phải chịu án phí dân sự sơ
thẩm có giá ngạch là 40.962.000 đồng (Bốn mươi triệu, chín trăm sáu mươi hai
nghìn đồng).
Hoàn trả cho ông Lê Đình T, bà Nguyễn Thị Thu M số tiền tạm ứng án
phí là 14.360.000 đồng, theo biên lai thu số: 0000603 ngày 12/01/2021 của Chi
cục Thi hành án dân sự huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.
5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng
cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại
phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống
đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự, sửa đổi bổ sung thì người được thi hành án dân sự,
người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu
thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại
các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, sửa đổi bổ sung. Thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân
sự, sửa đổi bổ sung.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án nhân dân tỉnh KG; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện kiểm sát nhân dân H. UMT; (Đã ký, đóng dấu)
- Chi cục Thi hành án DS H. UMT;
- Các đương sự;
- Lưu.
14
Danh Hoàng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 25/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 20/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 20/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 11/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 06/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 06/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 04/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 04/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm