Bản án số 441/2026/DS-PT ngày 29/06/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 441/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 441/2026/DS-PT ngày 29/06/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 441/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông T, ông C, ông T1 yêu cầu ông N trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm; không yêu cầu giải quyết đối với phần bồi thường thiệt hại.Ông N không thống nhất trả lại đất theo yêu cầu của ông T, ông C và ông T1 mà yêu cầu tiếp tục quản lý sử dụng phần đất tranh chấp.Tại bản án dân sự sơ thẩm số
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 441/2026/DS-PT Bản án số 441/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 441/2026/DS-PT Bản án số 441/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TB dời lịch
20-04-2026.docx
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH
CÀ MAU
Bản án số: 441/2026/DS-PT
Ngày: 29 - 6 - 2026
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn A Đam
Ông Phan Thanh Hải
- Thư ký phiên tòa: Nguyễn Xuân Thũy Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Diễm Thúy - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 20 tháng 01, ngày 08, 09 29 tháng 6 năm 2026, ti trụ sở
Tòa án nhân dân tỉnh Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số:
407/2025/TLPT-DS ngày 23 tháng 10 năm 2025 về việc: Tranh chấp quyền sử
dụng đất.
Do bản án dân sự thẩm số: 21/2025/DS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 567/2025/QĐ-PT ngày 09 tháng 12
năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Cao Văn T, sinh năm 1977.
2. Ông Cao Văn C, sinh năm 1972.
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã H, tỉnh Cà Mau.
3. Ông Cao Văn T1, sinh năm 1966.
Địa chỉ: Ấp M, xã U, tỉnh An Giang.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông Cao Văn T, Cao Văn C,
Cao Văn T1: Luật sư Lê Thường V thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C.
Địa chỉ: Số B, đường M, Khóm D, phường A, tỉnh Cà Mau.
2
4. Cụ Cao Văn L (chết)
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của cụ Cao Văn L:
4.1. Ông Cao Văn D, sinh năm 1954 (chết)
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Cao Văn D:
- Ông Cao Văn V1, sinh năm: 1981; địa chỉ: ấp C, xã H, tỉnh Cà Mau.
- Ông Cao Văn T2
- Ông Cao Lý L1, sinh năm 1987;
- Ông Cao Văn Trọng P, sinh năm 1990;
Cùng địa chỉ: Số B Q, Khóm C, phường T, tỉnh Cà Mau.
4.2. Bà Cao Thị P1, sinh năm 1957; địa chỉ: Ấp C, xã H, tỉnh Cà Mau.
4.3. Ông Cao Văn G, sinh năm 1961; trú ti: p T, xã L, huyn T, tnh Sóc Trăng.
4.4. Ông Cao Văn C1, sinh năm 1967
4.5. Bà Cao Thị M, sinh năm 1970; cùng địa chỉ: Ấp C, xã H, tỉnh Cà Mau.
4.6. Bà Cao Thị P2, sinh năm 1975; địa chỉ: Ấp A, xã H, tỉnh Cà Mau.
- Bđơn: Ông Võ n N, sinh m 1949; đa ch: p X, xã H, tnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền của ông N: Ông Võ Văn T3, sinh năm: 1993.
Địa chỉ: Ấp X, xã H, tỉnh Cà Mau, (văn bản ủy quyền ngày 09/01/2026).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Võ Văn N: Luật sư Du Thị
B, là Lut Văn phòng L4, thuộc Đoàn Luật tỉnh C. Địa chỉ: Số H, Đ, Khóm
D, phường A, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Phạm Thị N1, sinh năm 1951; địa chỉ: Ấp X, xã H, tỉnh Cà Mau;
2. Ông Võ Văn P3, sinh năm 1941; địa chỉ: Ấp C, xã H, tỉnh Cà Mau.
3. Cụ Võ Thị K, sinh năm 1930 (chết)
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của cụ Võ Thị K:
3.1. Ông Cao Văn T, sinh năm 1977;
3.2. Ông Cao Văn C, sinh năm 1972;
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã H, tỉnh Cà Mau.
3.3. Ông Cao Văn T1, sinh năm 1966; địa chỉ: Ấp M, xã U, tỉnh An Giang;
3.4. Ông Cao Văn D, sinh năm 1954 (chết).
Người kế thừa quyền nghĩa vụ của ông Cao Văn D: Ông Cao Văn V1;
Ông Cao Văn T2; Ông Cao Lý L1; Ông Cao Văn Trọng P.
3.5. Bà Cao Thị P1, sinh năm 1956; địa chỉ: Ấp C, xã H, tỉnh Cà Mau.
3
3.6. Ông Cao Văn G1, sinh năm 1961; địa chỉ: Ấp T, L, huyện T, tỉnh
An Giang.
3.7. Ông Cao Văn C1, sinh năm 1967.
3.8. Bà Cao Thị M, sinh năm 1970.
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã H, tỉnh Cà Mau.
3.9. Bà Cao Th P2, sinh m 1974; đa ch: p 1, xã Hồ Th K, tnh Mau
4. Bà Đặng Thị Đ, sinh năm 1967; địa chỉ: Ấp M, xã U, tỉnh An Giang.
5. Ủy ban nhân dân xã H; địa chỉ: Ấp T, xã H, tỉnh Cà Mau.
6. Anh Cao Văn T4, địa chỉ: Ấp M, xã U, tỉnh An Giang.
7. Bà Văn Ngọc B1, sinh năm 1980; địa chỉ: Ấp C, xã H, tỉnh Cà Mau.
8. Chị Cao Thị P4, sinh năm 1999; địa chỉ: Ấp A, xã T, tỉnh Cà Mau.
9. Chị Cao Như P5, sinh năm 2001.
10. Anh Cao Minh S, sinh năm 2003.
11. Bà Phan Thị L2, sinh năm 1982.
12. Bà Cao Thị Như L3, sinh năm 2003.
13. Chị Cao Diễm M1, sinh năm 2006.
14. Chị Cao Kiều N2, sinh năm 2012.
Đại diện hợp pháp của chị Cao Kiều N2: Ông Cao Văn T Phan Thị
L2; cùng địa chỉ: Ấp C, xã H, tỉnh Cà Mau.
15. Anh Võ Văn T5, sinh năm 1985.
16. Anh Võ Văn C2.
17. Anh Võ Văn T3, sinh năm 1993.
18. Chị Lê Thùy D1, sinh năm 1993.
Cùng địa chỉ: Ấp X, xã H, tỉnh Cà Mau.
19. Bà Võ Thị N3; địa chỉ: Phường T, tỉnh Cà Mau.
20. Ông Võ Quốc V2; địa chỉ: Ấp G, xã T, tỉnh Cà Mau.
21. ChVõ Mng C3; địa ch: Số nhà B N, Khóm B, phưng A, tnh Mau.
22. Ông Võ Quốc C4.
23. Bà Võ Thị C5.
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã H, tỉnh Cà Mau.
Những người mặt tại phiên tòa phúc thẩm: Ông Cao Văn T, ông Cao
Văn C, ông Cao Văn T1, ông Văn T3, Văn T5, Văn C2 Lê Thùy
D1, Luật sư Lê Thường V và Luật sư Du Thị B.
4
- Người kháng cáo:
Ông Võ Văn N, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 26/11/2015, biên bản hòa giải cũng ntại phiên
tòa ông Cao Văn T, ông Cao Văn Công Cao Văn T1 cùng thống nhất trình bày:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của ông nội tên Cao Thiên K1 khai phá vào
năm 1950 và cho lại cha là ông Cao Văn L (chết năm 2016). Đến năm 1994 ông L
được cấp quyền sử dụng (QSD) đất với diện tích 147.400m
2
thuộc thửa 0074, 0075
tờ bản đồ số 09 đất tọa lạc tại ấp X, xã H, tỉnh Cà Mau.
Năm 2001, ông L phân chia phần đất nêu trên cho các con: Cao Văn Toản
diện tích 41.000m
2
thuộc thửa 694 tờ bản đồ số 09 theo đo đạc thực tế 39.038,1m
2
;
cho ông Cao Văn C diện tích 34.000m
2
thuộc thửa 695 tờ bản đồ số 09 theo đo đạc
thực tế vi diện ch 30.139,6m
2
; cho ông Cao Văn T1 Đặng Thị Đ diện tích
36.100m
2
thuộc thửa 696 tờ bn đồ số 09 theo đo đạc thực tế diện tích 31.740,1m
2
.
Ông T, ông C vợ chồng ông T1 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất (Giấy chứng nhận) và đắp bờ quản lý sử dụng.
Đến năm 2002, ông N lấn chiếm của ông T phần đất theo đo đạc thc tế diện
tích 4.164,6m
2
, lấn chiếm của ông C phần đất theo đo đạc thực tế diện tích
2.214,7m
2
, lấn chiếm của ông T1 Đ phần đất theo đo đạc thực tế diện tích
4.716,8m
2
. Do tranh chấp xảy ra nên từ năm 2002 đến nay phần đất ông N lấn
chiếm ông T, ông C ông T1 không quản sử dụng được. Nay ông T, ông C,
ông T1 yêu cầu ông N trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm; không yêu cầu giải
quyết đối với phần bồi thường thiệt hại.
Đối với khởi kiện của ông Cao Văn L thì ông T, ông C ông T1 những
người thừa kế quyền nghĩa vụ của ông L không yêu cầu giải quyết tại vụ án vì
phần đất đứng tên Cao Văn L còn lại không liên quan đến phần đất của ông
Văn N.
* Tại các biên bản hòa giải cũng như tại phiên tòa ông Võ Văn N, người đại
diện theo ủy quyền của ông N người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông
N trình bày:
Ông Võ Văn N được cha mẹ cho 02 phần đất: phần đất thứ nhất 07 công tầm
nhỏ (7.000m
2
) tọa lạc ấp C, H nhưng phần đất này không tranh chấp; phần đất
thứ hai diện tích 111 công theo đo đạc thực tế diện tích 90.609,9m
2
đt ta lạc tại
ấp X, H, tỉnh Mau nhưng ông N chưa được cấp Giấy chứng nhận, thửa đất
này có 01 phần đang tranh chấp với ông T, ông C và ông T1.
Tại phiên tòa sơ thẩm ông N người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
ông N yêu cầu tạm ngừng phiên tòa để thu thập chứng cứ về việc cấp đt cho ông
T, ông C ông T1 giám định chữ viết của ông N tại biên bản xác minh năm
2001 để cấp đất cho ông T1. Trường hợp Hội đồng xét xử không tạm ngừng phiên
toà thì ông N không thống nhất trả lại đất theo yêu cầu của ông T, ông C và ông T1
mà yêu cầu tiếp tục quản lý sử dụng phần đất tranh chấp.
5
* Tại các biên bản hòa giải cũng như tại phiên tòa thẩm ông Văn P3
trình bày:
Ông P3 là anh em ruột với ông N. Ông P3 thng nhất với phần trình bày của
ông N. Do phần đất tranh chấp giữa ông T, ông C, ông T1 không liên quan đến
ông P3 nên ông không yêu cầu tại vụ án.
* Trình bày của bà Phạm Thị N1:
N1 thống nhất với phần trình bày và yêu cầu của chồng là ông Võ Văn N
và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông N trình bày,N1 không có ý
kiến bổ sung.
* Quá trình giải quyết vụ án ông Cao Văn T4 trình bày:
Ông T4 con của ông T1. Ông T4 thống nht với trình bày yêu cầu của
ông T1, không có ý kiến bổ sung.
* Quá trình giải quyết vụ án ông Văn T5, ông Văn C2, ông Võ Văn
T3, bà Lê Thùy D1 cùng thống nhất trình bày:
Ông T5, ông C2, ông T3, D1 con của ông N bà N1. Ông thống
nhất với trình bày và yêu cầu của ông N nên ông bà không có ý kiến bổ sung.
Tại bản án dân sự thm số: 21/2025/DS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Cà Mau đã quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Cao Văn T Cao Văn C, chấp
nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Cao Văn T1 về việc tranh chấp quyền sử
dụng đất với ông Văn N, phần đất tọa lạc tại ấp X, xã H, tỉnh Mau theo bn
vẽ hiện trạng ngày 10/7/2024 Công văn số 33/TTKTCNQT-TVDV ngày
14/7/2025 kèm theo sơ đồ thửa đất của Trung tâm K2 - Quan trắc.
2. Buộc ông Võ Văn N trả lại cho ông Cao Văn T phần đất với diện tích theo
đo đạc thực tế 4164,6m
2
(có vị trí tứ cận).
3. Buộc ông Võ Văn N trả lại cho ông Cao Văn C phần đất với diện tích theo
đo đạc thực tế 2214,7m
2
(có vị trí tứ cận).
4. Buộc ông Võ Văn N trả lại cho ông Cao Văn T1, Đặng Thị Đào P6 đất
với diện tích theo đo đạc thực tế 4436,8m
2
(có vị trí tứ cận).
Các phần đất tn theo mảnh trích đo hiện trạng ngày 10/7/2024, Công văn
số 33/TTKTCNQT-TVDV ngày 14/7/2025 kèm theo đồ thửa đất của Trung
tâm K2, phần đất tranh chấp trích đo tthửa đất số 291, 301, 313, 368, 403, 417,
802, 990 tờ bản đồ số 5 bản đồ địa chính chỉnh lý năm 2018 đất tọa lạc tại ấp X, xã
H, huyện T, tỉnh Cà Mau nay là ấp X, xã H, tỉnh Cà Mau.
Ngoài ra, án thẩm còn tuyên về lãi suất chậm thanh toán, án phí và quyn
kháng cáo theo luật định.
Ngày 21 tháng 8 năm 2025, ông Văn N kháng cáo yêu cầu cấp phúc
thẩm giải quyết sửa bản án thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
6
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn và Luật sư bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn trình bày:
Ông N lấn đất của nguyên đơn, được chứng minh như sau: nh thể thửa đất
của cụ L, sau đó chuyển sang ông T, C, Tấn cạnh giáp đất ông N đường thẳng,
chứ không cong như hình thể đo đạc thực tế; tại cấp sơ thẩm, ông N thừa nhận chữ
ký của ông N trong biên bản xác minh để cấp Giấy chứng nhận cho cụ L, nhưng tại
cấp phúc thẩm ông T3 không thừa nhận; năm 1994, ông N biết cụ L được cấp Giấy
chứng nhận nhưng không ý kiến; tại phiên tòa phúc thẩm ngày 08/6/2026, ông
T3 trình bày ông N tên xác nhận vào biên bản xác minh để cấp Giấy chứng
nhận cho ông T1, mà đất của ông T1 là thửa đất cuối, nếu kéo thì t điểm cuối đất
ông T1 kéo thẳng lên đất của ông C, T thì đường giáp ranh không nhiều đoạn
cong như bản trích đo hiện trạng.
- Đại diện theo ủy quyền của bị đơn, ông T3 và Luật sư bảo vệ quyền lợi của
bị đơn trình bày: Giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Căn cứ kháng cáo: Đất tranh chấp là cái lung, ông N quản lý, sử dụng trên
30 năm tính từ năm 1966 cho đến khoảng năm 2004 (từ khi tranh chấp năm 2004
đến nay đất bỏ trống); đất tranh chấp không nằm trong Giấy chứng nhận của
nguyên đơn, nguyên đơn khởi kiện cho rằng thiếu đất so với Giấy chứng nhận
không phù hợp; theo sơ đồ cũ và trích lục phần đất tranh chấp là cái lung hình thửa
cong.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy
định của pháp luật tố tụng các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền
nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.
Về nội dung: Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận
một phần kháng cáo, sửa một phần bản án sơ thẩm thể hiện tại biên tập bản vẽ của
Hội đồng xét xử, đất tranh chấp thuộc về các nguyên đơn tổng diện tích 6.254,7m
2
.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm;
trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của người tham gia tố tụng,
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của ông Văn N nộp trong thời hạn luật định, hợp lệ
nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 20/01/2026, bị đơn yêu cầu đo đạc phần
đất còn lại sau khi cụ L tặng cho ông T, ông C, ông T1 bị đơn yêu cầu giám
định chữ tên của ông N tại biên bản xác minh để cấp Giấy chứng nhận cho cụ
L; yêu cầu này được nguyên đơn đồng ý, đại diện Viện kiểm sát Hội đồng xét
xử nhận thấy cần phải thu thập chứng cứ theo yêu cầu của bị đơn. Tuy nhiên,
quan giám định từ chối giám định.
7
[3] Phần đất tranh chấp theo kết quả đo đạc thực tế, thể hiện: ông T xác định
ông N lấn diện tích 4.164,6m
2
, ông C xác định ông N lấn diện tích 2.214,7m
2
ông T1 cho rằng ông N lấn diện tích 4.436,8m
2
, tọa lạc ấp X, xã H, tỉnh Cà Mau.
[4] Cụ Võ Văn N4 là cha của ông Võ Văn P3, Võ Văn N và cụ Võ Thị K (cụ
K vợ của Cao Văn L), cụ N4 khai phá đất và chia cho ba người con ruột; đt của
ông N và đất của vợ chồng cụ K, cụ L giáp ranh. Năm 1994, cụ L được cấp Giấy
chứng nhận tổng diện tích 147.400m
2
; về phía ông N, khoảng năm 2001, lập thủ
tục xin cấp Giấy chứng nhận thì phát sinh tranh chấp, cho nên đến nay chưa được
cấp giấy. Từ năm 2004, ông N, ông P3 khởi kiện ông L, qua nhiều lần giải quyết
kết quả hủy án, sau đó nhiều lần đình chỉ giải quyết vụ án; đến năm 2015, cụ L,
ông T, ông C ông T1 khởi kin ông N, đến nay tranh chấp giữa các đương sự
chưa được giải quyết dứt điểm.
[5] Xét kháng cáo,
[5.1] Qua xem xét toàn diện hồ vụ án, cũng như lời trình bày của các
đương sự và tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xem xét các vấn đề sau:
- Thứ nhất, xem xét về quá trình quản lý, sử dụng lung đất
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn xác định din tích tranh chấp là cái lung, do
bị đơn quản sử dụng toàn bộ lung đất từ năm 1966 đến khoảng 2004 (bắt đầu
xảy ra tranh chấp), lung đất không nằm Giấy chứng nhận của nguyên đơn; về phía
nguyên đơn xác nhận đất tranh chấp một phần diện tích thuộc cái lung và một phần
diện tích đất nằm trong Giấy chứng nhận của các nguyên đơn.
Theo như hồ sơ vụ án thể hiện, năm 2004, ông N khởi kiện cụ L tranh chấp
về lung đất diện tích 21.335m
2
thuộc tờ bản đ05, thửa 291 và tài liệu thu thập
tại thời điểm Tòa án giải quyết năm 2006 thể hiện toàn bộ diện tích đt của cái
lung do ông N quản lý, sử dụng từ năm 1966, ông N và ông P3 sử dụng vào việc
nuôi tôm, trồng lá; từ đó, bản án thẩm số 26/2006/DSST ngày 29/8/2006 của
Tòa án nhân dân huyện Thới Bình tuyên xử Công nhận phần đất diện tích
21.335m
2
, tờ bản đồ 05, thửa số 291 tọa lạc ấp X, H, huyện T, tỉnh Mau
thuộc quyền sử dụng của ông Võ Văn P3 và ông Võ Văn N”;
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn xác nhận sdụng đất theo hiện trạng
thực tế được chia tách từ đất của cụ L; đối chiếu với thực tế sử dụng đất của
nguyên đơn các tài liệu trong hồ sơ đủ căn cứ xác đnh lung đất diện tích
21.335m
2
, tờ bản đồ 05, thửa số 291 do ông N quản lý, sử dụng từ năm 1966 đến
khi xảy ra tranh chấp.
- Thứ hai, xem xét căn cứ khởi kiện của nguyên đơn,
(1) Nguyên đơn cho rằng diện tích đất đang sử dụng thiếu so với Giấy chứng
nhận, cho nên khởi kiện yêu cầu ông N trả lại cho đủ diện ch ghi trong Giấy
chứng nhận:
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bị đơn xác nhận thời điểm cấp Giấy
chứng nhận cho cụ L năm 1994, cấp theo khai của người sử dụng đất, cấp
theo hiện trạng sử dụng thực tế; năm 2001, cụ L chia đất cho 03 nguyên đơn, căn
cứ vào Giấy chứng nhận, các nguyên đơn cho rằng thiếu đất ông N lấn; tuy
8
nhiên, ông T3 trình bày một cạnh giáp ranh đất cụ L đất của ông Văn C6
(con cụ L), có thể ông C6 lấn qua. Để chứng minh cho lời trình bày của ông T3, hồ
vụ án tài liệu biên bản hòa giải của UBND H vào thời điểm năm 2008
thì ông C6 tham gia giải quyết về tranh chấp giữa cụ L, ông C6, ông T, ông C,
ông T1 và ông N.
Mặt khác, hồ cấp Giấy chứng nhận cho cụ L chưa đủ sở kết luận ông
N giáp ranh (bởi chữ tên của ông N không giám định được), tại phiên
tòa phúc thẩm, nguyên đơn trình bày hiện trạng sử đất thực tế của nguyên đơn
không thay đổi so với thời điểm cL chia đất cho nguyên đơn; đất của cụ L có một
cạnh giáp đt ông N, một cạnh giáp đất ông C6, ông D; các nguyên đơn thiếu đất
và cho rằng ông N lấn là chưa có cơ sở vững chắc.
Các nguyên đơn được chia tách QSD đt được đứng tên Giấy chứng nhận từ
năm 2001, nhưng đến năm 2008, chính quyền địa phương hòa giải thì ranh đất giữa
gia đình cụ L với ông N vẫn chưa được xác định rõ ràng (từ bút lục 07 12); t đó
cho thấy thời điểm chuyển tên Giấy chứng nhận cho ông T, C, T1 căn cứ trên
Giấy chứng nhận của cụ L đ tách cho từng người, chứ không đo đạc thực tế,
phù hợp với lời trình bày của ông T3.
(2) Nguyên đơn xác định giáp ranh đất ông N cạnh thẳng chứ không
giống như hiện trạng đo đạc thực tế:
Tại Bản trích lục bản đồ ngày 07/4/2022 về việc trích lục tài liệu của năm
2003 (bút lục 260), thể hiện đất của Cao Văn L thuộc tbản đ số 5, thửa 274,
301; giáp với hai thửa đất này là thửa 291; căn cứ tài liệu năm 2003 thì cạnh
thửa đất 274 và 301 giáp với thửa 291 không phải đường thẳng như nguyên đơn
trình bày. Thửa 291 là lung đất, hình thể lung đất không thẳng.
Căn cứ vào Trích lục bn đồ địa chính ngày 15/9/2005 (bút lục 102), thửa 291 giáp
với thửa đất của nguyên đơn đường cong, phù hợp với hiện trạng sử dng đất
của nguyên đơn. Như vậy, hiện trạng sử dụng đt thực tế của nguyên đơn cạnh
giáp đất ông N không phải là cạnh thẳng.
- Thứ ba, xem xét về hiện trạng sử dụng đt và nội dung hòa giải tại thời
điểm mới phát sinh tranh chấp:
Giấy chứng nhận năm 1995 của Cao Văn L được cấp diện tích 147.100m
2
(thửa 74 5900m
2
, thửa 75 141.500m
2
), thửa 75 cụ L chia cho 03 nguyên đơn,
đất của ông T thuộc thửa 694, đất ông C thửa 695 và đất ông T1 thửa 696; nếu kéo
thẳng từ điểm cuối của thửa 696 lên thửa 694 thì đất của ông T, C, T1 thì hình thể
không cong nhiều như bản trích đo hiện trạng ngày 10/7/2024.
Qua xem xét biên bản hòa giải ngày 13/8/2008 của UBND H, ông
Văn N trình bày “…nhờ chính quyền coi lại bản đồ số 09, nếu hộ nào còn đất thì
phân chia….; căn cứ o bản đồ cột mốc hai đầu để tính, nếu bên còn thì
hưởng, hết thì thôi”. Ngoài ra, ông N tên vào “Bản xác minh đề nghị" số 174
ngày 03/3/2001 của UBND H về việc xác minh hộ giáp ranh để làm sở tách
QSD đất cho ông T1. Căn cứ vào nội dung biên bản hòa giải ngày 13/8/2008
bản xác minh số 174, thì kéo t cột mốc điểm cuối ở phần đất ông T1 lên điểm đầu
9
phần đất của ông T là phù hợp với thc tế sử dụng đt của nguyên đơn; nếu căn cứ
vào bản trích đo hiện trạng ngày 10/7/2024 thì thửa đt của ông T1 ông T
hình thể không phù hợp với hiện trạng ban đầu.
[5.2] Trong vụ án y, nguyên đơn, bị đơn là dòng họ với nhau, ông N vợ
chồng cụ L, cụ K anh em ruột (ông T, C, T1 con cụ L). Cụ N4 cho đất các
con, cụ thểcho vợ chồng cK, cụ L và ông N, mỗi người trên 100 công, đất của
ông N đất cụ L giáp ranh; khoảng từ năm 2001 bt đu xy ra tranh chấp về
ranh đất, theo hồ vụ án thể hiện năm 2004 khởi kiện phần đất tranh chấp cái
lung có diện tích 21.335m
2
thuộc tờ bản đồ 05, thửa 291 do ông N quản lý, sử dụng
từ năm 1966 cho đến khoảng năm 2004; về phía nguyên đơn trình bày các
nguyên đơn sử dụng đất đúng theo hiện trạng từ khi được cụ L chia đất, không
thay đổi v vị trí. Qua đo đạc thực tế, đất của nguyên đơn thiếu so với Giấy chứng
nhận; tuy nhiên, lung đất thuộc tha 291 trước đây ông N quản lý, sử dụng gần 40
năm, nhưng khoảng từ năm 2004 đến nay do tranh chấp nên thửa 291 không ai
được s dụng thửa 291 chưa cấp Giấy chứng nhận cho ai; căn cứ vào biên bản
hòa giải năm 2008 bản xác minh số 174 thể hiện ý kiến của ông N, kéo dài từ
cột mốc điểm cuối của thửa đất ông T1 lên điểm đu của thửa đất ông T thì trong
diện tích tranh chấp một phần thuộc về đất của nguyên đơn. Đường thẳng được
kéo dài thể hiện tại các điểm MD'MC'MB'MA'.
Đất tranh chấp có tổng diện tích 10.816,1m
2
. Sau khi kéo dài từ điểm
MD'MC'MB'MA', đất của các nguyên đơn được chấp nhận có tổng diện tích
6.256,7m
2
, cụ thể: đất của ông T có diện tích 2650,4m
2
được ký hiệu ở thửa 14; đất
của ông C diện tích 1063,6m
2
được ký hiệu thửa 16; đất của ông T1 diện
tích 2542,7m
2
được ký hiệu ở thửa 18.
Đất của N tổng diện tích 4559,4m
2
, được hiệu tại thửa 19 diện tích
1894,1m
2
, được ký hiệu ti thửa 17 có diện tích 1151,1m
2
và ký hiu tại thửa 15 có
diện tích 1514,2m
2
.
Do đó, buộc ông N giao trả cho ông T diện tích đất 2650,4m
2
, giao trả cho
ông C diện tích đất 1063,6m
2
và giao trả cho ông T1 diện tích 2542,7m
2
.
[6] Tại cấp phúc thẩm phát sinh nhiều tài liệu, tình tiết mới; do đó, chấp
nhận một phần kháng cáo, sửa một phần bản án thẩm đúng như đề nghị của
Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[7] Về chi phí tố tụng
7.1. Tại cấp thẩm: do sửa án thẩm, nên thay đổi về nghĩa vụ chịu
chi phí tố tụng. Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận với tổng diện tích đất
6.254,7m
2
; bị đơn được chấp nhận với tổng diện tích đất 4.559,4m
2
; do đó, tổng
chi phí tố tụng 43.039.000đ, nguyên đơn chịu 40% = 17.215.600đ, bị đơn chịu
60% = 25.823.400đ. Nguyên đơn đã nộp đủ, buộc ông N hoàn trả cho ông T
25.823.400đ.
7.2. Tại cấp phúc thẩm
10
- Chi phí thẩm định, đo đạc lại: ông N yêu cầu đo đạc lại, nên ông N phải
chịu; ông N đã nộp tạm ứng 15.000.000đ, trả chi phí thẩm định, đo đạc là
7.784.000đ, được nhận lại 7.216.000đ.
- Chi phí biên tập bản vẽ, các nguyên đơn bị đơn mỗi bên phải chịu
1.278.500đ, đã nộp đủ.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm
Nguyên đơn phải chịu án phí đối vi diện tích đất không được chấp nhận
4.559,4m
2
x 75.000đ/m
2
= 341.955.000đ x 5% = 17.098.000đ (làm tròn số); mỗi
người phải chịu 5.699.000đ (làm tròn), ông T1 người cao tuổi được miễn; ông T
C phải nộp 11.398.000đ; ngày 29/01/2016, Cao Văn L, T, C, Tấn d nộp
5.661.500đ được đối trừ, ông T và ông C phải nộp tiếp 5.736.500đ.
Ông Võ Văn N là người cao tuổi, được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
[9] Án phí phúc thẩm, ông N không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 2 Điều 308 Bộ luật t tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn Văn N; sửa bản án dân sự
thẩm số: 21/2025/DS-ST ngày 14 tng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực
2 Cà Mau.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Cao Văn T, ông Cao Văn
C và ông Cao Văn T1 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Võ Văn N.
Buộc ông Võ Văn N trả lại cho các nguyên đơn phần diện tích đất tọa lạc tại
ấp X, H, huyện T, tỉnh Mau (nay ấp X, H, tỉnh Mau), theo đo đạc
thực tế được thể hiện tại Bản vẽ hiện trạng ngày 29 tháng 6 năm 2026 của Trung
tâm Kỹ thuật - Công nghệ - Quan trắc tỉnh K2. Cụ thể:
- Ông Võ Văn N giao trả lại cho ông Cao Văn T diện tích đất 2650,4m
2
được
ký hiệu tại thửa số 14 (các điểm MA'M20M21M22M23M24MB').
- Ông Văn N giao trả lại cho ông Cao Văn C din tích đất 1063,6m
2
được ký hiệu tại thửa số 16 (các điểm MB'M24M25M26M27MC').
- Ông Văn N giao trả lại cho vợ chồng ông Cao Văn T1, Đặng Thị Đ
diện tích đất 2542,7m
2
được hiệu tại thửa số 18 (các điểm
MC'M27M28M29M9M10MD').
(Kèm theo Bản vẽ hiện trạng ngày 29/6/2026 của Trung tâm kỹ thuật - Công
nghệ - Quan trắc tỉnh K2).
2. Chi phí tố tụng
2.1. Chi phí tố tụng tại cấp sơ thẩm
11
Nguyên đơn phải chịu 17.215.600 đồng, bị đơn phải chịu 25.823.400 đồng;
nguyên đơn đã nộp đủ toàn bộ chi phí tố tụng; buộc bị đơn ông Văn N hoàn trả
lại cho ông Cao Văn T 25.823.400 đồng.
Trường hợp ông N chậm thanh toán tiền cho ông T thì phải chịu lãi suất theo
quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
2.2. Chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm
- Chi phí thẩm định, đo đạc lại, ông Võ Văn N phải chịu 7.784.000 đồng, đã
nộp tạm ứng 15.000.000 đồng, được nhận lại 7.216.000 đồng.
- Chi phí Biên tập lại bản vẽ, các nguyên đơn bị đơn mỗi bên phải chịu
1.287.500 đồng, đã nộp đủ.
3. Về án phí
3.1. Về án phí dân sự sơ thẩm
- Nguyên đơn phải chịu án phí đối với diện tích đất không được chấp nhận
với số tiền 17.098.000 đồng; mỗi người phải chịu 5.699.000 đồng, ông T1
người cao tuổi được miễn; ông Cao Văn T Cao Văn C phải nộp 11.398.000
đồng; Cao Văn L, T, C, Tấn d nộp 5.661.500 đồng theo biên lai số 03176 ngày
29/01/2016 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình (nay Phòng Thi
hành án dân sự khu vực 2 – Cà Mau) được đối trừ, ông Cao Văn T và ông Cao Văn
C phải nộp tiếp 5.736.500 đồng.
- Ông Võ Văn N là người cao tuổi, được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
3.2. Án phí phúc thẩm, ông Võ Văn N không phải chịu.
4. Các quyết định khác không kháng cáo, kháng nghị phát sinh hiệu lực
kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 2 – Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 2 – Cà Mau;
- Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT (TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Thị Hiền
12
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 441/2026/DS-PT Bản án số 441/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 441/2026/DS-PT Bản án số 441/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất