Bản án số 1130/2026/DS-PT ngày 03/06/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1130/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1130/2026/DS-PT ngày 03/06/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 1130/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 03/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn bà Bùi Thị Kim L.2. Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Lê Văn T1 và bà Thịnh Thị T2.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1130/2026/DS-PT Bản án số 1130/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1130/2026/DS-PT Bản án số 1130/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 1130/2026/DS-PT
Ngày: 03/6/2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Bà Đinh Thị Mộng Tuyết
Ông Đào Minh Đa
Ông Nguyễn Trung Dũng
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Hùng Cường - Thư ký Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Ông Lê Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 27 tháng 5 và 03 tháng 6 năm 2026, tại trụ sTòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh, tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ
số 716/2026/TLPT-DS ngày 13 tháng 4 năm 2026 về việc: Tranh chấp quyền sử
dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2026/DS-ST ngày 07 tháng 01 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm s2605/2026/QĐXXPT-DS ngày
21 tháng 4 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 6835/2026/QĐ-PT
ngày 12 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bùi Thị Kim L, sinh năm 1976; địa chỉ: khu H, khu phố B,
phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Hữu T, sinh năm 1981; địa
chỉ: số D, khu phố B, phường B, Thành phố HChí Minh; người đại diện theo
ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 07/01/2025); có mặt.
-Bị đơn: Ông Trương Tiến C, sinh năm 1980; địa chỉ: số B, đường A, tổ E, khu
phố A, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp ca bị đơn: Ông Trương Văn C1, sinh năm 1980; địa
chỉ: tổ A, L, H, Thành phố Hà Nội; địa chỉ liên hệ: số D, đường N, phường S, Thành
phố Hồ Chí Minh; người đại diện theo ủy quyền (Giấy y quyền ngày 17/6/2025);
có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan.
2
1. Bà Bùi Thị S, sinh năm 1971 và ông Phạm Văn C2, sinh năm 1970; địa chỉ:
số B, đường A, tổ E, khu phố A, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh; bà S có mặt,
ông C2 vắng mặt.
2. Thị L1, sinh năm 1989; địa chỉ: số B, đường A, tổ E, khu phố A,
phường A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
3. Ông Văn T1, sinh năm 1981 và bà Thịnh Thị T2, sinh năm 1986; địa chỉ:
số A, khu phố C, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Văn T1 và bà Thịnh Thị T2: Nguyễn Thị X, sinh năm 1994; địa chỉ: khối A,
K, tỉnh Quảng Trị; địa chỉ liên hệ: số E, đường Đ, Ngã ba C, khu phố Đ, phường D,
Thành phố Hồ CMinh; người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày
12/3/2026); có mặt.
4. Ông Phạm Thanh X1, sinh năm 1975; địa chỉ: khu H, khu phố B, phường B,
Thành phố Hồ Chí Minh; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Bùi Thị Kim L, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan ông Lê Văn T1 và bà Thịnh Thị T2.
- Viện Kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 16
Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình tố tụng tại phiên tòa, người
đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thống nhất trình bày:
Bùi Thị Kim L ông Phạm Thanh X1 người sdụng hợp pháp thửa đất
số 491, tờ bản đồ số 182 (D4), tọa lạc tại khu phố A, phường A, Thành phố Hồ Chí
Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BĐ 075316, số vào sổ
cấp Giấy chứng nhận CH01307/AP ngày 27/12/2010. Thửa đất này tiếp giáp thửa
480, tờ bản đồ số 182 do ông Trương Tiến C và bà Vũ Thị L1 quản lý sử dụng.
Trước đây, bà L và ông X1 xây dựng một căn nhà cấp 4 nhưng xây nhầm sang
thửa đất 492 của ông Trần Minh H. Khi phát hiện nhầm lẫn, bà L đã tự tháo dỡ
trả lại đất cho ông H. Riêng thửa 491 thuộc quyền sử dụng của bà Lông X1 thì
ông C, bà L1 xây dựng nhà trên đất. Thời điểm ông C và bà L1 xây nhà, bà L đang
xây dựng trên phần đất của ông H; giữa hai căn nhà của ông C2, bà S và bà L, ông
X1 còn đất trống nên ông C đã xây dựng công trình trên phần đất 491.
Theo kết quả đo vẽ chuyên môn, diện tích nhà cấp 4 do ông C, L1 y dựng
trên đất của bà L, ông X1 là 40m², diện tích nhà tạm là 32,5m². Bà L nhiều lần yêu
cầu ông C tháo dỡ công trình, trả lại đất nhưng ông C không thực hiện. Do hành vi
vi phạm kéo dài, L đề nghị Ủy ban nhân dân phường A tổ chức hòa giải. Ngày
29/5/2024, tại buổi hòa giải, ông C thừa nhận xây dựng sai và cam kết tháo dỡ, trả
lại đất trong thời hạn 60 ngày. Tuy nhiên, hết thời hạn cam kết, ông C vẫn không
chấp hành và tiếp tục chiếm giữ đất.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu:
3
Buộc ông Trương Tiến C chấm dứt hành vi chiếm dụng, sử dụng trái pháp luật
và trả lại phần đất thuộc thửa 491, tờ bản đồ số 182 (D4).
Buộc ông Trương Tiến C tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trái phép, gồm
40m² nhà cấp 4 và 32,5m² nhà tạm.
Buộc ông Trương Tiến C thanh toán cho nguyên đơn 3.000.000 đồng/tháng kể
từ khi hết thời hạn 60 ngày theo biên bản hòa giải ngày 29/5/2024 đến khi vụ án
được giải quyết; số tiền tạm tính đến ngày 07/01/2026 là 34.000.000 đồng.
Tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp gồm: Biên bản hòa giải (bản sao
y); quyết định đình chỉ trích lục quyết định đình chỉ (bản sao y); Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất (bản sao y); căn cước công dân (bản sao y)…
Trong quá trình tố tụng, bị đơn người đại diện theo ủy quyền của ông
Trương Tiến C thống nhất trình bày:
Thống nhất theo kết quả đo đạc định giá do Tòa án thu thập, ông C cho rằng
yêu cầu khởi kiện của Bùi Thị Kim L không có cơ sở. Thửa đất s479 do ông
Phạm Văn C2 và bà Bùi Thị S Sao quản lý đã được xây dựng nhà kiên cố từ trước;
ông C người mua và xây dựng sau, việc xây dựng nhà của ông C sử dụng tường
nhà ông C2, bà S làm ranh giới. Khi ông C nhận chuyển nhượng thửa đất số 480 thì
hai bên đã ntường xây ranh giới ràng. Tại thời điểm ông C xây dựng,
chỉ còn lại phần đất trống giữa, ông C xây dựng nhà theo đúng giấy phép xây dựng
hoàn toàn không đồng ý trả lại đất như phía nguyên đơn yêu cầu. Ngoài ra, khi
ông C xây dựng nhà, cả bà L và ông C2, bà S đều đã xây dựng công trình kiên cố;
quá trình xây dựng đều có sự kiểm tra, đo đạc và xác minh ca cán bộ địa chính.
Ông C là người sử dụng hợp pháp thửa đất số 480, tờ bản đồ số 182 tại đường
A, TE, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh. Các thửa đất liền kề gồm thửa 479
do ông Phạm Văn C2 quản lý và thửa 491 do Bùi Thị Kim L sử dụng; cả ba thửa
đều đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong giai đoạn từ năm 2010
đến năm 2017 và đều đã xây dựng ổn định.
Ông C khẳng định toàn bộ yêu cầu khởi kiện của L không căn cứ,
không hành vi xây dựng lấn chiếm đất của L. Căn nhà của ông C được xây
dựng trên phần đất hợp pháp đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
giấy phép xây dựng. Trước khi xây dựng, cán bộ địa chính đã tiến hành đo đạc
và xác định ranh giới giữa các thửa đất. Việc xác định ranh giới trong quá trình thi
công đều căn cứ theo hiện trạng thực tế đã tồn tại ổn định từ trước. Do đó, việc bà
L cho rằng ông C lấn chiếm đất là không đúng sự thật.
Đại diện ông C trình bày quá trình xác minh và giải quyết vụ án hiện nay vn
chưa đầy đủ. Mặc dù đã tham gia các buổi hòa giải tại phường và tại Tòa, nhiều vấn
đề quan trọng về ranh giới đất giữa các hộ vẫn chưa được làm rõ. Đặc biệt, bản án
trước đây liên quan đến phần đất 3,5m của ông Phạm n C2 chưa được thi
hành, dẫn đến việc ranh giới chung giữa các thửa đất chưa được xác lập rõ ràng và
thống nhất. Nguồn gốc tranh chấp xuất phát từ việc n bộ địa chính trước đây
không cắm mốc ranh giới chính xác, dẫn đến sự chồng lấn, thiếu nhất quán trong
quá trình quản lý đất.
4
Để giải quyết triệt đvviệc, cần rà soát toàn bộ quá trình bàn giao mặt bằng,
đo đạc ranh giới thực tế quản đất của ba thửa đất liên quan từ trước đến nay.
Chỉ khi quan chuyên môn Tòa án xác định lại chính xác ranh giới từng thửa
đất, phù hợp với hồ địa chính hiện trạng sử dụng, thì tranh chấp mới thể
được giải quyết dứt điểm, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các bên.
Vì những lý do trên, ông C đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
Bùi Thị Kim L buộc L bồi thường thiệt hại về danh dự, thời gian do việc
tố cáo sai sự thật gây ra. Ông C cũng đề nghị Tòa án đưa đầy đủ các cá nhân và cơ
quan liên quan vào tham gia ttụng, gồm: ông Phạm Văn C2, Bùi Thị Kim
L, cán bộ địa chính phường A từ năm 2010 đến nay và cơ quan thi hành án dân sự
có thẩm quyền, nhằm làm rõ quá trình quản lý đất và tình trạng thi hành bản án liên
quan đến phần đất dư 3,5m giáp nhà ông C2.
Ông C đề nghị cơ quan thi hành án có văn bản trả lời chính thức về tiến độ và
kết quả thi hành bản án đối với phần đất nêu trên; đồng thời đề nghị Tòa án giải
thích rõ ràng nếu có lý do không đưa đầy đủ các cá nhân, cơ quan liên quan vào v
án để ông C thực hiện quyền giám sát, khiếu nại theo quy định. Ông C là người xây
dựng sau cùng, nếu có sai sót về ranh giới thì nguyên nhân thuộc về quá trình quản
đất đai của quan nhà nước việc xây dựng trước đó của các hộ dân, không
phải lỗi của ông C. Do vậy đề nghị Tòa án xác định trách nhiệm của ông C2 và bà
L, đồng thời buộc họ bồi thường thiệt hại vật chất và tinh thần cho ông C.
Tài liệu, chứng cứ ông C cung cấp: Giấy phép xây dựng, biên bản xác minh
địa điểm xây dựng và thông báo ngày khởi công xây dựng công trình (bản sao).
Trong quá trình tố tụng, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Thị S
trình bày:
Vợ chồng ông Phạm Văn C2 i Thị S quản lý, sử dụng thửa đất số 479,
tờ bản đồ số 182 tại khu phố A, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2011,
ông nhận chuyển nhượng thửa đất này. Khi nhận đất, bên chuyển nhượng bàn
giao ranh giới bằng các cọc sắt xác định mc rõ ràng.
Khoảng năm 2012–2013, thửa đất liền kề của ông Nguyễn Tiến N ông H1
xảy ra tranh chấp và được Tòa án giải quyết. Trong thời gian này, đất của ông C2,
S vẫn để trống. Khi Tòa án giải quyết tranh chấp giữa ông H1 và ông N, cán bộ
địa chính phường A ông H2 mời vchồng ông giáp ranh. Lúc này, địa
chính xác định ranh giới thửa đất của ông không trùng với mốc bên bán đã
bàn giao, mà bị dịch chuyển sang phải khoảng 3 m ngang về phía đất nhà ông C để
giao diện tích cho ông N.
Năm 2014, ông bà xây nhà theo đúng ranh giới mới do địa chính chỉ dẫn, đến
năm 2016, ông C xây nhà liền kề, giáp tường nhà bà S. Bà S xác định mốc đất ban
đầu do bên bán chỉ đúng, còn sai lệch hiện nay do việc giải quyết tranh chấp
giữa ông H1 và ông N của Tòa án và cán bộ địa chính phường. vậy, S đề nghị
các quan này phải chịu trách nhiệm. Hiện nay, phần đất của S ông C2 đã
được bản án của Tòa án thị Thuận An giao cho ông N, nên yêu cầu Tòa án giải
quyết vụ án theo quy định pháp luật.
5
Tài liệu, chứng cứ do bà S cung cấp: Giấy phép xây dựng, thông báo khởi công
(bản photocopy)…
Trong quá trình tố tụng, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm
Thanh X1 trình bày:
Ông X1 là chồng của bà Bùi Thị Kim LLiên; phần đất L khởi kiện ông C là
tài sản chung của vợ chồng ông X1. Ông X1 thống nhất với nội dung đơn khởi kiện
của nguyên đơn, cụ thể: Vợ chồng ông X1 là chủ sử dụng thửa đất số 491, tờ bản
đồ số 182 (D4), Giấy chứng nhận số CH01307/AP ngày 27/12/2010, tại phường A,
thành phố T, tỉnh Bình Dương. Thửa đất này giáp thửa số 480, tờ bản đồ số 182 do
ông Trương Tiến C sử dụng. Hiện ông C xây dựng công trình trái phép lấn sang đất
của gia đình ông X1, diện tích khoảng trên 80 m².
Gia đình ông X1 đã nhiều lần yêu cầu ông C tháo dỡ và trả lại đất, nhưng ông
C chỉ hứa hẹn và không thực hiện. Do sự việc kéo dài, ông X1 gửi đơn đến UBND
phường A đề nghị hòa giải. Ngày 29/5/2024, UBND phường đã tổ chức hòa giải;
tại đây, ông C thừa nhận sai, đồng ý tháo dỡ công trình và trả lại đất, đồng thời xin
thời hạn 60 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành. Tuy nhiên, quá thời hạn
nêu trên, ông C vẫn không thực hiện.
Nay ông X1 thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Kim L.
Do bận công việc nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình
tố tụng tại cấp sơ thẩm hoặc phúc thẩm (nếu có).
Trong quá trình ttụng, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T1
và bà Thịnh Thị T2 trình bày:
Trước đây, vợ chồng ông T1, T2 quản lý, sử dụng thửa đất số 480, tờ bản
đồ số 182, tọa lạc tại khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Khi
nhận chuyển nhượng, thửa đất đất trống; cạnh phía Nam phía Bắc đều đã
nhà xây dựng ổn định. Thời điểm mua, ông T1, T2 thấy thực tế đất chiều
ngang khoảng 6,6 m, trong khi giấy chứng nhận thể hiện 5 m; nghĩ rằng phần dư là
theo hiện trạng sử dụng nên không thắc mắc.
Do thửa đất không hợp hướng làm ăn nên ông T1 và bà T2 đã chuyển nhượng
lại cho ông C. Ông T1, bà T2 chỉ người nhận chuyển nhượng xác định ranh
đất dựa theo vị trí tường nhà của ông C2, bà S. Nay phát sinh tranh chấp giữa các
thửa đất, ông T1, T2 xác định không trách nhiệm, được biết đất của ông
C2, S đã được địa chính cắm mốc đúng việc xác định ranh đất khi chuyển
nhượng dựa trên mốc nhà S. Việc giao đất cho ông C hoàn toàn căn cứ vào
hiện trạng các thửa đất liền kề vốn đã công trình xây dựng nên ông T1, T2
không trách nhiệm gì trong tranh chấp này. Do đất đã chuyển nhượng từ lâu
đã trình bày đầy đủ ý kiến với Tòa án, ông T1, bà T2 đề nghị được giải quyết vắng
mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị S, ông Phạm Văn C2 và bà
Thị L1: Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia quá trình tố tụng tham
gia phiên tòa theo đúng quy định tại các Điều 177, Điều 208, Điều 220, Điều 227
6
và Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng vắng mặt không có lý do, nên không có
ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ
gì.
Tại Bản án dân sự thẩm số 09/2026/DS–ST ngày 07 tháng 01 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 16- Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện ca nguyên đơn – Bùi Thị Kim L
với bị đơn – ông Trương Tiến C về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Buộc ông Trương Tiến C Vũ Thị L1 phải tháo dỡ, di dời 01 phần căn
nhà diện tích 40m
2
diện tích xây dựng (80m
2
diện ch sàn) nhà tạm diện tích
32,5m
2
trên thửa đất 491, tờ bản đồ 182, tọa lạc tại khu phố A, phường A, Thành
phố Hồ Chí Minh để trả lại quyền sử dụng đất cho bà Bùi Thị Kim L và ông Phạm
Thanh X1 tại vị trí A kèm theo sơ đồ bản vẽ.
2. Không chấp nhận yêu cầu của Bùi Thị Kim L đối với yêu cầu ông Trương
Tiến C và bà Vũ Thị L1 bồi thường số tiền 34.000.000 đồng.
3. Buộc ông Văn T1 Thịnh Thị T2 liên đới thanh toán cho ông Trương
Tiến C và bà Vũ Thị L1 số tiền 234.047.520 đồng.
Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo
quyền, nghĩa vụ thi hành án.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 07/01/2026, bà Bùi Thị Kim L có đơn kháng cáo
một phần bản án sơ thẩm.
Ngày 11/3/2026, ông Văn T1 và Thịnh Thị T2 đơn kháng cáo toàn bộ
bản án sơ thẩm.
Ngày 20/01/2026, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 Thành
phố Hồ Chí Minh có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 06/QĐ-VKS-DS kháng
nghị một phần bản án sơ thẩm đối với phần quyết định tuyên buộc ông Lê Văn T1
và bà Thịnh Thị T2 liên đới thanh toán cho ông Trương Tiến C và bà Vũ Thị L1 số
tiền 234.047.520 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn vẫn giữ yêu
cầu kháng cáo, xác định kháng cáo một phần bản án thẩm đối với phần quyết
định không chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị Kim L đối với yêu cầu ông Trương
Tiến C và Thị L1 bồi thường số tiền 34.000.000 đồng chi phí tố tụng
nguyên đơn không tự nguyện chịu như bản án sơ thẩm đã tuyên.
Người đại diện hợp pháp ca ông T1, bà T2 xác định kháng cáo một phần bản
án thẩm đối với phần quyết định buộc ông Văn T1 Thịnh Thị T2 liên
đới thanh toán cho ông Trương Tiến C và bà Vũ Thị L1 số tiền 234.047.520 đồng.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn xác định đồng ý với bản án thẩm đã
tuyên, không kháng cáo bản án thẩm cung cấp biên bản hòa giải tranh chấp
ranh giới đất ngày 17/4/2026 (hòa giải tranh chấp giữa ông C và ông C2).
Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ quyết định kháng nghị.
7
Đại din Vin Kim sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan
điểm:
- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện
đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận Quyết định kháng nghị và
kháng cáo của ông T1, bà T2; không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương
sự, ý kiến của Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Thanh X1 đơn yêu
cầu giải quyết vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn C2,
Thị L1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt
không do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên
theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn xác định chỉ kháng cáo một phần
bản án thẩm đối với phần quyết định không chấp nhận yêu cầu của Bùi Thị
Kim L đối với yêu cầu ông Trương Tiến C Thị L1 bồi thường số tiền
34.000.000 đồng và chi phí ttụng (mục 2 và 5 của bản án thẩm); người đại diện
hợp pháp của ông T1, T2 xác định kháng cáo một phần bản án thẩm đối với
phần quyết định buộc ông Văn T1 bà Thịnh Thị T2 liên đới thanh
toán cho ông Trương Tiến C và bà Vũ Thị L1 số tiền 234.047.520 đồng.
Như vậy, đối với phần quyết định của bản án sơ thẩm tuyên buộc ông Trương
Tiến C Thị L1 phải tháo dỡ, di dời 01 phần căn nhà diện tích 40 m² diện
tích xây dựng (80 m² diện tích sàn) và nhà tạm diện tích 32,5 trên thửa đất 491,
tờ bản đồ 182, tọa lạc tại khu phố A, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh để trả li
quyền sử dụng đất cho Bùi Thị Kim L ông Phạm Thanh X1 tại vị trí A kèm
theo đồ bản vẽ, các đương sự không kháng cáo, Viện Kiểm sát không kháng nghị
và người đại diện hợp pháp của bị đơn xác định đồng ý với quyết định trên, không
kháng cáo. Do đó, phần quyết định của bản án sơ thẩm nêu trên đã phát sinh hiệu
lực pháp luật. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 293 của Bluật Tố tụng dân sxem
xét trong phạm vi kháng cáo của bà L; ông T1, bà T2 nội dung kháng nghị theo
Quyết định kháng nghị.
[3] Về tố tụng: Tòa án cấp thẩm căn cứ vào Hợp đồng ủy quyền ngày
18/3/2024 để xác định ông T với tư cách là người đại diện cho bà L không đúng
phạm vi ủy quyền trên chỉ ủy quyền cho ông T tham gia tại Ủy ban nhân dân
phường A, không ủy quyền tham gia tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm. Như vậy, Tòa
án cấp thẩm vi phạm tố tụng; tuy nhiên tại Tòa án cấp phúc thẩm, ông T
cung cấp Hợp đồng ủy quyền ngày 07/01/2025 thể hiện L ủy quyền cho ông T
tham gia tố tụng trong vụ án trên. Do đó, vi phạm tố tụng trên đã được khắc phục,
Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
8
[4] Đối với kháng cáo của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Trương Tiến C
Vũ Thị L1 bồi thường số tiền 34.000.000 đồng và chi phí tố tụng:
[4.1] Theo nội dung Biên bản hòa giải ngày 29/5/2024 thể hiện: Ông C đồng ý
trả lại phần đất xây dựng nhà cho bà L trong vòng 60 ngày kể từ ngày lập biên bản.
L cho rằng hết thời hạn trên, ông C không thực hiện giao đất cho L dẫn đến
L phải thuê nnên ông C phải bồi thường thiệt hại số tiền thuê nhà. Xét thấy, bà L
không chứng minh được thiệt hại cũng như lỗi của ông C là nguyên nhân bà L phải
thuê nhà để phát sinh trách nhiệm bồi thường của ông C. Do đó, Tòa án cấp
thẩm không chấp nhận yêu cầu trên là có căn cứ theo quy định tại Điều 584 của Bộ
luật Dân sự.
[4.2] Về chi phí tố tụng: Theo hồ sơ, Tòa án cấp thẩm thu tạm ứng chi phí
tố tụng là 12.000.000 đồng (bút lục 405). Theo quy định tại Điều 157 Điều 165
của Bộ luật Tố tụng dân sự thì yêu cầu khởi kiện của bà L với ông C chỉ được chấp
nhận một phần nên nguyên đơn phải chịu. Do đó, kháng cáo của bà L về chi phí tố
tụng là không có căn cứ.
[5] Xét đối với kháng cáo của ông T1, T2: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn, nguyên đơn không yêu cầu ông T1, T2 bồi thường. Quá trình t
tụng, đến ngày 27/8/2025, Tòa án cấp thẩm mới tiến hành lấy lời khai của ông
T1, T2; nội dung lấy lời khai đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị
đơn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không yêu cầu phản
tố, yêu cầu độc lập về trách nhiệm bồi thường của ông T1, bà T2. Sau khi có quyết
định xét xử, người đại diện hợp pháp của bị đơn đơn yêu cầu bồi thường thiệt
hại, yêu cầu này chưa được Tòa án cấp thẩm thụ nhưng Hội đồng xét
xử vẫn xem xét, tuyên buộc trách nhiệm bồi thường đối với ông T1, T2 là vượt
quá yêu cầu khởi kiện, ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của ông T1, bà T2,
làm mất quyền chứng minh của ông T1, T2. Do đó, kháng cáo của ông T1, T2
và Quyết định kháng nghị là có căn cứ chấp nhận một phần.
[6] Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại
phiên tòa là có căn cứ chấp nhận một phần.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 148, Điều 296, khoản 1 Điều 308, Điều 313 ca Bộ luật Tố tụng
dân sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận mt phần kháng cáo của nguyên đơn bà Bùi Thị Kim L.
2. Chấp nhận mt phần kháng cáo của ông Lê Văn T1 Thịnh Thị T2.
9
3. Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 06/QĐ-VKS-DS
ngày 20/01/2026 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành ph
Hồ Chí Minh.
4. Hủy một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2026/DS-ST ngày 07/01/2026
của Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh đối với phần quyết định
(mục số 3 và mục s 5 của Bản án sơ thẩm):
Buộc ông Văn T1 và bà Thịnh Thị T2 liên đới thanh toán cho ông Trương
Tiến C và bà Vũ Thị L1 số tiền 234.047.520 đồng.
Giao hồ vụ án về cho Tòa án nhân dân khu vực 16 Thành phố Hồ Chí
Minh giải quyết lại theo thủ tục chung.
5. Giữ nguyên một phần Bản án dân sự thẩm số 09/2026/DS-ST ngày
07/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 16 Thành phố Hồ Chí Minh đối với
phần quyết định:
Không chấp nhận yêu cầu của Bùi Thị Kim L đối với yêu cầu ông Trương
Tiến C và bà Vũ Thị L1 bồi thường số tiền 34.000.000 đồng.
Về chi phí tố tụng: Bùi Thị Kim L tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng
(đã thực hiện xong).
6. Một phần Bản án dân sự thẩm số 09/2026/DS-ST ngày 07/01/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 16 Thành phố Hồ Chí Minh đã phát sinh hiệu lực pháp
luật như sau:
6.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Kim L
với bị đơn ông Trương Tiến C về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Buộc ông Trương Tiến C Vũ Thị L1 phải tháo dỡ, di dời 01 phần căn
nhà diện tích 40 diện tích xây dựng (80 diện tích sàn) nhà tạm diện
tích 32,5 trên thửa đất 491, tờ bản đồ 182, tọa lạc tại khu phố A, phường A,
Thành phố Hồ Chí Minh để trả lại quyền sử dụng đất cho bà Bùi Thị Kim L và ông
Phạm Thanh X1 tại vị trí A kèm theo sơ đồ bản vẽ.
6.2. Án phí sơ thẩm:
Ông Trương Tiến CThị L1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ
thẩm.
Bùi Thị Kim L phải chịu 1.700.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu
trừ vào số tiền 5.300.000 đồng theo Biên lai tạm ứng án phí số 0005481 của Chi
cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu
vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh). Trả lại cho Bùi Thị Kim L 3.600.000 đồng
tạm ứng án phí còn lại.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
10
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án dân sự.
7. Về án phí phúc thẩm:
Trả lại cho bà Bùi Thị Kim L số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), tạm
ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0014301 ngày 06 tháng 3
năm 2026 của Thi hành án dân sự Thành phố H.
Trả lại cho ông Lê Văn T1 Thịnh Thị T2 mỗi người số tiền 300.000 đồng
(ba trăm nghìn đồng), tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số
0015579 và 0015582 ngày 12 tháng 3 năm 2026 của Thi hành án dân sự Thành phố
H.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
- THADS Thành phố Hồ Chí Minh;
- Phòng THADS khu vực 16 – Thành phố
Hồ Chí Minh;
- TAND khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí
Minh;
- Đương sự;
- Lưu: HS, VP (17), 72.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đinh Thị Mộng Tuyết
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1130/2026/DS-PT Bản án số 1130/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1130/2026/DS-PT Bản án số 1130/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất