Bản án số 50/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của TAND huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 50/2024/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 50/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của TAND huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện U Minh Thượng (TAND tỉnh Kiên Giang)
Số hiệu: 50/2024/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/09/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN U MINH THƯỢNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 50/2024/DS-ST
Ngày: 20/9/2024
“V/v tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG, KIÊN GIANG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Tám
2. Ông Lê Hoàng Vũ
- Thư phiên tòa: Thị Thúy Kiều Thư Tòa án nhân dân huyện
U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm t nhân dân huyện U Minh Thượng: Ông Huỳnh
Hải Đăng Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại trụ sTòa án nhân dân huyện U
Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang xét xử thẩm công khai vụ án thụ số:
11/2021/TLST- DS, ngày 18 tháng 01 năm 2021 vviệc tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
50/2024/QĐXX-DS, ngày 26 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lê Đình T, sinh năm 1960 (Có mặt).
Nguyễn Thị Thu M, sinh năm 1989 (Vợ ông T
mặt).
Cùng địa chỉ: Số G6A-153, đường n C, khu phố 5, phường An Hòa,
thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật Trần
Văn Chính Văn phòng Luật Diệu Hải cộng sự, thuộc đoàn luật tỉnh
Kiên Giang (Có mặt).
2. Bị đơn:
- Ông Nguyễn Hữu L, sinh năm 1964 (Có văn bản xin vắng mặt).
- Bà Lê Thị H, sinh năm 1972 (Vợ ông L - Có đơn xin vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn 02, xã Quảng T2, huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk N1.
2
- Ông Lê Văn H1, sinh năm 1979 (Em H Có mặt).
Địa chỉ: Ấp Minh T2, xã Minh T3, U Minh T4, Kiên G.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1954 (Có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Song Chinh, xã Bình Trị, huyện Kiên Lương, Kiên Giang.
3.2. Ông Lê Văn H, sinh năm 1957 (Có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Minh Tiến, xã Minh T3, huyện U Minh T4, tỉnh Kiên G.
3.3. Ông Lê Giang S, sinh năm 1960 (Có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Áp Song Chinh, xã Bình Trị, huyện Kiên Lương, Kiên Giang.
3.4. Ông Lê Hà L1, sinh năm 1960 (Có mặt).
3.5. Bà Lê Thị N, sinh năm 1962 (Có mặt).
3.6. Bà Lê Thị T1, sinh năm 1970 (Có văn bản xin vắng mặt).
3.7. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1979 (Vợ ông H1– Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp Minh T2, xã Minh T3, huyện U Minh T4, tỉnh Kiên G.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 28/12/2020, khởi kiện bổ sung ngày 01/4/2022
các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Đình T,
bà Nguyễn Thị Thu M Luật sư Trần Văn Chính trình bày:
Ngày 28/6/2013 vchồng ông Đình T, Nguyễn Thị Thu M (Sau
đây gọi tắt ông T, M) nhận chuyển nhượng một phần đất của vchồng
ông Văn Sự, bà Phạm Cẩm Chi theo giấy chứng nhận QSD đất số: BA
095983, diện tích 1.097,4m
2
, tọa lạc ấp Minh Tiến, Minh T3, huyện U Minh
T4, tỉnh Kiên G, với giá 730.000.000 đồng nhưng ông Sự, Chi chưa sang tên
cho vợ chồng ông T, bà M.
Ngày 04/6/2019 vợ chồng ông T, bà M chuyển nhượng lại phần đất này
cho Thị H (Gọi tắt H), với giá 798.600.000 đồng. H đặt cọc số
tiền 50.000.000 đồng; còn lại số tiền 748.600.000 đồng H sẽ thanh toán cho
ông T, M trong vòng 60 ngày (tức đến ngày 04/8/2019). Do vợ chồng ông
Sự, bà Chi chưa sang tên cho vợ chồng ông T, bà M trong giấy chứng nhận QSD
đất, nên vợ chồng ông T, M giao giấy chứng nhận QSD đất số: BA 095983,
diện tích 1.097,4m
2
, tọa lạc ấp Minh Tiến, Minh T3, huyện U Minh T4, tỉnh
Kiên G Hợp đồng sang nhượng đất này từ vợ chồng ông Sự, bà Chi cho bà H
đi làm giấy tờ trực tiếp với Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện U Minh
Thượng, tỉnh Kiên Giang. Bà H giao cho vchồng ông T, bà M một giấy chứng
nhận QSD đất số: W 361509, do UBND huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang
cấp cho Thị Sáu (Mẹ H) ngày 22/12/2003 để làm tin. Khi H thanh
3
toán đủ tiền đất thì vợ chồng ông T, M sẽ trả lại cho H giấy chứng nhận
QSD đất số: W 361509 do UBND huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang cấp cho
bà Lê Thị Sáu ngày 22/12/2003.
Sau nhiều lần bà H viết giấy cam kết trả nợ cho vợ chồng ông T, bà M thì
bà có thanh toán cho ông T, bà M được số tiền 180.600.000 đồng, hiện bà H còn
nợ vợ chồng ông T, bà M gốc 798.600.000đ - 180.600.000đ = 618.000.000 đồng
(Sáu trăm mười tám triệu đồng).
Ngày 02/01/2021 H viết giấy cam kết: “Bà H nợ ông T vào ngày
04/6/2019, còn tổng số tiền hợp đồng mua bán đất 618.000.000 đồng, bà H
thế chấp một sổ bản gốc QSD đất đứng tên bà Thị Sáu (Mẹ bà H), diện tích
23.235.000 m
2
, Sáu đã chết không kịp sang tên cho các anh, em của H,
H thế chấp để làm tin cho ông T giữ. Bà H cam kết cùng với ông Lê Văn H1 đến
ngày 02/07/2021, thanh toán cho ông T đủ số tiền 618.000.000 đồng, thì ông
T trả lại cho H một giấy chứng nhận QSĐ đứng tên Sáu. Nếu qua ngày
02/07/2021 H không thanh toán đủ số tiền trên thì ông H1 chịu trách nhiệm
đối với ông T về khoản nợ 618.000.000 đồng, bà H chịu tiền lãi suất
9.000.000đ/tháng”.
Luật Chính u cầu a án giải quyết buộc vợ chồng bà H, ông L trả
cho v chồng ông T, bà M nợ gốc 618.000.000đ và lãi suất theo thỏa thuận t
ngày 02/07/2021 đến khi Tòa án t xử. Nếu v chồng H, ông L không
kh năng trả n thì buộc người bảo lãnh ông H1 phải có nghĩa vụ trn thay
cho vchồng ông L, bà H.
Nguyên đơn ông T, bà M thống nht với lời tnh bày của Luật sư
Chính, ông bà không b sung thêm.
Tại biên bản lấy lời khai ny 23/5/2024 b đơn Thị H trình bày: Bà
H thừa nhận có nhận chuyển nhượng quyn sử dụng đất của vợ chồng ông T, M,
tọa lạc ấp Minh Tiến, xã Minh T3, huyện U Minh T4, tỉnh Kiên G, với giá khoảng
800.000.000 đồng, thanh toán cho vợ chồng ông T, M được số tiền
180.600.000 đồng, hiện H n nợ vợ chồng ông T, M tiền mua đất
618.000.000 đồng bà đồng ý chịu tiền i suất theo quy định pháp luật tny
14/11/2020 đến Tòa án t xử. Bà H đồng ý trả cho vợ chồng ông T, bà M nợ gốc
618.000.000 đồng nhưng xin ông T, bà M không nh i suất; còn nợ gốc
618.000.000 đồng H xin trả ông T, M vớinh thức mi năm tr100.000.000
đồng đến khi dứt nợ. Bắt đầu trả nợ ngày 15/12/2025. Trả nợ vào ngày 15 ơng
lịch.
Việc nhn chuyển nợng phần đất của vợ chồng ông T, bà M thì ông L
4
(Chồng bà H) không biết, nhưng khi bà H sang tên trong giấy chứng nhận QSD đất
đối với phần đất này thì ông L biết và đồngnh. Sau đó, ông L thiết kế cây xăng
ng làm cây ng, kinh doanh ng, dầu với H. H xin đứng ra chịu
khoản nợ với vợ chồng ông T, M số tiền 618.000.000 đồng.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 07/7/2023 bị đơn ông Nguyễn Hữu L
(Chồng H) trìnhy: Ông L không có con thân thích với vợ chồng ông T,
M ng không liên quan đến vụ án của vợ chồng ông T, bà M đang khởi kiện
tại Tòa án nhân dân huyn U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang. Do ông L xa, bận
ng việcn ông xin vắng mt trong tất cả các giai đoạn tố tụng đối với vụ án.
Bị đơn ông Văn H1 trình y: Ông H1 thừa nhận chữ và viết tên
“Lê Văn H1” trong giấy cam kết ngày 02/01/2021 ch viết, chữ của ông
H1. Ông H1 bảo lãnh nhận nợ thay cho vợ chồng H, ông L về việc vợ
chồng H, ông L còn nợ tiền mua đất của vợ chồng ông T, M, với số tiền
618.000.000 đồng. Hiện ông H1 không có khả năng trả nợ thay cho bà H, ông L.
Ngoài ra, ông H1 để cho ông L1 đứng ra nhận lại 01 giấy chứng
nhận QSD đất số: W 361509 do UBND huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang cấp
cho Thị Sáu (Mẹ ông H1) ngày 22/12/2003 mà hiện nay vợ chồng ông T,
bà M đang giữ.
Bà Nguyễn Thị L1 là vợ ông H1 không biết việc ông H1 bảo lãnh ký nhận
nợ thay cho vợ chồng bà H, ông L với số tiền 618.000.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị L1 (Vợ ông H1)
trình bày: L1 là vợ ông H1, không biết ông H1 giấy cam kết bảo lãnh
nợ ngày 02/01/2021 cho vợ chồng ông L, bà H về việc bà H, ông L còn thiếu v
chồng ông T, bà M số tiền 618.000.000 đồng. Sau này, Tòa án thông báo tham
gia tố tụng thì L1 mới biết ông H1 bảo lãnh nợ thay cho ông L, H đối với
vợ chồng ông T, M, số tiền 618.000.000 đồng. Nếu L1 biết thì không
cho ông H1 giấy bão lãnh nợ, nên không đồng ý cùng với ông H1 trả nợ
thay cho ông L, bà H; còn việc ông H1 bảo lãnh nợ thay cho vợ chồng ông L, bà
H đề nghị Tòa án xem xét theo quy định pháp luật. L1 không yêu cầu
trong vụ án này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Đ, ông Lê Văn H2, bà
Thị N, ông Giang S, Thị T1 trình bày: Cụ Văn Phò cụ
Thị Sáu (Cụ Phò, cụ Sáu đã chết), 08 người con chung, gồm: Thị Đ,
ông Văn H2, Thị N, ông L1 ông Giang S, Thị T1,
Thị H và ông Văn H1. Do vợ chồng H, ông L còn nợ tiền mua đất của
vợ chồng ông T, bà M số tiền 618.000.000 đồng, nên bà H đã giao cho vợ chồng
5
ông T, M cất giữ 01 giấy chứng nhận QSD đất số: W 361509 do UBND
huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang cấp cho Thị Sáu ngày 22/12/2003.
Việc H nợ vợ chồng ông T, M số tiền 618.000.000 đồng không liên quan
đến bà Sáu những người thừa kế các con của Sáu gồm: Đ, ông H2,
N, ông L1, ông S, T1, H, ông H1 nên đề nghị Tòa án xem xét buộc vợ
chồng ông T, M phải trả lại 01 giấy chứng nhận u trên. Đồng thời Đ,
ông H2, bà N, ông S, bà T1 để cho ông L1 là người đại diện nhận lại giấy chứng
nhận QSD đất số: W 361509. Ngoài ra bà Đ, ông H2, N, ông S, bà T1 không
có yêu cầu gì khác trong vụ án này.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông L1 trình bày: Ông
L1 con của cụ Văn Phò, cụ Thị Sáu. Vợ chồng H, ông L nợ vợ
chồng ông T, M tiền sang đất 618.000.000 đồng nên H, ông L giao cho
vợ chồng ông T, bà M gi 01 giấy chứng nhận QSD đất số: W 361509 do
UBND huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang cấp cho bà Lê Thị Sáu (Mẹ ông L1)
ngày 22/12/2003, việc này làm nh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của ông
L1. Do vậy, ông L1 yêu cầu Tòa án xem xét buộc vợ chồng ông T, M trả lại
cho các con của sáu gồm Đ, ông H2, N, ông L1, ông S, T1, H,
ông H1. Ông L1 đồng ý làm người đại diện để nhận lại 01 giấy chứng nhận QSD
đất số: W 361509 do UBND huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang cấp cho
Thị Sáu ngày 22/12/2003. Ngoài ra, ông L1 không yêu cầu khác trong vụ
án này.
Tại phiên tòa:
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông T Luật
sư Trần Văn Chính trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận toàn
bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T. Buộc vợ chồng ông L, H phải
trả cho nguyên đơn tiền mua đất còn thiếu 618.000.000 đồng lãi suất theo
các bên thỏa thuận 9.000.000đ/tháng, t ngày 02/07/2021 đến Tòa án xét xử
ngày 20/9/2024 là: 38 tháng 18 ngày x 9.000.000đ/tháng = 347.400.000 đồng.
Nếu vợ chồng ông L, bà H không khả năng trả nợ thì buộc người bảo
lãnh là ông H1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho vợ chồng ông T, bà M.
- Nguyên đơn ông T, bà M bổ sung: Ông T, bà M đang giữ 01 giấy chứng
nhận QSD đất số: W 361509 do UBND huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang cấp
cho Lê Thị Sáu ngày 22/12/2003, đến khi o vợ chồng H, ông L thanh
toán số tiền 618.000.000 đồng thì ông, trả lại 01 giấy chứng nhận QSD đất
số: W 361509 cho các con của Sáu. Ngoài ra, ông T, bà M thống nhất với lời
trình bày của Luật sư Trần Văn Chính không bổ sung gì thêm.
6
- Bị đơn ông Văn H1 thừa nhận bảo lãnh nhận nợ cho vợ chồng
ông T, M số tiền 618.000.000 đồng. Tuy nhiên, ông H1 đang khó khăn về
kinh tế, nên ông không thể thực hiện theo nội dung bảo lãnh, đề nghị XX
xem xét buộc vợ chồng ông Nguyễn Hữu L, H thanh toán cho vợ chồng ông
T, bà M số tiền 618.000.000 đồng, với phương thức như bà H xin trả cho ông T,
M mỗi năm 100.000.000 đồng cho đến khi dứt số tiền 618.000.000 đồng.
Bắt đầu trnợ ngày 15/12/2025. Trno ngày 15 ơng lịch. Mặc dù, H
đang chấp hành án nhưng chồng bà H ông Nguyễn Hữu L vẫn n khả năng tr
nợ cho vợ chồng ông T, M.
Ông H1 để cho ông L1 đứng ra nhận lại 01 giấy chứng nhận QSD
đất số: W 361509 do UBND huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang cấp cho bà
Thị Sáu (Mẹ ông H1) ngày 22/12/2003 hiện nay vợ chồng ông T, bà M đang
giữ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hà L1 (Con cụ Sáu) có ý
kiến HĐXX xem xét buộc vợ chồng ông T, bà M trả lại cho Người đại diện ông
L1 01 giấy chứng nhận QSD đất số: W 361509 do UBND huyện Vĩnh
Thuận, tỉnh Kiên Giang cấp cho bà Lê Thị Sáu ngày 22/12/2003.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thị N (Con cụ Sáu) thống
nhất với lời trình bày của ông Lê Hà L1.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo pháp luật ttụng: Từ khi thụ vụ án đến thời điểm
nghị án HĐXX, Thẩm phán, Thư đã thực hiện chấp hành đúng các quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn ông T, bà M. Buộc vợ chồng bà H, ông L phải trả cho vợ chồng
ông T, M số tiền 618.000.000 đồng lãi suất theo quy định pháp luật. Nếu
vợ chồng ông L, bà H không có khả năng trả nợ thì buộc người bảo lãnh ông H1
phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho vợ chồng ông T, bà M.
Về án phí: Vợ chồng ông L, H phải chịu án phí theo quy định pháp
luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa HĐXX nhận định:
[1]. Về thẩm quyền xét xử: Xét mối quan hệ tranh chấp giữa các đương sự
tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Phần đất tranh chấp
trên địa giới hành chính huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang nên n cứ
7
khoản 3 Điều 26, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa
án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang thụ giải quyết đúng
thẩm quyền.
[2]. Về thủ tục t tụng:
2.1. Về sự có mặt ca các đương sự:
Bị đơn ông Nguyễn Hữu L người quyền lợi nghĩa vliên quan bà
Lê Thị Đ, ông Lê Văn H2, ông Lê Giang S, Lê Thị T1 có đơn đề nghị Tòa án
xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015,
Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với ông Nguyễn Hữu L, Đ,
ông H2, ông S, bà T1.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị L1 (Vợ ông H1)
được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia xét xử nhưng vắng mặt
không do. Tại phiên tòa ông H1 trình bày ông giao tận tay cho L1
thông báo tham gia tố tụng và các giấy triệu tập của Tòa án cho bà L1, nhưng do
bận việc gia đình nên không đến Tòa án. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử v án vắng mặt đối với bà L1.
2.2. Về việc tham gia tố tụng: Sau khi bà H nhận chuyển nhượng QSD đất
của vợ chồng ông T, M, phần đất theo giấy chứng nhận QSD đất số: BA
095983, diện tích 1.097,4 m
2
, tọa lạc ấp Minh Tiến, Minh T3, huyện U Minh
T4, tỉnh Kiên G, do UBND huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang cấp cho
Phạm Cẩm Chi ngày 27/10/2010, bà H đã m thủ tục đánh biến động sang tên
H. Sau đó H sang nhượng phần đất này cho ông Trương Minh S1, ông S1
làm thủ tục đánh biến động sang tên ông S1 ngày 20/8/2021. Nên Tòa án Thông
báo cho ông S1 tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan nhưng ông S1 đơn xin tchối tham gia tố tụng ngày 07/6/2024, ông
cho rằng việc tranh chấp giữa nguyên đơn ông T, M với bị đơn H, ông L
ông H1 các bên tự giải quyết, ông S1 không liên quan. Đồng thời, ông S1
cũng không yêu cầu trong vụ án này. Do đó, Tòa án xét thấy không cần thiết
phải đưa ông S1 vào tham gia tố tụng với cách người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan.
[3]. Về quan hệ pháp luật: Tranh chấp giữa nguyên đơn ông Đình T,
Nguyễn Thị Thu M với bị đơn ông Nguyễn Hữu L, ThH, ông Văn
H1 và người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị L1 (Vợ ông H1),
ông Văn H2, ông L1, Thị T1, Thị N, Thị Đ ông
Giang S tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Cụ thể,
vợ chồng ông T, M yêu cầu vợ chồng H, ông L ông H1 thanh toán tiền
8
nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất còn thiếu 618.000.000 đồng lãi
suất theo các bên thỏa thuận từ ngày 02/7/2021 đến khi Tòa án xét xử.
[4]. Về nội dung tranh chấp:
Ngày 28/6/2013 vợ chồng ông T, bà M có nhận chuyển nhượng một phần
đất vợ chồng ông Sự, Chi theo giấy chứng nhận QSD đất số: BA 095983,
diện tích 1.097,4m
2
, tọa lạc ấp Minh Tiến, xã Minh T3, huyện U Minh T4, tỉnh
Kiên G. Ngày 04/6/2019 vợ chồng ông T, M sang nhượng lại phần đất này
cho H, với giá 798.600.000 đồng. Sau đó, H thanh toán cho vợ chồng
ông T, M được số tiền 180.600.000 đồng; còn lại số tiền 618.000.000 đồng.
Vợ chồng ông T, M giao cho H 01 giấy chứng nhận QSD đất số: BA
095983, diện tích 1.097,4m
2
, tọa lạc ấp Minh Tiến, Minh T3, huyện U Minh
T4, tỉnh Kiên Gcác giấy tờ liên quan để bà H đi làm giấy tờ trực tiếp với Chi
nhánh văn phòng đăng đất đai huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.
Đồng thời, bà H giao cho vợ chồng ông T, M giấy chứng nhận QSD đất số:
W 361509 do UBND huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang cấp cho Thị
Sáu (Mẹ bà H) ngày 22/12/2003 để làm tin. Ngày 10/6/2019, bà H đã được đánh
biến động sang tên H, nhưng H chưa thanh toán tiền sang đất cho vợ
chồng ông T, M. Hiện H còn nợ ông T, M tiền sang đất 618.000.000
đồng. Nhiều lần, bà H viết giấy cam kết thanh toán cho vợ chồng ông T, bà M số
tiền 618.000.000 đồng nhưng bà H không thực hiện. Ngày 02/01/2021 bà H tiếp
tục viết giấy cam kết, cùng với ông H1 (Em H) đứng ra bảo nh thanh toán
cho vợ chồng ông T, M, số tiền 618.000.000 đồng. vậy, vợ chồng ông T,
M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất nêu trên đối với vợ chồng bà H, ông L và ông H1.
Việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được xem xét trên
sở các tài liệu, chứng cứ do các đương sự cung cấp và do Tòa án thu thập.
[5]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T, M HĐXX, nhận
thấy: Căn cứ vào Biên nhận đặt cọc bán đất giữa vợ chồng ông T, M H
lập ngày 04/6/2019. Vợ chồng ông T, bà M sang nhượng cho H phần đất
theo giấy chứng nhận QSD đất số: BA 095983, diện tích 1.097,4m
2
, tọa lạc ấp
Minh Tiến, Minh T3, huyện U Minh T4, tỉnh Kiên G, do UBND huyện U
Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang cấp cho bà Phạm Cẩm Chi ngày 27/10/2010. Do
phần đất này ông T, M nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Sự, Chi
nhưng chưa sang tên cho vợ chồng ông T, M nên khi ông T, M sang lại
cho H tvợ chồng ông T, M để cho H làm thủ tục trực tiếp với Chi
nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang. Ngày
9
10/6/2019 H đã được đánh biến động sang tên H theo quy định luật đất
đai.
Về hình thức nội dung của hợp đồng. Mặc dù, các bên giao kết hợp
đồng vi phạm về hình thức hợp đồng, nhưng các bên đã thống nhất với nhau
toàn bộ nội dung trong hợp đồng. Nguyên đơn ông T, M đã giao phần đất
trên cho bị đơn H H đã đánh biến động sang tên theo quy định pháp
luật. H thanh toán cho vợ chồng ông T, M được một phần giá trị hợp
đồng với số tiền 180.600.000 đồng, còn lại số tiền 618.000.000 đồng đến nay
chưa thanh toán, việc này các bên đều thừa nhận. Các bên thực hiện giao đất cho
nhau xong, chỉ còn tranh chấp về nghĩa vụ thanh toán tiền sang đất
618.000.000 đồng, mà phía bị đơn H chưa thanh toán cho nguyên đơn ông T,
bà M.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 23/5/2024 bị đơn H trình bày: H thừa
nhận có nhận chuyn nhượng quyn sử dụng đất của vợ chồng ông T, M, tọa lạc
ấp Minh Tiến, Minh T3, huyện U Minh T4, tỉnh Kiên G, với giá khoảng
800.000.000 đồng, hiện H còn nợ vợ chồng ông T, M tiền mua đất
618.000.000 đồng, chịu tiền lãi suất theo quy định pháp luật. H đồng ý trả
cho vchồng ông T,M ngốc 618.000.000 đồng nng xin ông T, M không
nh tiền lãi suất; còn nợ gốc 618.000.000 đồng H sẽ trả cho vợ chồng ông T,
M với hình thức mỗi năm 100.000.000 đồng đến khi dứt nợ. Bắt đầu trả nợ ngày
15/12/2025. Trả nợ vào ngày 15 ơng lịch, nhưng phía nguyên đơn ông T, M
không đồng ý. Vợ chồng ông T, bà M sang nhượng đất cho H từ năm 2019 đến
nay đã hơn 04 năm ông, bà đã cho bà H n 10 lần viết giấy cam kết thanh tn
tiền nhận chuyển nhượng đất với số tiền 618.000.000 đồng, nhưng đến nay vẫn
không thanh toán. Vchồng ông T, M không còn tin tưởng H nên ông,
yêu cầu vchồng H, ông Nguyễn Hữu L thanh toán dứt số tiền 618.000.000
đồng i suất c bên thỏa thuận 9.000.00/tng. Nếu vợ chồng H, ông L
không có khả năng thanh tn tyêu cầu nời bảo lãnh ông H1 có nghĩa vụ thanh
toán cho vợ chồng ông T, M. XX nhận thấy, c bên đã thống nhất bị đơn
n thiếu tiền mua đất của ngun đơn ông T, M 618.000.000 đồng, thuộc
trường hợp những nh tiết, sự kiện không phải chứng minh theo Điu 92 của Bộ
luật tố tụng n sự năm 2015, các bên chn tranh chấp vphương thức thanh
toán.
XX cho rằng: Theo quy định tại mục 1, phần II, Thông tư liên tịch số
01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao Viện kiểm sát nhân dân
tối cao Bộ tư pháp Bộ tài chính hướng dẫn việc xét xử thi hành án về tài
10
sản quy định Tòa án không tự ấn định trong bản án, quyết định thời điểm
hoặc thời hạn bên nghĩa vụ thi hành”. Do đó, việc H xin thanh toán cho
vợ chồng ông T, M với hình thức mỗi năm số tiền 100.000.000 đồng
không có cơ sở để HĐXX chấp nhận.
[6]. Về phần tiền lãi suất: Theo giấy cam kết ngày 02/01/2021 của H,
cùng với ông H1 cam kết với vợ chồng ông T, M đến ngày 02/7/2021, H
sẽ thanh toán cho ông T, M stiền 618.000.000 đồng, nếu không thì H
chịu tiền lãi suất 9.000.000đ/tháng. Tại phiên tòa vợ chồng ông T, bà M yêu cầu
tính lãi suất theo thỏa thuận 9.000.000đ/tháng, từ ngày 02/7/2021 đến Tòa án xét
xử, XX nhận thấy: Việc tự thỏa thuận giữa các bên đương sự phù hợp với
quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 (Không quá
20%/m, tương ứng 1,66%/tháng). Như vy, các n thỏa thuận i suất
9.000.000đ/tháng, tương đương vi 1,456%/tháng, n XX chấp nhận.
Lãi suất được tính tny 02/07/2021 đến t xngày 20/9/2024 là:
9.000.000đ/tháng x 38 tng 18 ngày = 347.400.000 đồng.
Như vy, bà H còn n v chồng ông T, bà M là 965.400.000 đồng.
Trong đó, nợ gc 618.000.000 đồng, ni 347.400.000 đồng.
[7]. Vtrách nhiệm trả nợ chung của vchồng:
Tại bn bản lấy lời khai ny 07/7/2023 bị đơn ông Nguyn Hữu L (Chồng
H) cho rằng ông L kng ln quan đến ván của vợ chồng ông T, bà M
đang khởi kiện tại Tòa án nhân n huyện U Minh Thượng.
Tại biên bản lấy lời khai ny 23/5/2024 b đơn H c định, việc H
nhận chuyn nợng phần đất của vợ chồng ông T, M thì ông L không biết,
nhưng khi đánh biến động sang n H thì ông L biết ông L đồng tình. Sau
đó, ông L có thiết kế câyng và ng làm cây xăng, kinh doanh xăng, dầu với
H trên phần diện ch đất này. Ngoài ra, trong tờ giấy cam kết trnợ cho ông T,
M của H ny 21/02/2020 ngày 18/9/2020 (t lụt số 19-20) ông L có
chứng kiến việc bà H n nợ tiền mua đất của vợ chồng ông T, bà M
618.000.000 đồng; tờ thỏa thuận của ông L ngày 08/12/2021 về việc ông L cho vợ
chồng ông H1, L1 thphần đất, gắn liền với cây xăng (Bút lục số 153), mà
diện ch đất này bà H đã nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông T, M. Ông L là
người trực tiếp y dựng cây ng kinh doanh ng, dầu trền phần đất này. Do
đó, theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nn và gia đình quy định “Vợ, chồng chịu
trách nhiệm ln đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1
Điều 30Điều 37 của Luật này”. Tại khoản 1 Điều 30 Vợ chồng quyền,
nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình
11
khoản 2 Điều 37 Nghĩa vụ do vợ chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết
yếu của gia đình”. Do vậy, đủ cở sở đbuộc vợ chồng H, ông L ng liên
đới trcho vợ chồng ông T, bà M tổng số tiền 965.400.000 đồng. Nếu vợ chồng
H, ông L không còn tài sản thanh toán thì người bảo lãnh ông H1 phải
trách nhiệm trả số tiền trên cho vợ chồng ông T, M theo quy định tại Điều
335, Điều 342 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Từ những sở trên thấy rằng bà H bên nhận chuyển nhượng QSD đất
của vợ chồng ông T, M nhưng H chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán
các bên thỏa thuận, vi phạm quy định tại Điều 351, Điều 353 của Bộ luật dân
sự năm 2015. Do đó, yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông T, M đòi H
thanh toán tiền nhận chuyển nhượng quuyền sử dụng đất còn thiếu, với tiền gốc
là 618.000.000 đồng là có căn cứ, nên HĐXX chấp nhận.
Đối với bà Nguyễn Thị Loan (Vợ ông Hội) thì bà không biết việc ông Hội
bảo lãnh ncho vợ chồng ông Lâm, Hồng đối với số tiền 618.000.000 đồng.
Nếu Loan biết ông Hội bảo lãnh số tiền 618.000.000 đồng cho vợ chồng ông
Thông, bà Mới tbà ngăn cản, nên Loan không đồng ý cùng với ông Hội
bảo lãnh trả nợ cho vợ chồng ông Thông, Mới số tiền 618.000.000 đồng. Tại
phiên tòa nguyên đơn ông Thông, Mới không yêu cầu bà Loan trả số tiền
618.000.000 đồng, nên HĐXX không xem xét nghĩa vLoan trả nợ cho vợ
chồng ông Thông, bà Mới trong vụ án này.
[8]. t, việc người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ThĐ, ông
Văn H2, Thị N, ông L1, ông Giang S, Thị T1 ý kiến
HĐXX xem xét buộc vợ chồng ông T, M trả lại cho người đại diện ông
L1 01 giấy chứng nhận QSD đất số: W 361509, diện tích 23.235m
2
, tọa lạc
ấp Minh Tân, Minh Thuận, huyện Vĩnh Thuận (Nay thuộc huyện U Minh
Thượng), tỉnh Kiên Giang, do UBND huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang cấp
cho Thị Sáu ngày 22/12/2003. Nguyên đơn ông T, M đồng ý trả cho
người đại diện ông Lê Hà L1 01 giấy chứng nhận QSD đất số: W 361509 khi vợ
chồng H, ông Nguyễn Hữu L thanh toán xong s tiền 618.000.000 đồng,
HĐXX nhận thấy: Giấy chứng nhận QSD đất số: W 361509 đứng tên cụ Lê Thị
Sáu, nay cụ Sáu, cụ Phò (Chồng cụ Sáu) đã chết nên những hàng thừa kế quyền
nghĩa vụ của cụ Sáu, cụ Phò gồm các con của cụ: Thị Đ, ông Văn
H2, Thị N, ông L1, ông Giang S, Thị T1, Thị H
ông Lê Văn H1. Hiện giấy chứng nhận số W 361509, bà H đã giao cho vợ chồng
ông T, M cất giữ, việc này ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của của bà
Đ, ông H2, bà Nga, ông L1, ông S, bà T1 và ông H1, nên thiết nghĩ cần buộc v
12
chồng ông T, M phải trả cho người đại diện ông L1 01 giấy chứng
nhận QSD đất số W 361509 là phù hợp.
t li đ nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh
Thượng, cũng như lời đ nghcủa vị Lut sư Trần Văn Chính bảo vquyền
lợi ích hợp pháp của ngun đơn phù hợp với nhận định của XX, nên
chấp nhận.
[9]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Vợ chồng ông Nguyễn Hữu L, bà Lê Thị H
phải chịu án phí dân sự thẩm gngạch: 36.000.000đ + (165.400.000đ x
3%) = 40.962.000 đồng (Bốn mươi triệu, chín trăm sáu mươi hai nghìn đồng).
Hoàn trả cho ông Đình T, Nguyễn Thị Thu M số tiền tạm ứng án
phí 14.360.000 đồng, theo biên lai thu s: 0000603 ngày 12/01/2021 của Chi
cục Thi hành án dân sự huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các khoản 3 Điều 26, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91,
Điều 92, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Áp dụng Điều 335, Điều 342, Điều 351, Điều 353, Điều 357, Điều 468
Điều 500 của Bộ luật dân snăm 2015; Điều 27, Điều 30 Điều 37 Luật
Hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đình T,
Nguyễn Thị Thu M đối với bị đơn ông Nguyễn Hữu L, Thị H, ông Lê
Văn H1 người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị L1, Thị
Đ, ông Văn H2, Thị N, ông L1, ông Giang S, Thị T1
về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
2. Buộc vợ chồng ông Nguyễn Hữu L, Thị H chịu trách nhiệm liên
đới trả cho vợ chồng ông Lê Đình T, bà Nguyễn Thị Thu M số tiền 965.400.000
đồng (Cn trăm sáu mươi lăm triu, bốn trăm nghìn đồng).
Nếu vợ chồng ông Nguyễn Hữu L, H không còn tài sản để thi hành án
thì ông Văn H1 phải trách nhiệm trả nợ cho vợ chồng ông T, M thay
cho vợ chồng ông L, bà H.
13
Các bên trực tiếp giao nhận tiền hoặc giao nhận tại Chi cục Thi hành án
Dân sự huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền n phải thi hành
án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Buộc vợ chồng ông Đình T, Nguyễn Thị Thu M trả cho
Thị Đ, ông Văn H2, Thị N, ông L1, ông Giang S, Thị
T1, bà Lê Thị H và ông Lê Văn H1 Người đại diện ông Lê Hà L1 01 bản chính
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: W 361509, diện tích 23.235m
2
, tọa lạc
ấp Minh Tân, Minh Thuận, huyện Vĩnh Thuận (Nay thuộc huyện U Minh
Thượng), tỉnh Kiên Giang, do Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên
Giang cấp cho bà Lê Thị Sáu ngày 22/12/2003.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Vợ chồng ông Nguyễn Hữu L, Thị H phải chịu án phí dân sự
thẩm giá ngạch 40.962.000 đồng (Bốn mươi triệu, chín trăm sáu mươi hai
nghìn đồng).
Hoàn trả cho ông Đình T, Nguyễn Thị Thu M số tiền tạm ứng án
phí 14.360.000 đồng, theo biên lai thu s: 0000603 ngày 12/01/2021 của Chi
cục Thi hành án dân sự huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.
5. Quyền kháng cáo: Các đương sự mặt tại phiên tòa quyền kháng
cáo bản án trong thời hạn 15 ngày ktừ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại
phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống
đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự, sửa đổi bổ sung thì người được thi hành án dân sự,
người phải thi hành án dân sự quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu
thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại
các Điều 6, 7, 7a, 7b Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, sửa đổi bổ sung. Thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân
sự, sửa đổi bổ sung.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án nhân dân tỉnh KG; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện kiểm sát nhân dân H. UMT; (Đã ký, đóng dấu)
- Chi cục Thi hành án DS H. UMT;
- Các đương sự;
- Lưu.
14
Danh Hoàng
Tải về
Bản án số 50/2024/DS-ST Bản án số 50/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 50/2024/DS-ST Bản án số 50/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất