Bản án số 685/2026/HNGĐ-ST ngày 22/05/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội, TP. Hà Nội về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 685/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 685/2026/HNGĐ-ST ngày 22/05/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội, TP. Hà Nội về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội, TP. Hà Nội
Số hiệu: 685/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/05/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bản án HNGĐ số 685 ngày 22/5/2026
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 685/2026/HNGĐ-ST Bản án số 685/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 685/2026/HNGĐ-ST Bản án số 685/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – NỘI
Bản án số: 685/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 22/5/2026
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Nguyễn Thị Lài
Các Hội thẩm nhân dân:- Hoàng Thị Mỹ Hạnh
- Ông Đặng Văn Dũng
- Thư phiên tòa: Bà Lương Ngân Thư ký Tòa án nhân dân khu vực
3 Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bùi Thị Minh Huyền Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 Hà Nội
xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 285/2026/TLST-
HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2026 về việc "Xin ly hôn", theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số 658/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2026 giữa các
đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Phương H, sinh năm 1982 (Có mặt).
Số căn cước công dân: ************ cấp ngày 08/11/2021.
Nơi đăng ký thường trú: Tổ E, phường V, Thành phố Hà Nội.
Nơi ở hiện nay: Số A N, phường V, Thành phố Hà Nội.
* Bị đơn: Anh Hà Minh Đ, sinh năm 1981 (Xin vắng mặt).
Số căn cước công dân: ************ cấp ngày 25/4/2021.
Nơi đăng ký thường trú và nơi hiện nay: Tổ E, phường V, Thành phố
Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
* Theo đơn khởi kiện các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án,
nguyên đơn chị Nguyễn Phương H trình bày:
- Vquan hệ hôn nhân: Chị anh Minh Đ kết hôn với nhau tự nguyện,
có tìm hiểu, tổ chức đámới và đăng ký kết hôn ngày 04 tháng 12 năm 2006
tại UBND phường V, quận H, Thành phố Nội (Nay UBND phường V,
Thành phố Hà Nội). Trước khi kết hôn, anh chị chưa ai kết hôn lần nào. Sau khi
kết hôn, anh chị sinh sống tại số nhà A, ngõ B phố V, tổ E, phường V, Thành phố
Hà Nội.
Quá trình vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc đến khoảng
năm 2025 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân của mâu thuẫn chủ yếu do
tính cách quan điểm sống không hợp nhau, dẫn đến vợ chồng thường xuyên
nảy sinh cãi vã. Hơn nữa, mỗi khi chị H đi làm hoặc đi liên hoan với đồng nghiệp
trong cơ quan, anh Đ có hành vi chửi bới chị. Đỉnh điểm của mâu thuẫn vào lần
chị H đi liên hoan với cơ quan, anh Đ đã vứt và đốt quần áo của chị, sau đó quay
video gửi cho chị khi chị H chưa về đến nhà. Ngay sau đó, anh Đ gọi điện chửi
bới và không cho chị H về nhà. Do không thể chịu đựng được nữa, kể từ ngày
hôm đó (01/02/2026) cho đến nay, chị H đã đi thuê nhà ngoài để sinh sống. Khi
chị H chuyển ra ngoài, chị có đưa con trai thứ hai là cháu Hà Sơn T đi theo và
sự đồng ý của anh Đ. Tuy nhiên sau đó anh Đ đã tự đến chỗ chị H và lấy quần
áo, đưa cháu T về nhà mà không nói với chị. Điều này khiến cháu T thấy sợ hãi
và buồn phiền. Hơn nữa, anh Đ còn có những hành vi không đúng mực như việc
gửi những tin nhắn xúc phạm đến sếp của chị H. Điều này ảnh hưởng cùng
lớn đến cuộc sống và công việc của chị H.
Đến nay, chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung
không thể tiếp tục, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chđề nghị Tòa
án nhân dân khu vực 3 Hà Nội giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ để ổn
định cuộc sống.
- Về con chung: Chị xác nhận chị anh Đ 02 con chung cháu
Quốc A, sinh ngày 16/9/2007 và cháu Sơn T, sinh ngày 20/9/2012. Hiện nay,
hai con chung sức khỏe bình thường. Cháu Quốc A đã trưởng thành, có đầy
đủ năng lực hành vi dân sự nên chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi ly
hôn, chị H nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung
cháu Hà Sơn T do cháu T còn nhỏ, đang trong độ tuổi phát triển, cần có sự quan
tâm, chăm sóc sát sao từ người mẹ trong cả việc học tập và sức khỏe.
3
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Đ cấp dưỡng nuôi cháu Sơn T bao nhiêu chị
H cũng đồng ý. Trường hợp anh Đ không cấp dưỡng nuôi con thì chH cũng đồng
ý và không có ý kiến gì.
- Về tài sản chung (gồm động sản và bất động sản): Chị H xác nhận không
có, khi ly hôn chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về vay nợ chung: Chị H xác nhận không có, khi ly hôn, chị H không yêu
cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị H tnguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn theo quy định pháp
luật.
* Bị đơn anh Minh Đ trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Phương H kết hôn với nhau tự
nguyện, tìm hiểu, tổ chức đám cưới đăng kết hôn ngày 04 tháng 12
năm 2006 tại UBND phường V, quận H, Thành phố Nội (Nay UBND
phường V, Thành phố Nội). Trước khi kết hôn, anh chị chưa ai kết hôn lần
nào. Sau khi kết hôn, anh chị sinh sống tại số nhà A, ngõ B phố V, tổ E, phường
V, Thành phố Hà Nội
Quá trình vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc đến khoảng
năm 2025 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân của mâu thuẫn chủ yếu do
tính cách và quan điểm sống không hợp nhau, dẫn đến vợ chồng thường xuyên
nảy sinh cãi vã. Đến nay, anh Đ nhận thấy tình cảm vchồng không còn, cuộc
sống chung không thể tiếp tục, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó,
anh đồng ý ly hôn với chị H.
- Về con chung: Anh xác nhận anh chị H 02 con chung cháu
Quốc A, sinh ngày 16/9/2007 và cháu Sơn T, sinh ngày 20/9/2012. Hiện nay,
hai con chung sức khỏe bình thường. Cháu Quốc A đã trưởng thành, có đầy
đủ năng lực hành vi dân sự nên anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi ly
hôn, anh Đ xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cháu Sơn
T. Anh Đ làm nghề tự do, thu nhập hàng tháng khoảng 100 triệu đồng. Tuy nhiên,
anh Đ làm nghề tự do nên không có xác nhận thu nhập nộp cho Tòa án.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Đ không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung (gồm động sản bất động sản): Anh Đ xác nhận không
có, khi ly hôn anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về vay nợ chung: Anh Đ xác nhận không có, khi ly hôn anh Đ không yêu
cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Anh Đ không có ý kiến gì.
4
* Theo bản tự khai của cháu Quốc A (Con chung của chị Nguyễn
Phương H anh Minh Đ) trình bày: Quá trình chung sống, bố mẹ cháu
sống với nhau không có hạnh phúc, trò chuyện không hòa hợp và thường xuyên
xảy ra cãi vã. Sau nhiều hành động phần bột phát bạo lực của bố cháu thì
mẹ cháu đã quyết định dọn ra ở riêng vì cảm thấy không an toàn.Trong thời gian
này, cả bố và mẹ đều chăm sóc cho hai anh em cháu đầy đủ không khác gì quãng
thời gian còn chung. Cháu mong Tòa án xử cho bố mẹ cháu được ly hôn. Bản
thân các cháu không muốn sống trong một gia đình không sự hòa thuận. Em
trai cháu mặc đang trong độ tuổi học sinh nhưng phần lớn việc học hành, ăn
uống, giờ giấc, thói quen từ trước đến nay đều do mẹ cháu chăm lo. Do đó, cháu
mong Tòa án xử cho em cháu được ở với mẹ.
* Theo đơn đề nghcủa cháu Sơn T (Con chung của chị Nguyễn
Phương H anh Minh Đ) trình y: Nếu phải ly hôn, cháu T xin được
với mẹ vì mẹ cháu sẽ chăm lo việc ăn uống, học hành cho cháu tốt hơn bố.
* Tại phiên tòa hôm nay
- Chị Nguyễn Phương H vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh
Minh Đ. Về con chung: Chị H xác nhận chị anh Đ hai con chung cháu
Hà Quốc A, sinh ngày 16/9/2007 và cháu Sơn T, sinh ngày 20/9/2012. Khi ly
hôn, cháu Quốc A đã trưởng thành, đầy đủ năng lực hành vi dân snên chị
không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị H xin được nuôi con chung là cháu Sơn T.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Về tài
sản chung: Chị H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về các
khoản nợ chung: Chị H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn là anh Hà Minh Đ đã được Tòa án tống đạt Quyết định đưa vụ án
ra xét xử đúng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, anh Đ đơn xin xét xử
vắng mặt tại phiên tòa hôm nay.
* Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 Hà Nội có quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của HĐXX và những người
tham gia tố tụng: Tòa án nhân dân khu vực 3 Hà Nội thụ lý đơn xin ly hôn của
chị Nguyễn Phương H đối với anh Minh Đ là hoàn toàn phù hợp với quy định
tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật T
tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và thư ký đã thực hiện đúng
các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 48, Điều 51 Bộ luật tố
tụng dân sự. Tiến hành thu thập chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng cho đương
5
sự Viện kiểm sát đúng thời hạn theo quy định Điều 203 của Bộ luật tố tụng
dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bị đơn chấp hành đúng
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định tại Chương XIV
về phiên tòa sơ thẩm của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều
81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị
quyết 326/UBTVQH quy định về án phí năm 2016:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Phương H vviệc xin ly hôn
với anh Hà Minh Đ. Xử cho chị H được ly hôn với anh Đ.
Về con chung: Giao con chung cháu Sơn T cho chị Nguyễn Phương H
trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh
Đ kể từ khi ly hôn cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc cho đến
khi có sự thay đổi khác.
Về tài sản chung: Chị H và anh Đ xác nhận không có, không yêu cầu Tòa
án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về khoản nợ chung: Chị H anh Đ xác nhận không có, không yêu cầu
Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn thẩm theo quy định của pháp
luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án đã được xem xét tại
phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Phương H đơn xin ly hôn đối với anh
Minh Đ nơi đăng thường trú nơi hiện nay tại tổ E, phường V, Thành
phố Hà Nội. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu
vực 3 Hà Nội theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm
a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết, Toà án nhân dân khu vực 3 – Hà Ni đã tiến hành đầy
đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật, tuy nhiên vẫn không hòa giải
để đoàn tụ được. Vì vậy Tòa án nhân dân khu vực 3 Hà Nội ra quyết định đưa
vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
6
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho anh Minh
Đ. Tại phiên tòa hôm nay, anh Đ đơn xin xét xử vắng mặt. vậy, Hội đồng
xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh
Hà Minh Đ.
[2] Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Phương Hanh Hà Minh Đ kết hôn
với nhau tự nguyện, có tìm hiểu, có tổ chức đám cưới và có đăngkết hôn với
nhau ngày 04 tháng 12 năm 2006 tại UBND phường V, quận H, Thành phố
Nội (Nay UBND phường V, Thành phố Nội). Trước khi kết hôn, anh chị
chưa ai kết hôn lần nào. Do vậy, Hội đồng xét xử nhận định đây là hôn nhân hợp
pháp.
Căn cứ vào lời trình bày của chị H, lời khai của anh Đ trong quá trình giải
quyết vụ án các tài liệu trong hồ thể hiện: Sau khi kết hôn, anh chị chung
sống với nhau hạnh phúc đến năm 2025 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên
nhân của mâu thuẫn là do tính cách và quan điểm sống không hợp nhau. Do đó,
trong cuộc sống hàng ngày, anh chị thường xuyên xảy ra cãi vã. Kể từ 01/02/2026,
chị H đã chuyển ra ngoài sinh sống, cuộc sống kinh tế độc lập với nhau, không
ai quan tâm đến ai. Đến nay, chị H xin ly hôn anh Đ thì anh Đ đồng ý ly hôn.
Xét thấy cuộc hôn nhân muốn hạnh phúc phải được xây dựng từ hai
phía, hai vợ chồng phải chung sống cùng nhau, quan tâm thương yêu chăm sóc
nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn
tụ với nhau nhưng không kết quả, chị H vẫn cương quyết xin ly hôn. Hơn nữa,
anh Đ trình bày ý kiến đồng ý ly hôn vắng mặt tại các buổi hòa giải nên Tòa
án không thể tiến hành hòa giải đoàn tụ được.
Như vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn
Phương H anh Minh Đ đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được,
đời sống chung không thkéo dài, chị H xin ly hôn căn cứ. Do vậy Hội đồng
xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, xử cho chị Nguyễn
Phương H được ly hôn với anh Hà Minh Đ là phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và
gia đình.
- Về con chung: Anh chxác nhận 2 con chung cháu Quốc A, sinh
ngày 16/9/2007 và cháu Sơn T, sinh ngày 20/9/2012. Khi ly hôn, cháu Quốc
A đã trưởng thành, đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên anh chị không yêu cầu
Tòa án giải quyết. ChH và anh Đ đều có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc,
7
nuôi dưỡng con chung là cháu Sơn T. Xét về điều kiện nuôi con, chị H và anh Đ
đều đủ điều kiện nuôi con tốt. Về phía chị H, thu nhập hàng tháng của chị
khoảng 38.000.000 đồng (Đã có giấy xác nhận thu nhập nộp cho Tòa án), chị H
có nơi ở ổn định (Đã nộp cho Tòa án Hợp đồng thuê nhà). Hơn nữa, cháu Sơn T
còn nhỏ, cần sự quan tâm, chăm sóc sát sao về sức khỏe, học tập từ mẹ.
những do đó, chị H mong Tòa án xem xét cho chị được nuôi cháu Sơn T. Về
phía anh Đ, anh Đ nguyện vọng được trực tiếp chăm c, nuôi dưỡng cháu Sơn
T. Anh Đ làm nghề tự do, thu nhập mỗi tháng của anh Đ khoảng 100.000.000
đồng. Tuy nhiên, anh Đ không có xác nhận thu nhập nộp cho Tòa án.
Xét thấy, các đương sự không thống nhất được việc nuôi con chung sau khi
ly n. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án thể hiện chị Nguyễn
Phương H và anh Hà Minh Đ đều là người có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm
sóc con chung. Tuy nhiên, khi xem xét, đánh giá việc giao con chưa thành niên
cho người cha hay người mtrực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cần phải xem xét
đánh giá khách quan, đảm bảo về quyền lợi chính đáng của con chung việc
nuôi chăm sóc con vừa là quyền nhưng cũng vừa là nghĩa vụ của cha mẹ đối
với con chưa thành niên. Hơn nữa, nếu con trên 7 tuổi thì cũng cần xem xét
nguyện vọng của con khi quyết định giao con cho bố hay mẹ nuôi. Tại bản tự
khai tại Tòa án, cháu Sơn T trình bày mong muốn được ở cùng với mẹ bởi mẹ sẽ
chăm lo việc ăn uống, học hành tốt hơn cho cháu. Do vậy, căn cứ vào Điều 58,
Điều 71, Điều 72, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Hội đồng xét xử nhận thấy cần giao
con chung cháu Sơn T cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng kể từ khi ly
hôn cho đến khi con chung trưởng thành (đ18 tuổi) hoặc cho đến khi sự thay
đổi khác.
Anh Đ quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung không ai quyền
cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.
Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung nhà chung: Chị H anh Đ xác nhận không có,
không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Chị H và anh Đ xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án
giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
8
[3] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQUH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
chị H phi chu án phí ly hôn sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo
quy định tại Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 51, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều
83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết s326/2016/UBTVQUH14, ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chNguyễn
Phương H, chị Nguyễn Phương H được ly hôn với anh Hà Minh Đ.
2. Về con chung: Xác nhận chị Nguyễn Phương H và anh Minh Đ
02 con chung cháu Quốc A, sinh ngày 16/9/2007 cháu Sơn T, sinh
ngày 20/9/2012. Cháu Quốc A đã trưởng thành, đầy đủ năng lực hành vi
dân sự, anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét. Giao
con chung cháu Sơn T cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng kể từ khi ly
hôn cho đến khi con chung trưởng thành (đ18 tuổi) hoặc cho đến khi sự thay
đổi khác.
Anh Minh Đ có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được
cản trở và có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực
tiếp nuôi con.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Phương H không yêu cầu anh
Minh Đ cấp dưỡng nuôi con, nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung
đối với anh Hà Minh Đ kể từ khi ly hôn cho đến khi con chung trưởng thành (đủ
18 tuổi) hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.
9
3. Về tài sản chung nhà chung: Chị Nguyễn Phương H anh
Minh Đ xác nhận không , không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét
xử không xem xét.
4. Về nợ chung: Chị Nguyễn Phương H anh Minh Đ xác nhận không
có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí: Chị Nguyễn Phương H phi chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn
đồng) án phí ly hôn thẩm, được tr vào s tin tm ng án phí đã np theo biên
lai s 0004808 ngày 03 tháng 3 năm 2026 của Thi hành án dân sự thành phố H.
Chị Nguyễn Phương H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo:
Chị Nguyễn Phương H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày tuyên án. Anh Hà Minh Đ quyền kháng cáo bản án trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
- TAND Thành phố Hà Nội;
- VKSND khu vực 3 – Hà Nội;
- Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – Hà Nội;
- UBND nơi ĐKKH;
- Đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Lài
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 685/2026/HNGĐ-ST Bản án số 685/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 685/2026/HNGĐ-ST Bản án số 685/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất