Bản án số 367/2026/DS-PT ngày 29/06/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 367/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 367/2026/DS-PT ngày 29/06/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 367/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Dương Thị H - Lê Thanh H1 - Tranh chấp HĐCNQSDĐ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 367/2026/DS-PT Bản án số 367/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 367/2026/DS-PT Bản án số 367/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 367/2026/DS-PT
Ngày: 29 – 6 – 2026
V/v Tranh chấp Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Phương;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Anh Dũng và bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh;
- Thư phiên tòa: Trần Thị Huyền Anh - Thư Toà án của a án
nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:
Bà Lương Thị Mai Chăm - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh m Đồng (Cơ
sở 1) xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 275/2025/TLPT-DS ngày 07
tháng 10 năm 2025 về việc:“Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất”. Do Bản án dân sthẩm số 17/2025/DS-ST ngày 29 tháng 4 năm
2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận (Nay
Tòa án nhân dân khu vực 11 - Lâm Đồng) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 717/2025/QĐ-PT ngày
23 tháng 12 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 03/2026/QĐ-
PT ngày 06 tháng 01 năm 2026; Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 61/TB-
TA ngày 03 tháng 02 năm 2026; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số
16/2026/QĐ-PT ngày 05 tháng 3 năm 2026; Thông báo về việc mở lại phiên tòa
số 164/TB-TA ngày 28 tháng 4 năm 2026; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số
47/2026/QĐ-PT ngày 19 tháng 5 năm 2026 Quyết định hoãn phiên tòa phúc
thẩm số 337/2026/QĐ-PT ngày 22 tháng 6 năm 2026 của a án nhân dân tỉnh
Lâm Đồng, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Dương Thị H, sinh năm 1961; địa chỉ: Khu phố G,
phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (Nay khu phố G, phường T, tỉnh
Lâm Đồng). (Vắng mặt)
2
Người đại diện theo y quyền: Ông Thanh Đ, sinh năm 1992; địa chỉ:
Khu phố G, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (Nay khu ph G,
phường T, tỉnh Lâm Đồng) (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 19/4/2022). (Có
mặt)
2. Bị đơn: Ông Thanh H1, sinh năm 1957; địa chỉ: Khu phố G, phường
Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (Nay là khu phố G, phường T, tỉnh Lâm Đồng).
(Có mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Lê Thị N, sinh năm 1973; địa chỉ: Khu phố A, phường P, thành phố
P, tỉnh Bình Thuận (Nay là khu phố A, phường P, tỉnh Lâm Đồng). (Có mặt)
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp: Luật Ngô Hoàng Q Công ty
L1. (Có mặt)
3.2. Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1974; địa chỉ: Số A L, phường H, quận T,
Thành phố Hồ Chí Minh (Nay số A L, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).
(Có mặt)
4. Người làm chứng: Nguyễn Thị L; địa chỉ: Số F - F T, phường Đ,
thành phố P, tỉnh Bình Thuận (Nay là số F - F T, phường T, tỉnh Lâm Đồng).
(Vắng mặt)
5. Người kháng cáo: Bị đơn ông Thanh H1 người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Theo đơn khởi kiện những lời trình bày trong quá trình giải
quyết vụ án, nguyên đơn bà Dương Thị H trình bày:
Dương Thị H ông Lê Thanh H1 là vợ chồng chung sống với nhau từ
năm 1981, nhưng không đăng kết hôn. Vợ chồng ông H1, H 03
người con chung Thị Tuyết T, sinh năm 1981, Thanh H2, sinh năm
1983 Lê Thanh Đ, sinh năm 1992. Quá trình chung sống, H ông H1
tạo lập được một số tài sản chung, trong đó quyền sử dụng diện tích đất
khoảng 39.585m
2
(Đo đạc thực tế 36.870,8m
2
. Trong đó nhà nước thu hồi
3.049,4m
2
làm đường H - T) thửa đất tọa lạc khu vực láng ông C (Bưng C) thuộc
thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận và có tứ cận:
+ Hướng Đông: Giáp đất ông Kiên;
+ Hướng Tây: Giáp đường xe bò (Đường đất);
+ Hướng Nam: Giáp đất thầy giáo Triều;
+ Hướng Bắc: Giáp đất thầy giáo Triều.
3
Diện tích đất 36.870,8m
2
nguồn gốc do Dương Thị H ông
Thanh H1 nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Hữu H3 địa chỉ: Thôn P,
H, huyện H, tỉnh Bình Thuận vào năm 2007, với giá 77.000.000 đồng, tiền nhận
chuyển nhượng đất tiền của vợ chồng ông Thanh H1 Dương Thị H.
Do vợ chồng nên việc nhận chuyển nhượng đất, Dương Thị H đồng ý đ
cho ông Thanh H1 thay mặt ơng Thị H đứng ra giao dịch, các giấy
tờ với ông Nguyễn Hữu H3. Giữa ông Thanh H1 ông Nguyễn Hữu H3
lập giấy “Sang nhượng đất canh tác” đề ngày 04/10/2007 các bên cùng tên
xác nhận. Vợ chồng ông Thanh H1 Dương Thị H đã giao đủ tiền nhận
chuyển nhượng đất cho ông H3 và ông H3 cũng đã giao đất cho vợ chồng
Dương Thị H quản lý, sử dụng. Quá trình sử dụng đất, vợ chồng Dương Thị
H btiền đầu tư trồng cây bạch đàn trên toàn bộ diện tích 36.870,8m
2
đất nhận
chuyển nhượng làm 01 cái giếng khoan trên đất để lấy nước phục vụ tưới
tiêu. Năm 2016 vợ chồng ông Lê Thanh H1 và bà Dương Thị H có bán cây bạch
đàn cho ông Lê Viết T1, việc mua bán cây giữa các bên có lập hợp đồng. Từ khi
sử dụng đất cho đến nay, vợ chồng Dương Thị H vẫn chưa được nnước
cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất. Tuy vậy, những căn cứ nguồn gốc đất,
quá trình sử dụng đất hoàn toàn sở xác định, diện tích đất 36.870,8m
2
toàn bộ tài sản trên đất là tài sản chung của Dương Thị H ông Thanh
H1. vậy việc thực hiện các quyền mua bán, chuyển nhượng, tặng cho ... diện
tích đất 36.870,8m
2
toàn bộ tài sản trên đất theo quy định của pháp luật dân
sự, hôn nhân và gia đình phải được sự bàn bạc, thống nhất của cả vợ chồng, việc
một bên vợ hoặc chồng tự ý xác lập các giao dịch kể trên đối với tài sản chung
trong thời kỳ hôn nhân không sđồng ý của bên còn lại vi phạm pháp
luật. Tuy nhiên, quá trình chung sống giữa bà Dương Thị H và ông Lê Thanh H1
thường phát sinh mâu thuẫn, bất hòa với nhau, do đó vợ chồng thường không
sống chung nhà với nhau.
Năm 2019, bà Dương Thị H đề nghị ông Thanh H1 làm thủ tục cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 36.870,8m
2
vợ chồng đang sử
dụng. Quá trình làm việc, H được biết ông Lê Thanh H1 lập bản cam kết
đề ngày 12/9/2012 với nội dung chuyển nhượng diện tích 39.585,0m
2
cho
Thị N với giá 200.000.000 đồng, bà Lê Thị N đưa cho ông H1 50.000.000 đồng.
Bất ngờ trước thông tin trên, H đã hỏi ông H1 do tại sao ông H1 lại tự ý
chuyển nhượng diện tích đất cho bà N, thì ông H1 trình bày: Do kẹt tiền nên ông
Lê Thanh H1 tự vay tiền của bà Lê Thị N, do không có tài sản cầm cố cho bà Lê
Thị N nên ông Thanh H1 đã làm Giấy cam kết đề ngày 12/9/2012 với nội
dung chuyển nhượng diện tích đất 39.585,0m
2
cho Thị N với giá
200.000.000 đồng. Thực tế không phải ông Thanh H1 chuyển nhượng đất
cho bà N mà ông H1 làm Giấy cam kết đề ngày 12/9/2012 chỉ để cầm cố đất cho
N để vay số tiền 200.000.000 đồng, nhưng bà N mới đưa cho ông H1
4
50.000.000 đồng. Cũng trong năm 2019, ông Thanh H1 khởi kiện Lê Thị
N đến Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết (Nay Tòa án nhân dân khu vực
A - Lâm Đồng) để yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, ông Lê Thanh H1 yêu cầu Tòa án tuyên hủy Giấy cam kết đề
ngày 12/9/2012, theo các văn bản của Tòa án Dương Thị H tham gia tố tụng
với cách người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy vậy, quá trình làm
việc Tòa án chưa lần nào làm việc với Dương Thị H cũng như cung cấp cho
Dương Thị H các giấy tờ liên quan đến việc giải quyết vụ án. Nhưng Tòa án
nhân dân thành phố Phan Thiết sẽ giải quyết dứt điểm vụ án, khôi phục lại
quyền, lợi ích hợp pháp của Dương Thị H đã bị ông Thanh H1, bà Thị
N xâm phạm. Tuy nhiên, ngày 30/7/2021, Tòa án nhân dân thành phố Phan
Thiết ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, với lý do hết thời hiệu khởi
kiện, vụ án đi vào bế tắc, không giải quyết dứt điểm được tranh chấp, ảnh hưởng
nghiêm trọng đến quyền lợi của bà Dương Thị H.
ràng, diện tích đất 36.870,8m
2
toàn bộ tài sản trên đất nêu trên tài
sản chung trong thời kỳ hôn nhân của Dương Thị H ông Thanh H1,
việc ông Lê Thanh H1 tự ý chuyển nhượng đất cho Thị N không bàn
bạc, thỏa thuận với bà Dương Thị H và không được sự đồng ý của bà Dương Thị
H vi phạm pháp luật. Số tiền 50.000.000 đồng vay của Thị N giao cho
ông Lê Thanh H1, ông Thanh H1 cũng chỉ sử dụng vào mục đích cho
nhân ông Lê Thanh H1, chứ bà Dương Thị H không sử dụng và không biết gì v
khoản tiền vay này, ông Thanh H1 cũng không sử dụng số tiền 50.000.000
đồng phục vụ gì trong gia đình. Dương Thị H và ông Thanh H1 vợ
chồng hợp pháp của nhau, nhưng khi nhận chuyển nhượng đất bà Lê Thị N cũng
không liên hệ, thông báo gì với bà Dương Thị H để trao đổi nội dung, thỏa thuận
nhận chuyển nhượng đất. Do đó, Giấy cam kết đề ngày 12/9/2012 do ông
Thanh H1 lập với nội dung chuyển nhượng diện tích đất 39.585,0m
2
cho
Thị N hiệu theo quy định của pháp luật dân sự hôn nhân gia đình,
không có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm giao kết.
Đối với tài sản trên đất thì gồm các cây bạch đàn, hiện tại cây sống,
cây chết về hàng rào dây thép gai các trụ tông do Thị N trồng
trụ rào trái phép trên đất đang tranh chấp đề nghị Tòa án xem xét.
Yêu cầu Tòa án tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu
theo Giấy cam kết đề ngày 12/9/2012 do ông Thanh H1 lập với nội dung
chuyển nhượng diện tích đất 39.585m
2
tọa lạc tại thôn D, H, huyện H, tỉnh
Bình Thuận cho Thị N hiệu. Yêu cầu bà Thị N tháo dỡ di dời
toàn bộ tài sản trên đất đtrả lại toàn bộ diện tích đất là 33.821,4m
2
ã trừ ra
diện tích thu hồi làm đường) cho bà Dương Thị H.
2. Bị đơn ông Lê Thanh H1 trình bày:
5
Quá trình chung sống việc tạo lập tài sản chung như Dương Thị H
trình bày. Quá trình sử dụng đất vợ chồng ông đã bỏ tiền đầu tư, san ủi trồng
cây bạch đàn trên toàn bộ diện ch 39.585m
2
khoan 01 giếng khoan trên
đất để lấy nước phục vụ sinh hoạt tưới tiêu cho con bên bưng ke sử
dụng. Năm 2016, vợ chồng ông có bán cây bạch đàn trên đất cho ông Lê Viết T1
ở phường H, thành phố P, giữa bên mua và bên bán hai bên có lập bản Hợp đồng
ngày 30/12/2016. Sau đó ông lên H xin xác nhận để qua Hạt Kiểm Lâm M
thuộc quản lý rừng để xin giấy phép vận chuyển khỏi địa phương.
Từ khi sử dụng đất đến nay vợ chồng ông vẫn chưa được nhà nước cấp
giấy chứng nhận quyền sdụng đất với do nhận chuyển nhượng không
phải khai hoang và không gia đình hộ nông nghiệp tại H. Nhưng căn cứ
nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất hoàn toàn đsở xác định diện tích
đất 36.870,8m
2
(Diện tích nhà nước chưa thu hồi) toàn bộ tài sản trên đất
của vợ chồng ông. Theo quy định của pháp luật dân sự, luật hôn nhân gia
đình phải được sự thống nhất của cả vợ chồng. Việc 1 bên chồng tự ý xác lập
các giao dịch kể trên đối với các tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân mà không
sự đồng ý của bên còn lại vi phạm pháp luật. Tuy nhiên quá trình chung
sống giữa ông và bà Dương Thị H thường phát sinh mâu thuẩn, bất hòa với nhau
do đó hai vợ chồng ông không thường xuyên ở chung nhà.
Năm 2012 do ông đi làm công trình kẹt tiền mua dầu vật để thi
công công trình, ông có tự ý vay của bà Thị N 50.000.000 đồng. Khi ông hỏi
vay thì Thị N yêu cầu ông phải viết một tờ giấy tay nội dung cam kết
bán đất thì bà Thị N mới cho ông vay tiền. Do kẹt tiền quá ông viết đại khái
tờ giấy cam kết để thế chấp vay được tiền từ bà Thị N, nếu thật sự giao
dịch mua bán thì phải có người làm chứng, hợp đồng mua bán hẳn hoi. Giấy ông
viết cho Thị N giấy vay tiền, nội dung tượng trưng cho việc vay trlãi
vay nóng 5%/tháng cho bà Lê Thị N mà thôi.
Đến năm 2019 Thị N đòi tiền ông nhưng do hoàn cảnh khó khăn
lúc đó nên ông chưa trả được. Sau đó Lê Thị N thấy đất chuẩn bị làm đường
đi qua, bà Lê Thị N thấy đất có giá trị lớn nên nảy sinh lòng tham để chiếm đoạt
khu đất trên của gia đình ông. Sau đó ông có làm đơn khởi kiện bà Lê Thị N đưa
ra Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết. Suốt quá trình một năm ông chỉ được
Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết mời làm việc duy nhất 01 lần. Đến giai
đoạn dịch Covid 19 bùng phát, toàn bộ cả tỉnh Bình Thuận bị giãn cách thì ngày
14 tháng 01 năm 2022 Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết đình chỉ xét xử vụ
việc đến nay. Sự việc bế tắc nên vợ con ông mới làm đơn kiện ông và bà Lê Thị
N là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự này.
Nay ông đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn đề nghị Tòa án tuyên Giấy
cam kết đề ngày 12/9/2012 do ông Thanh H1 lập với nội dung chuyển
6
nhượng diện tích đất 39.585m
2
cho bà Lê Thị N là vô hiệu và ông đồng ý trả tiền
mà đã vay của bà Lê Thị N và bồi thường một phần tiền ông đã mượn của bà Lê
Thị N. Yêu cầu bà Lê Thị N tháo dỡ di dời toàn bộ tài sản trên đất để trả lại toàn
bộ diện tích đất là 33.821,4m
2
(Đã trừ ra diện tích thu hồi làm đường) cho ông.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị N trình bày:
Ngày 12/9/2012, bà đã nhận chuyển nhượng diện tích đất khoảng 39.585m
2
(Đo đạc thực tế 36.870,8m
2
) đất nông nghiệp trồng cây lâu năm tại thôn D,
H, huyện H của ông Thanh H1 với giá 200.000.000 đồng. Tại thời điểm
chuyển nhượng do đất chưa được cấp giấy chứng nhận nên hai bên viết giấy tay.
Tuy nhiên, ông Thanh H1 đã nhận đủ 200.000.000 đồng được ông
Thanh H1 dẫn đi đến đất và giao đủ đất, trên đất có vài cây cừ và 1 cái giếng
khoan. Bà nhận đất và đã sử dụng ổn định đến nay.
Theo được biết nguồn gốc đất ông Thanh H1 của Phan Thị N1
(Đã chết) khai hoang sau ngày giải phóng nhưng đã chuyển nhượng cho ông
Nguyễn Hữu H3, đến ngày 04/10/2007 ông Nguyễn Hữu H3 chuyển nhượng
cho ông Thanh H1 ngày 12/9/2012 ông Thanh H1 chuyển nhượng cho
bà. Để thể lập thủ tục cấp giấy chứng nhận theo quy định bà đã tìm gặp
Phan Thị N1 để nhờ viết giấy tay chuyển nhượng vào ngày 08/07/2002 nhưng
đồng thời cũng phải trả thêm cho bà Phan Thị N1 42.000.000 đồng (Có kèm
hợp đồng chuyển nhượng).
Năm 2013, cày đất phá bcây cừ và trồng cây bạch đàn trên toàn bộ
diện tích đất và đã thu hoạch bán sản phẩm vào năm 2018. Hàng năm bà có thuê
cày chống cháy rừng chặt tỉa nhánh cây để cây khỏe phát triển (Có giấy
kèm theo). Cũng trong năm 2013 ông Lê Thanh H1 là người trực tiếp dẫn bà đến
xã H để nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà và dẫn địa
chính xã đi đo đất để làm bản đồ cho bà (Có kèm phiếu nhận hồ sơ của xã H).
Trong quá trình làm ssự việc ngăn chặn của Thu T2 nên H
tạm ngừng hcủa đgiải quyết tranh chấp giữa bà Thu T2. Khi
giải quyết tranh chấp mới được biết rằng: Trước khi chuyển nhượng đất cho
thì vào năm 2008, ông Lê Thanh H1 đã chuyển nhượng diện tích đất trên cho
Võ Thu T2, địa chỉ: G đường T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (Nay bà T2 đã
chết) với giá 200.000.000 đồng. Ông Lê Thanh H1 đã nhận trước của bà Võ Thu
T2 120.000.000 đồng. Sau đó gặp ông Thanh H1 ông thú nhận
nhận tiền của Thu T2 3 lần tiền tổng cộng 120.000.000 đồng giấy
nhận tiền của bà Võ Thu T2 và kêu bà thương lượng với bà Võ Thu T2 để bà Võ
Thu T2 rút đơn ngăn chặn thuận tiện việc làm hồ xin cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho bà. ràng với hành vi trên ông Thanh H1 đã lợi
dụng sự cả tin của lừa mua diện tích đất đã bán cho người khác, khiến
phải long đong giải quyết tranh chấp với Thu T2. Sau ng phải
7
mất tiền trả lại khoản tiền ông Lê Thanh H1 đã bán cho bà Võ Thu T2
120.000.000 đồng. phải cắn răng cam chịu đlàm thủ tục chờ cán bộ H
mời Thu T2 ông Thanh H1 cùng lên giải quyết. Cán bộ H
có mời ông Lê Thanh H1 nhiều lần nhưng ông Lê Thanh H1 cố tình lẫn tránh.
Ngày 30/5/2013, cán bộ H mời lên giải quyết (Có biên bản kèm
theo). Sau đó phải đến trả tiền cho Thu T2 và giấy cam kết của bà
K1 (Mẹ ruột của bà T2) (Có giấy cam kết kèm theo).
Ngày 25/02/2019, ông Thanh H1 chở bà, ông Nguyễn T3, ông Nguyễn
D (Là bạn anh H1) cùng nhau lên huyện H nộp hồ sơ xin đo đạc cho bà (Có giấy
tiếp nhận hồ đo đạc kèm theo). Ngày 11/3/2019, ông Thanh H1 tiếp tục
cùng bà, ông Nguyễn D ông Nguyễn Thành D1 cán bộ huyện H đi đo đạc.
Ồng Lê Thanh H1 là người chỉ xác định ranh giới đất cho cán bộ huyện H để đo
cắm mốc giới, ranh giới đất làm bản vẽ cho (Có giấy xác nhận của nhân
chứng kèm theo). Ngày 03/9/2019, bà được Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ1
cấp bản đồ đo đạc tên Thị N (Có trích lục bản đồ kèm theo). đã nhận
chuyển nhượng 39,585m
2
đất từ ông Thanh H1 nhưng phải trả tiền 3 lần, lần
đầu khoản tiền chuyển nhượng giữa ông Thanh H1 200.000.000
đồng, hai lần sau do phải khắc phục hậu quả do hành vi gian dối do ông Lê
Thanh H1 gây ra với số tiền 162.000.000 đồng; Cụ thể trả cho bà Thu T2
120.000.000 đồng và bà Phan Thị N1 42.000.000 đồng.
Vào ngày 28/8/2019 ông Thanh H1 đã khởi kiện ra Tòa án nhân dân
thành phố Phan Thiết yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng đất bán chưa
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông chỉ viết tay với mục đích vay tiền, ông
chấp nhận đền cho theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên yêu cầu khởi
kiện của ông Lê Thanh H1 sau khi Tòa thụ lý bà đã có yêu cầu áp dụng thời hiệu
giao dịch xảy ra từ năm 2012 nhưng đến 2019 ông Thanh H1 mới khởi
kiện ra Tòa yêu cầu tranh chấp trong khi tiền đã trả cho ông hết còn phải
thương lượng bồi thường cho ông thêm khoản tiền 161.000.000 đồng, đất đã
nhận sử dụng và đã trồng cây lâu năm trên đó. Trong quá trình giải quyết Tòa án
nhân dân thành phố Phan Thiết đưa vợ ông Lê Thanh H1 Dương Thị H
vào người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng Tòa đã thủ tục triệu tập
tống đạt các văn bản tố tụng cho Dương Thị H hợp lệ nhưng Dương
Thị H đã không đến Tòa án cũng như không có yêu cầu, trình bày ý kiến về việc
giải quyết vụ án, theo quy định của pháp luật bà Dương Thị H đã từ bỏ quyền lợi
hợp pháp của mình nên nay không quyền yêu cầu tranh chấp nữa. Do thời
hiệu tranh chấp hợp đồng đã hết theo quy định của Điều 429 Bộ luật Dân sự,
Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết đã đình chỉ giải quyết vụ án, ông
Thanh H1 kháng cáo, bà Dương ThH không kháng cáo mặc đã được tống
đạt văn bản tố tụng phù hợp trình tự tố tụng quy định (Có giấy niêm yết kèm
8
theo), Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận đã không chấp nhận kháng cáo của ông
Lê Thanh H1, giữ y quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm.
Nay Dương Thị H lại tiếp tục khởi kiện ông Thanh H1 ra Tòa án
nhân dân huyện Hàm Thuận Nam cho rằng diện tích đất trên đồng sở hữu
của Dương Thị H ông Thanh H1, một mình ông Thanh H1 định
đoạt là làm mất quyền lợi của bà Dương Thị H. Yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa và ông Lê Thanh H1 hiệu. thấy yêu
cầu này của Dương Thị H cố tình chiếm đoạt tài sản của bà, khi hợp đồng
mua bán giấy tay, ông Thanh H1 cung cấp hợp đồng mua bán giữa vợ
chồng ông Nguyễn Hữu H3 và ông Thanh H1 (Không chữ của bà
Dương Thị H) đất chưa sổ đỏ, chưa giấy chứng nhận nên chưa được
nhà nước công nhận. vậy, không thuộc tài sản của vợ chồng ông Thanh
H1 và bà Dương Thị H, vợ chồng ông Lê Thanh H1 liên kết với nhau nhằm trục
lợi nay thấy giá đất tăng cao nên ham lợi, tìm đủ mọi cách để lấy tài sản của
bà. Trong thời điểm khi mua đất đó năm 2012 không ai ý định mua xa xôi
hẻo lánh, nay do đường H đi T chạy ngang qua khu đất nên giá đất tăng
hơn, khi mua đã bị ông Thanh H1 lừa mua đất đã bán giấy tay cho người
khác, thời gian đó bà đã phải vất vả tranh chấp vì cả hai bên bà và bà Võ Thu T2
đều nói đất của mình mua, chúng tôi cùng tranh giành để trồng cây lâu năm trên
đất, sau đó muốn êm đẹp phải thỏa thuận với gia đình Thu T2, cuối
cùng bà phải trả lại cho bà Võ Thu T2 bằng số tiền ông Lê Thanh H1 đã bán cho
Thu T2. Mọi giấy tờ thỏa thuận, tranh chấp còn lưu giữ. Vậy khi
hai vợ chồng ông Thanh H1 thay nhau kiện ra Tòa đều không nói gì đến
chuyện này mà ông Lê Thanh H1 khởi kiện còn ngang ngược cho rằng bà chỉ trả
tiền cho ông Thanh H1 120.000.000 đồng, Dương Thị H khởi kiện còn
cho rằng chỉ trả tiền cho chồng bà 50.000.000 đồng việc làm gian dối coi
thường luật pháp. Nay không đồng ý yêu cầu của Dương Thị H đòi tuyên
bố hợp đồng mua đất giữa ông Thanh H1 hiệu sự việc đã được
giải quyết bằng quyết định hiệu lực pháp luật. Xác định sự việc đã được giải
quyết: Trong hai vụ kiện do Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết Tòa án
nhân dân huyện Hàm Thuận Nam giải quyết sự việc đây tức Hợp đồng
chuyển nhượng đất được xác lập giữa và ông Thanh H1 xảy ra vào ngày
12/9/2012. Sự việc này đã được Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết đình chỉ
giải quyết vụ án và Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận đã giữ y quyết định đình
chỉ.
Do sự việc đã được giải quyết nên Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận
Nam đã thụ vụ án: “Tranh chấp tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dung đất hiệu” thì thuộc trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định
của điểm g khoản 1 Điều 217 điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân
sự. Trong trường hợp Dương Thị H tranh chấp với ông Thanh H1 về việc
9
tài sản chung của hai người mà một mình ông Lê Thanh H1 bán sử dụng hết tiền
không mang về cho Dương Thị H một nội dung tranh chấp dân sự khác
không có liên quan đến bà.
vậy yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam: đề nghị
bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đề nghị xem xét đình chỉ việc giải
quyết tranh chấp giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà và ông
Thanh H1 sự việc đã được giải quyết bằng quyết định hiệu lực pháp luật
của Tòa án. yêu cầu a án công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất giữa ông Thanh H1 theo Giấy cam kết ngày 12/9/2012.
Trường hợp Tòa án tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hiệu
thì bà yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu. Đối với tài sản trên đất
tranh chấp gồm các cây bạch đàn hàng rào dây thép gai và các trụ tông tất
cả là tài sản của bà nếu ông Lê Thanh H1 trả tiền bồi thường đất cho bà thì bà di
dời toàn bộ các cây bạch đàn, tháo dỡ toàn bộ hàng o thép gai các trụ bê
tông để trả lại toàn bộ diện tích đất tranh chấp.
4. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị A trình bày
tại phiên tòa phúc thẩm: Năm 2021 A đặt cọc để chuyển nhượng toàn bộ
thửa đất tranh chấp với bà Thị N với giá 5,3 tỷ đồng/ha, bà đã chuyển cho bà
N tổng số tiền khoảng 15.000.000.000 đồng tiền chuyển nhượng. Nay việc
chuyển nhượng phát sinh tranh chấp với ông H1, H thì A đề nghị được
nhận lại số tiền đã giao cho bà N, không yêu cầu phạt cọc hay tính lãi.
*/ Tại Bản án dân sự thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 29 tháng 4 năm
2025 của Tòa án nhân n huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận (Nay
là Tòa án nhân dân khu vực 11 - Lâm Đồng), đã quyết định:
Căn cứ vào Điều 122, Điều 124, Điều 127, Điều 128, Điều 137, Điều 689
của Bộ luật Dân sự năm 2005; Điểm b khoản 1 Điều 127 Luật Đất đai năm
2003; Điều 28 Luật Hôn nhân Gia đình năm 2000; Khoản 3 Điều 26, Điều
35, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị H.
Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất “Giấy cam kết ngày
12/9/2012” giữa ông Lê Thanh H1 với bà Lê Thị N đối với thửa đất số 11, 12 và
49 với diện ch đất đo đạc thực tế 33.821,4m
2
(Đã trừ diện ch thu hồi làm
đường H - T) các thửa đất tọa lạc thôn D, H, huyện H, tỉnh Bình Thuận
hiệu.
10
2. Buộc ông Thanh H1 phải bồi thường cho Lê Thị N s tiền là
9.078.629.100 đồng (Bằng chữ: Chín tỷ không trăm bảy mươi tám triệu sáu trăm
hai mươi chín nghìn một trăm đồng) giá trị thiệt hại 120.000.000 đồng (Một
trăm hai mươi triệu đồng) tiền ông Thanh H1 đã nhận chuyển nhượng. Tổng
ông Lê Thanh H1 phải trả cho bà Lê Thị N là 9.198.629.100 đồng.
Kể từ ngày Bản án hiệu lực pháp luật (Đối với các trường hợp quan
thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả
cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trtrường hợp pháp
luật có quy định khác.
3. Bác yêu cầu độc lập của Thị N vviệc yêu cầu công nhận Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là Giấy cam kết đề ngày 12/9/2012.
4. Buộc Thị N phải tháo dỡ di dời các cây trồng trên đất toàn bộ
hàng rào thép gai các trụ tông nằm trên diện tích đất tranh chấp để trả lại
cho ông Thanh H1 và Dương Thị H quyền sử dụng đất với diện tích
33.821,4m
2
(Đã trừ diện tích thu hồi làm đường H - T) các thửa đất tọa lạc thôn
D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
(Kèm theo Bản án này bản sao Mảnh trích lục thửa đất số 11 49
ngày 02/4/2025 Mảnh trích lục thửa đất số 12 ngày 04/5/2023 của Chi
nhánh Văn phòng Đ1).
5. Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của người đại diện theo ủy
quyền của bà Dương Thị H là ông Lê Thanh Đbà Lê Thị N về việc chịu toàn
bộ chi phí tố tụng, bà Dương Thị H và bà Lê Thị N đã thực hiện xong.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về án phí, quyền, nghĩa vụ thi hành án
và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xthẩm, ông Thanh H1 nộp đơn kháng cáo yêu cầu sửa
bản án dân sự thẩm theo hướng giảm số tiền bồi thường cho N theo giá
nhà nước. Thị N nộp đơn kháng cáo yêu cầu sửa bản án dân sự thẩm
theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
*/ Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu giữ nguyên bản án
dân sự sơ thẩm.
- Bị đơn đề nghị xem xét lại mức bồi thường hợp đồng cho Thị N
việc định giá tài sản quá cao yêu cầu áp giá theo giá đất của UBND tỉnh L
ban hành.
11
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thị N người bảo vệ
quyền lợi ích hợp pháp của N: Với chứng cứ tại hồ sơ, đề nghị Hội đồng
xét xsửa bản án dân sự thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn. Chấp nhận yêu cầu độc lập của N công nhận hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa N ông H1. N được quyền sử
dụng đất hợp pháp. Nếu Hợp đồng vô hiệu thì đề nghị xác định lỗi hoàn toàn của
ông H1, H. Buộc ông H1, bà H phải bồi thường toàn bộ hợp đồng cho
Thị N theo giá trị thiệt hại của cấp sơ thẩm là 18.157.258.200 đồng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị A đề nghị xem xét
giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật: Việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên
hiệu với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà N ông H1 đã
ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bà A. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải
quyết đảm bảo quyền lợi của bà A.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu ý kiến về việc
tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án giai đoạn phúc thẩm
quan điểm giải quyết vụ án:
+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hội đồng xét xử,
Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các
đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về nội dung vụ án: Tòa án cấp thẩm tuyên hiệu Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sdụng đất giữa bà N ông H1 chưa đúng quy định. Tại
phiên tòa phúc thẩm, Thị N cung cấp Giấy bán đất ngày 26/01/2008 giữa
vợ chồng ông Thanh H1, Dương Thị H với Nguyễn Thị L. Chứng cứ
này thể hiện H đã biết việc ông H1 tiếp tục chuyển nhượng thửa đất cho bà
N. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn chấp
nhận kháng cáo của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thị N. Sửa
Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 29 tháng 4 năm 2025 của Tòa án
nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận (Nay Tòa án nhân dân
khu vực 11 - Lâm Đồng) theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Lê Thị N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại
phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Lâm Đồng, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đương sự kháng cáo trong thời hạn đúng quy
định pháp luật nên vụ án được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
12
[2] Tòa án nhân dân khu vực 11 - Lâm Đồng xác định quan hệ pháp luật
tranh chấp thụ giải quyết đúng quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a
khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Xét kháng cáo của các đương sự, HĐXX nhận thấy: Các đương sự tranh
chấp về việc chuyển nhượng thửa đất số 11, 12 49 với diện tích đất đo đạc
thực tế là 33.821,4m
2
(Đã trừ diện tích thu hồi làm đường H - T) các thửa đất tọa
lạc thôn D, H, huyện H, tỉnh Bình Thuận tại Giấy cam kết ngày 12/9/2012
giữa ông Thanh H1 với bà Thị N (Nay thôn D, H, tỉnh Lâm Đồng).
Bà Dương Thị H cho rằng thửa đất là tài sản chung của vợ chồng, ông Lê Thanh
H1 chuyển nhượng không cho H biết nên yêu cầu tuyên hiệu hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H1 N. Ông Lê Thanh H1 cho
rằng chỉ vay tiền, không bán đất cho bà N nên cũng đề nghị tuyên bố hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất hiệu, ông chỉ trlãi cho N đối với số
tiền đã nhận. Bà N cho rằng đã mua đất do cả hai vợ chồng đều biết, đã giao tiền
đầy đủ và đã nhận đất nên đề nghị công nhận hợp đồng.
[4] Về thời hiệu khởi kiện, trước đây a án nhân dân thành phố Phan
Thiết, tỉnh Bình Thuận (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 10 - Lâm Đồng) thụ
tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn ông
Lê Thanh H1, bị đơn là bà Lê Thị N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là
Dương Thị H, Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết đã đình chỉ giải quyết
vụ án hết thời hiệu khởi kiện do yêu cầu khởi kiện của ông H1 hủy bỏ hợp
đồng giữa ông với bà N theo Điều 423, 429 Bộ luật Dân sự.
[5] Trong vụ án này Thị N đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu yêu
cầu đình chỉ giải quyết vụ án bởi đã Quyết định số 88/2021/QĐST-DS ngày
30/7/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết (Nay Tòa án nhân dân
khu vực 10 - Lâm Đồng) đã hiệu lực pháp luật. HĐXX nhận thấy, mặc cả
hai vụ án đều tranh chấp vhợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất,
nhưng trong vụ án này nguyên đơn Dương Thị H khởi kiện với nội dung
yêu cầu tuyên bố việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Thanh H1
Thị N hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, không nội
dung khởi kiện yêu cầu hủy bỏ hợp đồng. Căn cứ Điều 123, 124 khoản 3 Điều
132 Bộ luật Dân sự năm 2015 thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân
sự giữa ông Thanh H1 Thị N hiệu không bị hạn chế. Do đó đ
nghị của bà Lê Thị N đình chỉ giải quyết vụ án vì lý do hết thời hiệu hay sự việc
đã được giải quyết bằng vụ án khác là không có căn cứ để chấp nhận.
[6] Xét Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là giấy viết tay có tiêu
đề Giấy cam kết ngày 12/9/2012, thửa đất chuyển nhượng nguồn gốc khai
hoang, chưa có giấy tờ về đất và chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, mặc các bên không tranh chấp về nguồn gốc đất nhưng việc giao dịch về
13
đất chưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không có giấy tờ về đất là vi
phạm điều cấm của pháp luật đất đai. Mặt khác, Giấy cam kết ngày 12/9/2012
chỉ ông H1 N giao dịch. H cho rằng không biết về giao dịch
này, N cho rằng ông H1, H đã bán cho L bằng Giấy nhận tiền bán
đất ngày 26/01/2008, sau này T2 N tranh chấp tại UBND nên bà
H đã biết việc chuyển nhượng của ông H1. Tuy nhiên, xét tgiấy nhận tiền bán
đất ngày 26/01/2008 giữa bà Nguyễn Thị L và vợ chồng ông Lê Thanh H1 thì bà
N không chứng cứ chứng minh mối liên quan giữa giao dịch của L, ông
H1, H với giao dịch của ông H1 với N chỉ là suy đoán H phải biết
ông H1 bán đất cho N. Do đó, căn cứ Điều 127, Điều 128 Bộ luật Dân sự
năm 2005 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng Giấy cam kết viết
tay ngày 12/9/2012 giữa ông Thanh H1 Thị N hiệu toàn bộ.
Do đó, bà Lê Thị N yêu cầu công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất không căn cứ chấp nhận. Tòa án nhân dân khu vực 11 - Lâm Đồng
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tuyên bố Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Thanh H1, bà Lê Thị N là giao dịch dân
sự vô hiệu, không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Lê Thị N là có căn cứ.
[7] Tại phiên tòa thẩm các đương sự thống nhất về giá trị tài sản để giải
quyết tranh chấp nên Tòa án cấp thẩm xác định lỗi xử hậu quả của hợp
đồng hiệu đúng quy định của pháp luật. Việc ông H1 kháng cáo cho rằng
áp giá quá cao yêu cầu áp gtheo giá nhà nước là không sở chấp
nhận. Bởi việc giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu phải căn cứ vào giá thị
trường của tài sản tại thời điểm xét xử. Mặt khác ông H1 cho rằng đây là số tiền
vay bị ép phải viết giấy bán đất nhưng không chứng cứ chứng minh do đó
Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận vấn đề này là có căn cứ.
[8] Về mức độ lỗi của các bên, thửa đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, không giấy tờ nguồn gốc, tài sản chung của vợ chồng nhưng các
bên vẫn tham gia giao dịch, do đó Tòa án cấp thẩm buộc N, ông H1 phải
cùng chịu lỗi như nhau, mỗi bên chịu 50% giá trị thiệt hại là có cơ sở.
[9] Qua hồ sơ vụ án, xem xét toàn bộ quá trình tố tụng ở cấp sơ thẩm và tại
phiên tòa xét xphúc thẩm, người kháng cáo cung cấp chứng cứ nhưng chưa
đầy đủ để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo do đó yêu cầu kháng cáo của ông
Thanh H1 Thị N không sở chấp nhận. HĐXX giữ nguyên
bản án dân sự sơ thẩm.
[10] Đối với việc Thị N chuyển nhượng thửa đất cho Nguyễn Thị
A tại Hợp đồng ngày 29/11/2021 tình tiết mới phát sinh tại phiên a phúc
thẩm. Tuy nhiên việc chuyển nhượng này chỉ giữa A N các bên chưa
phát sinh tranh chấp. Tại phiên tòa phúc thẩm bà A xác định đã giao tiền cho
N nếu việc chuyển nhượng không thành thì A chỉ có nhu cầu nhận lại số tiền
14
N đã nhận của A, không yêu cầu xử vi phạm hợp đồng tiền lãi. Như
vậy, HĐXX phúc thẩm không thẩm quyền giải quyết yêu cầu của A nếu
giữa các đương sự phát sinh tranh chấp thì quyền khởi kiện giải quyết trong
vụ án dân sự khác.
[11] Về số tiền đền , bồi thường khi thu hồi một phần đất tranh chấp,
mặc dù không tranh chấp nhưng HĐXX cần bổ sung ông Thanh H1,
Dương Thị H quyền liên hệ với quan nhà nước thẩm quyền để được
giải quyết nhận tiền bồi thường.
[12] Về án phí: Người kháng cáo phải nộp án phí dân sự phúc thẩm do yêu
cầu kháng cáo không được chấp nhận theo khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội. Về chi phí tố tụng N nộp tạm ứng tại cấp phúc thẩm do kháng cáo
không được chấp nhận nên bà N tự chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 6, 7
Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao.
Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của ông Thanh H1, Lê Thị
N. Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 29 tháng 4 năm
2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận (Nay
Toà án nhân dân khu vực 11 - Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng).
2. Căn cứ:
- Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 127, Điều 128 Bộ luật Dân sự năm 2005;
- Điều 122, Điều 123 Bộ luật Dân sự 2015;
- Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
3. Tuyên xử:
3.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị H.
Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất “Giấy cam kết ngày
12/9/2012” giữa ông Lê Thanh H1 với bà Lê Thị N đối với thửa đất số 11, 12 và
49 với diện ch đất đo đạc thực tế 33.821,4m
2
(Đã trừ diện ch thu hồi làm
15
đường H - T) các thửa đất tọa lạc thôn D, H, huyện H, tỉnh Bình Thuận
hiệu.
3.2. Buộc ông Thanh H1 phải bồi thường cho Thị N số tiền
9.078.629.100 đồng (Bằng chữ: Chín tỷ không trăm bảy mươi tám triệu sáu trăm
hai mươi chín nghìn một trăm đồng) giá trị thiệt hại 120.000.000 đồng (Một
trăm hai mươi triệu đồng) tiền ông Thanh H1 đã nhận chuyển nhượng. Tổng
ông Lê Thanh H1 phải trả cho bà Lê Thị N là 9.198.629.100 đồng.
Kể từ ngày Bản án hiệu lực pháp luật (Đối với các trường hợp quan
thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả
cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trtrường hợp pháp
luật có quy định khác.
3.3. Bác yêu cầu độc lập của Thị N vviệc yêu cầu công nhận Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là Giấy cam kết đề ngày 12/9/2012.
3.4. Buộc bà Lê Thị N phải tháo dỡ di dời các cây trồng trên đất và toàn bộ
hàng rào thép gai các trụ tông nằm trên diện tích đất tranh chấp để trả lại
cho ông Thanh H1 và Dương Thị H quyền sử dụng đất với diện tích
33.821,4m
2
(Đã trừ diện tích thu hồi làm đường H - T) các thửa đất tọa lạc thôn
D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
(Kèm theo Bản án này bản sao Mảnh trích lục thửa đất số 11 49
ngày 02/4/2025 Mảnh trích lục thửa đất số 12 ngày 04/5/2023 của Chi
nhánh Văn phòng Đ1).
4. Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của người đại diện theo ủy
quyền của bà Dương Thị H là ông Lê Thanh Đbà Lê Thị N về việc chịu toàn
bộ chi phí tố tụng, bà Dương Thị H và bà Lê Thị N đã thực hiện xong.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Nguyên đơn Dương Thị H và bị đơn ông Thanh H1 được miễn án
phí dân sự thẩm do người cao tuổi theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều
12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội.
- Thị N phải chịu án p dân sự thẩm không giá ngạch là
300.000 đồng đối với yêu cầu cộng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất không được chấp nhận.
6. Dương Thị H, ông Thanh H1 được quyền liên hệ với quan nhà
nước thẩm quyền để được giải quyết số tiền bồi thường về đất theo Thông
16
báo số 348/TB-UBND ngày 23/10/2020 Quyết định số 1604/QĐ-UBND
ngày 23/10/2020 của Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận (Cũ).
7. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Thanh H1 là người cao tuổi được
miễn án phí. Thị N phải nộp 300.000 đồng án phí n sự phúc thẩm
nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên
lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005819 ngày 09/6/2025 của Chi cục
Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận (Nay là Phòng Thi
hành án dân sự khu vực 11 - Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng). Về chi ptố tụng bà
N nộp tạm ứng tại cấp phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận nên bà N
tự chịu.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7A 9 Luật Thi
hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
8. Những quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, không
bị kháng nghị hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng o, kháng
nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (Ngày
29/6/2026).
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- VKSND, TANDKV 11 - Lâm Đồng;
- Phòng THADS KV11 - Lâm Đồng;
- Chi nhánh VPĐKĐĐKVHTN;
- Các đương sự;
- Cổng TTĐT-TANDTC;
- Lưu: Hồ sơ; Tòa DS; Tổ HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Lê Phương
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 367/2026/DS-PT Bản án số 367/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 367/2026/DS-PT Bản án số 367/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất