Bản án số 686/2026/HNGĐ-ST ngày 22/05/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội, TP. Hà Nội về vụ án ly hôn về ngoại tình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 686/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 686/2026/HNGĐ-ST ngày 22/05/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội, TP. Hà Nội về vụ án ly hôn về ngoại tình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về ngoại tình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội, TP. Hà Nội
Số hiệu: 686/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/05/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bản án số 686 ngày 22/5/2026
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 686/2026/HNGĐ-ST Bản án số 686/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 686/2026/HNGĐ-ST Bản án số 686/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – NỘI
Bản án số: 686/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 22/5/2026
V/v: Tranh chấp ly hôn.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Nguyễn Thị Lài
Các Hội thẩm nhân dân:- Hoàng Thị Mỹ Hạnh
- Ông Đặng Văn Dũng
- Thư phiên tòa: Bà Lương Ngân Thư Tòa án nhân dân khu vực
3 Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 Nội tham gia phiên tòa:
Bùi Thị Minh Huyền Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 Nội
xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 371/2026/TLST-
HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2026 về việc "Xin ly hôn", theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số 660/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2026 giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy Q, sinh năm 1995
Số căn cước công dân: ************ cấp ngày 12/4/2022
Nơi đăng thường trú và nơi ở hiện nay: P Tòa VP5, phường H, Thành
phố Hà Nội. (Có mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu D, sinh năm 1979
Số căn cước công dân: ************ cấp ngày 16/6/2020
Nơi đăng ký thường trú: Số B ngách C N, phường T, Thành phố Hà Nội.
Nơi trước khi đi thi hành án: P2638 Tòa VP5, phường H, Thành phố
Hà Nội.
Hiện nay, anh Nguyễn Hữu D đang đi thi hành án tại Phân trại số 2 Trại
giam T (Đội 19). (Xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
* Theo đơn khởi kiện c lời khai trong quá trình giải quyết vụ án,
nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy Q trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị anh Nguyễn Hữu D kết hôn với nhau tự
nguyện, tìm hiểu, tổ chức đám cưới đăng kết hôn ngày 04 tháng 11
năm 2020 tại UBND D, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (Nay Hội Thịnh, tỉnh
Phú Thọ). Trước khi kết hôn, anh D đã kết hôn một lần đã ly hôn, còn chị Q
chưa kết hôn lần nào. Sau khi kết hôn, anh chị sinh sống tại P Tòa VP5, phường
H, Thành phố Hà Nội.
Quá trình vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc đến khoảng
năm 2023 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân của mâu thuẫn chủ yếu do
tính cách và quan điểm sống không hợp nhau, dẫn đến vchồng thường xuyên
nảy sinh cãi vã. Hơn nữa, anh D thường xuyên đi làm ăn xa nhà, thỉnh thoảng
mới về nhà. Do đó, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng, không còn
tin tưởng nhau. Tình cảm vợ chồng cũng thế mà phai nhạt. Ngoài ra, chị Q còn
phát hiện anh D mối quan hệ ngoài luồng khi đang trong cuộc hôn nhân với
chị. Điều này khiến chị không còn tin tưởng không còn tình cảm với anh D
nữa.
Trước khi anh chị kết hôn, anh D đã bị Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai,
Thành phố Nội xử phạt 36 tháng về Tiêu thụ tài sản do người khác phạm
tội mà có. Hiện nay, anh D đang đi thi hành án tại Phân trại số B Trại giam T.
Đến nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung
không thể tiếp tục, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa
án nhân dân khu vực 3 – Hà Nội giải quyết cho chị được ly hôn với anh D để ch
ổn định cuộc sống.
Chị đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải đưa vụ án ra xét xsớm
để chị ổn định cuộc sống.
- Về con chung: Tại đơn ly hôn bản tự khai tại Tòa án ngày 23/3/2026
chị Q trình bày: Chị anh Nguyễn Hữu D không con chung không yêu
cầu Tòa án giải quyết về con chung.
- Ngày 24/4/2026, chị Q trình bày tại Tòa: Trước khi đăng ký kết hôn với
anh Nguyễn Hữu D, chị và anh D đã chung sống với nhau như vợ chồng từ năm
2014. Do đó, ngày 25/7/2016, chị sinh cháu trai tên Nguyễn Hoàng P tại
Bệnh viện P1. Khi đó, chị và anh D chưa đăng ký kết hôn nên chị làm khai sinh
cho cháu P đứng tên một mình chị, không có tên bố. Do giấy khai sinh của cháu
P không tên của bố nên các lời khai của chị tại Tòa trước đây, chị đều trình
bày chị và anh D không có con chung. Đến nay, chị tìm hiểu quy định của pháp
luật và chị đề nghị Tòa án ghi nhận cháu Nguyễn Hoàng P con chung của chị
và anh D. Chị đề nghị Tòa án tiến hành trưng cầu giám định ADN giữa cháu P
anh D để giải quyết về con chung theo quy định của pháp luật.
3
Khi ly hôn, chị xin được nuôi cháu P và không yêu cầu anh D cấp dưỡng
nuôi con. Hiện nay, thu nhập của chị mỗi tháng khoảng 30 triệu đồng, chị có nhà
ở ổn định. Do cháu P còn nhỏ, cần sự chăm sóc trực tiếp từ mẹ, đảm bảo ổn định
cả về điều kiện học tập và sức khỏe.
- Về tài sản chung (gồm động sản và bất động sản): Chị Q không yêu cầu
Tòa án giải quyết.
- Về vay nợ chung: Chị Q xác nhận không có, khi ly hôn, chị không yêu
cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Q tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn theo quy định pháp
luật.
* Bị đơn anh Nguyễn Hữu D trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Thúy Q kết hôn với nhau
tự nguyện, tìm hiểu, tổ chức đám cưới đăng kết hôn ngày 04 tháng
11 năm 2020 tại UBND xã D, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi kết hôn, anh chị
sinh sống tại P Tòa VP5, phường H, Thành phố Hà Nội.
Quá trình vchồng chung sống với nhau hạnh phúc một thời gian đến năm
2025 anh đi chấp hành án tại Trại giam T theo Bản án số 363 ngày 16/7/2010 của
Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Nội. Hiện nay anh đang chấp hành án tại
phân trại số B Trại giam T. Trước khi đi chấp hành án anh và chị Q sinh sống
tại P Tòa VP5, phường H, Thành phố Hà Nội.
Nay chị Q đơn yêu cầu xin ly hôn anh, anh đề nghị Tòa án xem xét cho
anh chị Q đoàn tụ với nhau, anh vẫn còn nhiều tình cảm với chị Q nên anh
không đồng ý ly hôn chị Q.
Về con chung: Anh D trình bày, trước khi đăng ký kết hôn với chị Q, anh
chị Q chung sống với nhau từ năm 2014 nên chị Q sinh một con trai là cháu
Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 25/7/2016. Sau khi sinh con chị Q khai sinh chỉ
tên mẹ là Nguyễn Thị Thúy Q. Hiện nay, chị Q xin ly hôn anh, anh đề nghị Tòa
án tiến hành lấy mẫu xét nghiệm ADN để xác định cháu Nguyễn Hoàng P là con
trai của anh giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Nếu trong trường
hợp cháu P là con trai của anh, anh có nguyện vọng được nuôi con và anh không
yêu cầu chị Q cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung (gồm động sản bất động sản): Anh chị Q một
tài sản là nhà tại P Tòa VP5, phường H, Thành phố Nội, anh đã sang tên cho
chị Q tại Trại giam. Về phần tài sản anh và chị Q sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
- Về vay nợ chung: Anh D xác nhận không , khi ly hôn, anh D không
yêu cầu Tòa án giải quyết.
4
- Do hiện nay anh đang chấp hành án tại Trại giam T, anh không thể tham
gia tố tụng trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Anh đnghị Tòa án cho anh
được vắng mặt trong tất cả quá trình giải quyết vụ án.
* Theo đơn đề nghị của cháu Nguyễn Hoàng P trình bày: Khi bố mẹ ly
hôn, cháu P xin được ở với mẹ.
- Theo đề nghị của chị Q anh D, Tòa án đã trưng cầu giám định ADN
giữa cháu Nguyễn Hoàng P anh Nguyễn Hữu D, theo kết luận giám định ADN
của Công ty TNHH C kết luận anh Nguyễn Hữu D quan hhuyết thống cha
con với cháu Nguyễn Hoàng P.
* Tại phiên tòa hôm nay
- Chị Nguyễn Thị Thúy Q vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh
Nguyễn Hữu D. Về con chung: Chị Q công nhận kết luận giám định ADN giữa
cháu P và anh D là đúng và chị xác nhận chị và anh D có một con chung là cháu
Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 25/7/2016. Khi ly hôn, chị Q xin được nuôi con
chung là cháu P. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Q không yêu cầu anh D cấp dưỡng
nuôi con. Về tài sản chung nchung: Chị Q không yêu cầu Tòa án giải
quyết. Về các khoản nợ chung: Chị Q xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
- Bị đơn anh Nguyễn Hữu D đã được Tòa án tống đạt Quyết định đưa vụ
án ra xét xử đúng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, anh D hiện đang chấp
hành án tại Trại giam T và có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa hôm nay.
* Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Hà Nội có quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của HĐXX và những người
tham gia tố tụng: Tòa án nhân dân khu vực 3 – Hà Nội thụ lý đơn xin ly hôn của
chị Nguyễn Thị Thúy Q đối với anh Nguyễn Hữu D hoàn toàn phù hợp với quy
định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ
luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán thư đã thực
hiện đúng các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 48, Điều 51
Bộ luật tố tụng dân sự. Tiến hành thu thập chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng
cho đương sViện kiểm sát đúng thời hạn theo quy định Điều 203 của Bộ luật
tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bị đơn chấp hành đúng
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định tại Chương XIV
về phiên tòa sơ thẩm của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều
81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị
quyết 326/UBTVQH quy định về án phí năm 2016:
5
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy Q về việc xin ly
hôn với anh Nguyễn Hữu D. Xử cho chị Q được ly hôn với anh D.
Về con chung: Công nhận kết quả xét nghiệm ADN của Công ty TNHH C
kết luận anh Nguyễn Hữu D quan hệ huyết thống cha con với cháu Nguyễn
Hoàng P là đúng. Giao con chung là cháu Nguyễn Hoàng P cho chị Nguyễn Thị
Thúy Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối
với anh D kể từ khi ly hôn cho đến khi con chung trưởng thành (đ18 tuổi) hoặc
cho đến khi có sự thay đổi khác.
Về tài sản chung nchung: Chị Q anh D không yêu cầu Tòa án
giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về khoản nợ chung: Chị Q anh D xác nhận không có, không yêu cầu
Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Q phải chịu án phí ly hôn thẩm theo quy định của pháp
luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án đã được xem xét tại
phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Thúy Q đơn xin ly hôn đối với anh
Nguyễn Hữu D nơi tạm trú trước khi đi thi hành án tại P Tòa VP5, phường
H, Thành phố Nội. vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
nhân dân khu vực 3 – Hà Nội theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1
Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết, Toà án nhân dân khu vực 3 – Hà Nội đã tiến hành đầy
đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật, tuy nhiên vẫn không hòa giải
để đoàn tụ được do anh D đang đi thi hành án. vậy Tòa án nhân dân khu vực
3 Nội ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho anh Nguyễn
Hữu D. Tại phiên tòa m nay, anh D đơn xin xét xử vắng mặt. vậy, Hội
đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt
anh Nguyễn Hữu D.
[2] Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy Q anh Nguyễn Hữu D
kết hôn với nhau tự nguyện, đăng ngày 04 tháng 11 năm 2020 tại UBND
D, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (Nay Hội Thịnh, tỉnh Phú Thọ). Trước khi
kết hôn, chị Q chưa kết hôn lần nào còn anh D đã kết hôn và đã ly hôn. Do vậy,
Hội đồng xét xử nhận định đây là hôn nhân hợp pháp.
Căn cứ vào lời trình bày của chQ, sau khi kết hôn anh chchung sống với
nhau hòa thuận, hạnh phúc đến khoảng năm 2023 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn.
Nguyên nhân của mâu thuẫn chủ yếu do tính cách và quan điểm sống không hợp
6
nhau, dẫn đến vợ chồng thường xuyên nảy sinh cãi vã. Hơn nữa, anh D thường
xuyên đi làm ăn xa nhà, thỉnh thoảng mới vnhà. Do đó, mâu thuẫn vợ chồng
ngày càng trở nên trầm trọng, không còn tin tưởng nhau. Nên tình cảm vợ chồng
cũng thế phai nhạt. Ngoài ra, chị Q còn phát hiện anh D mối quan hệ
ngoài luồng khi đang trong cuộc hôn nhân với chị. Điều này khiến chị không còn
tin tưởng và không còn tình cảm với anh D nữa.
Căn cứ vào lời trình bày của anh Nguyễn Hữu D, quá trình vợ chồng chung
sống hạnh phúc một thời gian đến năm 2025 anh đi chấp hành án tại Trại giam T.
Hiện nay anh đang chấp hành án tại phân trại số B Trại giam T. Nay chị Q
đơn yêu cầu xin ly hôn anh, anh đề nghị Tòa án xem xét cho anh chị Q đoàn
tụ với nhau anh vẫn còn nhiều tình cảm với chị Q nên anh không đồng ý ly hôn
chị Q.
Xét thấy cuộc hôn nhân muốn hạnh phúc phải được xây dựng từ hai
phía, hai vợ chồng phải chung sống cùng nhau, tin tưởng, quan tâm thương
yêu chăm sóc nhau. Nhưng giữa chị Q anh D đã phát sinh mâu thuẫn từ lâu,
không còn tin tưởng nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức hòa giải
nhưng chị Q vẫn giữ nguyên yêu cầu.
Như vậy, Hội đồng xét xnhận thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn
Thị Thúy Qanh Nguyễn Hữu D đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt
được, đời sống chung không thể kéo dài, chị Q xin ly hôn căn cứ. Do vậy
Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Q, xử cho chị
Nguyễn Thị Thúy Q được ly hôn với anh Nguyễn Hữu D phù hợp Điều 56 Luật
hôn nhân và gia đình.
- Vcon chung: Theo kết quả xét nghiệm ADN của Công ty TNHH C kết
luận anh Nguyễn Hữu D quan hệ huyết thống cha con với cháu Nguyễn Hoàng
P. Do giấy khai sinh chỉ mang tên người mẹ chị Nguyễn Thị Thúy Q nên sau
khi ly hôn chị Q và anh D có nghĩa vụ đi làm lại giấy khai sinh cho cháu Nguyễn
Hoàng P theo quy định của pháp luật.
Anh D chị Q xác nhận một chung cháu Nguyễn Hoàng P, sinh ngày
25/7/2016. Khi ly hôn, chị Q và anh D đều có nguyện vọng được trực tiếp chăm
sóc, nuôi dưỡng con chung cháu P. Xét về điều kiện nuôi con giữa chị Q
anh D. Về phía chị Q, thu nhập hàng tháng của chị khoảng 30.000.000 đồng (Đã
có giấy xác nhận thu nhập nộp cho Tòa án), chị Q có nơi ở ổn định (Đã nộp giấy
tờ nhà). Hơn nữa, cháu P còn nhỏ, cần sự quan tâm, chăm sóc sát sao về sức
khỏe, học tập từ mẹ. những do đó, chị Q mong Tòa án xem xét cho chị được
nuôi cháu P. Về phía anh D, anh D nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi
dưỡng cháu P, nhưng hiện nay anh D đang phải chấp hành án tại Trại giam T.
Xét thấy, các đương sự không thống nhất được việc nuôi con chung sau khi
ly hôn. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án thể hiện chị Nguyễn
7
Thị Thúy Q người đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Khi
xem xét, đánh giá việc giao con chưa thành niên cho người cha hay người mẹ
trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cần phải xem xét đánh giá khách quan, đảm bảo
về quyền lợi chính đáng của con chung việc nuôi chăm sóc con vừa quyền
nhưng cũng vừa nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thành niên. Hơn nữa,
nếu con trên 7 tuổi thì cũng cẫn xem t nguyện vọng của con khi quyết định giao
con cho bố hay mẹ nuôi. Tại bản trình bày ý kiến tại Tòa án, cháu P mong muốn
được cùng với mẹ. Do vậy, căn cứ vào Điều 58, Điều 71, Điều 72, Điều 81,
Điều 82, Điều 83, Hội đồng xét xử nhận thấy cần giao con chung là cháu Nguyễn
Hoàng P cho chị Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng kể từ khi ly hôn cho đến khi
con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.
Anh D quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung không ai quyền
cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Q không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.
Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung nhà chung: Chị Q anh D không yêu cầu Tòa án
giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Chị Q và anh D xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án
giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQUH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
chị Q phi chu án phí ly hôn sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo
quy định tại Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 51, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều
83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQUH14, ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn
Thị Thúy Q, chị Nguyễn Thị Thúy Q được ly hôn với anh Nguyễn Hữu D.
2. Về con chung: Xác nhận chị Nguyễn Thị Thúy Q và anh Nguyễn Hữu
D 01 con chung cháu Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 25/7/2016 (Theo Giấy
8
khai sinh số 234/2016 do UBND D, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày
25/8/2016). Giao con chung cháu Nguyễn Hoàng P cho chị Q trực tiếp chăm
sóc, nuôi dưỡng kể từ khi ly hôn cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi)
hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.
Chị Nguyễn Thị Thúy Q anh Nguyễn Hữu D nghĩa vụ đi làm lại Giấy
khai sinh cho cháu Nguyễn Hoàng P theo quy định của pháp luật.
Anh Nguyễn Hữu D quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai
được cản trở và có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người
trực tiếp nuôi con.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Thúy Q không yêu cầu anh
Nguyễn Hữu D cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung
đối với anh Nguyễn Hữu D kể từ khi ly hôn cho đến khi con chung trưởng thành
(đủ 18 tuổi) hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.
3. Về tài sản chung nhà chung: Chị Nguyễn Thị Thúy Q anh
Nguyễn Hữu D không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem
xét.
4. Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thúy Q anh Nguyễn Hữu D xác nhận
không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thúy Q phi chu 300.000đ (Ba trăm ngn
đồng) án phí ly hôn thẩm, được tr vào s tin tm ng án phí đã np theo biên
lai s 0006130 ngày 16 tháng 3 năm 2026 của Thi hành án dân sự thành phố H.
Chị Nguyễn Thị Thúy Q đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Thúy Q có quyền kháng cáo bản
án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Hữu D quyền
kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản
án./.
Nơi nhận:
- TAND Thành phố Hà Nội;
- VKSND khu vực 3 – Hà Nội;
- Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – Hà Nội;
- UBND nơi ĐKKH;
- Đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Lài
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 686/2026/HNGĐ-ST Bản án số 686/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 686/2026/HNGĐ-ST Bản án số 686/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất