Bản án số 463/2026/DS-PT ngày 15/09/2026 của TAND tỉnh An Giang về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 463/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 463/2026/DS-PT ngày 15/09/2026 của TAND tỉnh An Giang về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh An Giang
Số hiệu: 463/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 463/2026/DS-PT Bản án số 463/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 463/2026/DS-PT Bản án số 463/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 463/2026/DS-PT
Ngày: 15/9/2026
V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Bích Vân
Các thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Út Mẫn
Bà Trần Thị Trâm Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:
Ông Trương Văn C - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 07 và 15 tháng 9 năm 2026 Tòa án nhân dân tỉnh An
Giang xét xử công khai vụ án thụ lý số 396/2026/TLPT-DS, ngày 24 tháng 7
năm 2026, về: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 120/2026/DS-ST ngày 01/6/2026 của Tòa án
nhân dân Khu vực 2 - An Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 414/2026/QĐPT-DS ngày 03
tháng 08 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hoàng Bảo T, sinh năm 1973. Có mặt.
CCCD: ************.
Địa chỉ: khu phố S, đặc khu P, tỉnh An Giang.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T là: Luật sư Trần T1 -
Công ty luật trách nhiệm hữu hạn Q và Cộng sự, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố
H. Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Kỳ H, sinh năm 1953. Vắng mặt.
Địa chỉ: khu phố S, đặc khu P, tỉnh An Giang.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Kỳ H là: Ông Trần Đại
N, sinh năm 1968. (Văn bản ủy quyền ngày 27/8/2024). Có mặt ngày 07/9/2026
và có đơn yêu cầu vắng mặt ngày 15/9/2026.
CCCD: ************.
Địa chỉ: số A, đường N, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
2
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Tạ Phát M, sinh năm
1971. Có đơn yêu cầu vắng mặt.
Địa chỉ: khu phố S, đặc khu P, tỉnh An Giang.
4. Người kháng cáo: Bà Nguyễn Hoàng Bảo T - là nguyên đơn và ông Tạ
Phát M - là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng Bảo T trình bày: Trước năm
1975, ông bà nội của bà là cụ Nguyễn Văn Đ và Đặng Thị T2 là người sử dụng
phần đất hơn 70.000m
2
tại ấp S, xã D Năm 1980, cô bà T là bà Nguyễn Thị Yến
N1 là con gái về sống cùng với ông bà nội của bà nên được ông bà tặng cho
phần đất hơn 30.000m
2
; phần đất còn lại hơn 40.000m
2
được ông bà nội của bà
cho những người con khác là bà Nguyễn Thị Thanh X và ông Nguyễn Tường V
mượn sử dụng. Sau này ông Nguyễn Kỳ H là con của bà Nguyễn Thị Thanh X
được bà X giao lại toàn bộ phần đất 40.000m
2
cho ông H tiếp tục sử dụng. Ông
H đã để cho vợ là bà Trần Thị H1 kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng phần đất hơn 40.000m
2
. Bà Trần Thị H1 được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC
114679 ngày 21/12/2010 rồi bà H1 chuyển nhượng lại cho ông H được cập nhật
biến động vào ngày 14/01/2011.
Năm 2010-2015, ông Tạ Phát M (thời điểm đó ông M là chồng của bà, bà
và ông M kết hôn năm 2001, ly hôn năm 2020) đã mua lại toàn bộ diện tích hơn
30.000m
2
đất của bà Nguyễn Thị Yến N1 và ông M nhờ bà đứng tên giùm nên
bà Nguyễn Thị Yến N1 chuyển giao toàn bộ quyền sử dụng đất cho bà đứng tên
sử dụng theo yêu cầu của ông M.
Quá trình sử dụng đất, ông H đã lấn chiếm 50,7m
2
đất vào thửa đất số 69
và thửa đất số 1 tờ bản đồ số 17, ấp S, xã D, thành phố P. Đây là các thửa đất đã
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà theo giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB
037439 ngày 01/11/2010 và số BD 554031 ngày 07/12/2010, Ủy ban nhân dân
xã D đã lập biên bản hòa giải số 23/BB-HGTCĐĐ ngày 24/3/2023 và ông H đã
thừa nhận việc này. Ông H cũng biết rõ phần đất 50,7m
2
không thuộc quyền sử
dụng đất mà ông H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà thuộc
quyền sử dụng đất của bà và ông M. Ông H cam kết sẽ hoàn trả lại cho bà và
ông Tạ Phát M sử dụng phần đất mà ông H đã lấn chiếm. Tuy nhiên khi xây
dựng lại hàng rào thì ông H vẫn còn chiếm giữ một phần diện tích khoảng 30m
2
của thửa đất này mà chưa bàn giao lại toàn bộ phần đất này cho bà và ông Tạ
Phát M quản lý sử dụng. Việc ông H lấn chiếm phần đất đã được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng cho bà và ông Tạ Phát M sử dụng là trái pháp luật. Vì vậy,
bà khởi kiện ra tòa án buộc ông H phải bàn giao lại cho bà phần đất khoảng
30m
2
mà ông H đã lấn chiếm và buộc ông H tháo dỡ hàng rào đã xây dựng trên
phần đất thuộc quyền sử dụng của bà.
Đến ngày 03/3/2025, bà Nguyễn Hoàng Bảo T có đơn bổ sung yêu cầu
3
khởi kiện ghi ngày 28/02/2025: yêu cầu ông H phải trả cho bà và ông M phần
đất có diện tích 140,3m
2
lấn chiếm và tài sản trên đất là 03 cây dừa, 01 bể nước
theo sơ đồ tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 06/11/2024 của Tòa án
nhân dân thành phố Phú Quốc (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 - An Giang);
buộc ông H tháo dỡ bức tường xây trái phép trên phần đất lấn chiếm và bồi
thường 02 cây dừa bị ông H làm chết tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ
ngày 06/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc (nay là Tòa án nhân
dân khu vực 2 - An Giang); trường hợp ông H đã hợp thức hóa phần đất lấn
chiếm 140,3m
2
, yêu cầu hủy phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông
H đối với phần lấn chiếm.
- Theo bị đơn ông Nguyễn Kỳ H và người đại diện theo ủy quyền trình
bày: Ông Nguyễn Kỳ H là người quản lý, sử dụng hợp pháp thửa đất số 39, diện
tích 42.629,1m
2
tại ấp S, xã D, thành phố P, Kiên Giang, theo giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất ông H đứng tên ngày 14/01/2011.
Căn cứ biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 06/11/2024 và Tờ trích
đo địa chính số 597-2024 thể hiện theo nguyên đơn chỉ ranh: Diện tích đất tranh
chấp 140,3m². Nhưng kết quả đo vẽ xác định chỉ có diện tích đất 0,6m² thuộc
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà T. Còn diện tích đất 139,7m² thuộc
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H. Như vậy xác định rõ ông H chỉ
lấn chiếm 0,6m² thuộc thửa số 69, tờ bản đồ 17, nằm trong diện tích 9.214.4m²
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà T.
Ngày 25/12/2024 ông H đã đập bỏ một phần tường theo hiện trạng hiện
hữu, xây lại tường mới để trả lại cho bà T diện tích đất 0,6m² theo đúng kích
thước, vị trí được mô tả tại Tờ trích đo địa chính tranh chấp số 597-2024 ngày
05/12/2024 có chính quyền địa phương chứng kiến (Biên bản ghi nhận sự việc
ngày 25/12/2024). Như vậy, đối tượng tranh chấp của vụ kiện không còn, phần
đất ông H lấn chiếm, ông H tự nguyện di dời trả bà T, trên cơ sở giao trả đất tự
nguyện của ông H. Do vậy, bị đơn không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, đề nghị Tòa án xem xét không chấp nhận thụ lý đơn khởi kiện bổ
sung của nguyên đơn ngày 03/3/2025 vì không có căn cứ pháp luật; các tài liệu,
chứng cứ trong vụ án đã đầy đủ: Tòa án cũng đã thực hiện các thủ tục công khai
chứng cứ và hòa giải, đề nghị Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
Đối với ý kiến của nguyên đơn về việc nguyên đơn sử dụng bồn nước từ
trước đến nay, bị đơn không đồng ý, vì tại buổi xem xét, thẩm định tại chỗ của
Tòa án ngày 06/11/2024, bị đơn thấy toàn bộ phần bồn nước do phía ông H quản
lý, sử dụng nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 37/2026/DS-ST, ngày 12/3/2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 2 - An Giang đã xét xử, quyết định:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hoàng Bảo T đối với
ông Nguyễn Kỳ H về việc buộc ông Nguyễn Kỳ H trả lại phần đất lấn chiếm tọa
lạc tại khu phố S, D, đặc khu P, tỉnh An Giang.
Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và báo quyền
kháng cáo cho đương sự theo quy định pháp luật.
4
Ngày 03/6/2026 bà Nguyễn Hoàng Bảo T kháng cáo với nội dung: Yêu
cầu cấp phúc thẩm hủy bản án dân sự sơ thẩm, với lý do: thẩm định tại chỗ chưa
ghi nhận đúng và đầy đủ tài sản tranh chấp, không thụ lý đơn khởi kiện bổ sung,
chưa thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ, thẩm phán giải quyết vụ án sơ thẩm
không vô tư khách quan và có xin thay đổi chủ tọa nhưng không được chấp
nhận, tại phiên tòa sơ thẩm có yêu cầu thẩm định tại chỗ lại nhưng không được
chấp nhận.
Ngày 18/6/2026 ông Tạ Phát M kháng cáo với nội dung: Yêu cầu cấp
phúc thẩm hủy bản án dân sự sơ thẩm, với lý do: cấp sơ thẩm xét xử không đúng
về nội dung, thẩm định tại chỗ không đầy đủ, không thẩm định giá tài sản, Thẩm
phán cấp sơ thẩm không cho bà T sao chụp hồ sơ vụ án, Thẩm phán không vô tư
khách quan làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của ông và bà T.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Phía nguyên đơn trình bày: Tại cấp sơ thẩm, bà có đơn khởi kiện bổ sung
nhưng cấp sơ thẩm không thụ lý là không đúng, cấp sơ thẩm không thẩm định
giá tài sản cây trồng trên đất. Trong vụ án chia thừa kế đã xử có hiệu lực pháp
luật thì bà không biết còn phần đất là 140,3m
2
nằm ngoài giấy chứng nhận,
nhưng theo hiện trạng thì là đất của bà sử dụng. Yêu cầu dừng phiên tòa để bà
cung cấp thêm chứng cứ và những người biết nguồn gốc tài sản trên đất do tại
phiên tòa phúc thẩm thì không cung cấp được, trước đây tại cấp sơ thẩm bà
không có đơn yêu cầu thẩm định giám định tài sản, nay yêu cầu cấp phúc thẩm
thẩm định giám định tài sản trên đất. Thẩm phán cấp sơ thẩm không cho bà sao
chụp hồ sơ, không vô tư khách quan, bà có yêu cầu thay đổi thẩm phán nhưng
không được chấp nhận là không đúng.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà T có ý kiến và yêu cầu:
Thẩm phán sơ thẩm không cho sao chụp hồ sơ vụ án, khi đo đạc không thể hiện
công trình tài sản trên đất, Thẩm phán cấp sơ thẩm không vô tư khách quan
trong quá trình xét xử vì Thẩm phán không cho Luật sư trả lời thay cho nguyên
đơn, sau khi Luật sư có ý kiến theo điều luật quy định thì Thẩm phán cấp sơ
thẩm mới chấp nhận cho Luật sư trả lời thay, cấp sơ thẩm không thay đổi Thẩm
phán mà vẫn xét xử là không đúng thành phần HĐXX, trong bản án sơ thẩm căn
cứ vào các bản án đã có hiệu lực để cho rằng bà T sử dụng 9.214,4m
2
là không
đúng, vì bà T còn sử dụng đất ngoài giấy chứng nhận. Bà T nộp đơn khởi kiện
bổ sung nhưng không được cấp sơ thẩm thụ lý, có một số người biết về tài sản
trên đất được bà T cung cấp tại cấp phúc thẩm, bồn nước là của gia đình bà T và
có cho rất nhiều người cùng sử dụng chung chứ không riêng bà T hay ông H. Đề
nghị hủy bản án sơ thẩm.
- Bị đơn vắng mặt nhưng có ý kiến bằng văn bản là không chấp nhận theo
nội dung kháng cáo, yêu cầu giữ nguyên như bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu ý kiến về việc
giải quyết vụ án: Về thủ tục tố tụng, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và
những người tham gia tố tụng trong vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm nghị
5
án tại phiên tòa phúc thẩm đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng
dân sự;
Về nội dung vụ án và đề nghị hướng giải quyết: Bản án sơ thẩm nhận định
và xét xử là có căn cứ. Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà T và ông M.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 120/2026/DS-ST, ngày 01/6/2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 2 - An Giang.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công
bố công khai tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy
đủ, toàn diện các chứng cứ của nguyên đơn, bị đơn và người tham gia tố tụng
khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa đã được triệu
tập hợp lệ, có đơn yêu cầu giải quyết xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử phúc
thẩm tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về phần đất tranh chấp và nội dung vụ án như sau:
Căn cứ theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 06/11/2024 có sự
chứng kiến của bà T và người đại diện theo ủy quyền của ông H, theo Tờ trích
đo số TĐ 597-2024 ngày 05/12/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai
thành phố P (BL 87) thì phần đất tranh chấp có tổng diện tích là 140,3m
2
, trong
đó có diện tích là 0,6m
2
nằm trong giấy CNQSD đất số BB 037439 ngày
01/11/2010 với diện tích đất là 9.214,4m
2
do bà Nguyễn Thị Yến N1 với ông
Nguyễn Xuân H2 đứng tên (đến ngày 09/3/2015 bà Nguyễn Hoàng Bảo T được
chỉnh lý biến động sang tên do được tặng cho) và phần đất có diện tích 139,7m
2
nằm trong giấy CNQSD đất số BC 114679 ngày 31/12/2010 cấp cho Hộ bà Trần
Thị H1 (đến ngày 14/01/2011 ông Nguyễn Kỳ H được chỉnh lý biến động sang
tên do được tặng cho).
Do bà T có yêu cầu xem xét thẩm định tại chỗ lại, nên được Tòa án chấp
nhận. Theo Biên bản về việc tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ ngày
21/10/2025 vắng mặt bà T và ông M, nội dung Biên bản như sau: ông H đã tháo
dỡ tài sản trên phần đất 0,6m
2
và đo đạc lại đất của bà T và ông H (BL 133). Căn
cứ theo Tờ trích đo số TĐ 310-2026 ngày 26/01/2026 của Chi nhánh Đ1 (BL
167) thể hiện: Phần đất của ông H đang sử dụng có diện tích 42.629,1m
2
nằm
trong giấy CNQSD đất BC 114679 (ông H đứng tên), trong phần đất này có bồn
nước với diện tích 2,3m
2
; phần đất có diện tích 9.214,4m
2
nằm trong giấy
CNQSD đất BB 037439 (bà T đang đứng tên).
Theo đơn khởi kiện bà T cho rằng ông H sử dụng đất lấn chiếm qua đất
mà bà T đã được đứng tên trên giấy CNQSD đất và yêu cầu ông H tháo dỡ tài
sản giao trả đất có diện tích khoảng 30m
2
. Ngoài ra, vào ngày 28/02/2025 bà T
có đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu ông H trả lại cho bà phần đất lấn chiếm là
140,3m
2
, tài sản trên đất là 03 cây dừa và 01 bể nước, buộc tháo dỡ bức tường
xây và bồi thường 02 cây dừa bị chết, nếu diện tích đất lấn chiếm 140,3m
2
đã
6
được cấp giấy chứng nhận cho ông H thì yêu cầu tuyên hủy giấy chứng nhận của
ông H;
Còn theo ông H thì cho rằng, ông chấp hành theo kết quả đo đạc và giấy
chứng nhận được cấp cho ông với bà T, nên sau khi đo đạc thì ông đã tự nguyện
tháo dỡ phần đất có diện tích 0,6m
2
. Hiện nay ông H và bà T đều sử dụng đất
theo đúng diện tích được cấp trong giấy chứng nhận, nên ông H không đồng ý
theo yêu cầu khởi kiện của bà T.
[3] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Hoàng Bảo T và ông Tạ Phát M, Hội
đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
[3.1] Đối với kháng cáo về nội dung: Thẩm định tại chỗ chưa đúng và đầy
đủ tài sản tranh chấp, trích đo không ghi nhận đúng diện tích, thẩm định tại chỗ
lại vắng mặt của bà, chưa thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ, Hội đồng xét xử
phúc thẩm nhận thấy: Căn cứ theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày
06/11/2024 có sự chứng kiến của bà T và người đại diện theo ủy quyền của ông
H (BL 81), trong biên bản này bà T không có ý kiến gì về số liệu đo đạc. Theo
Tờ trích đo số TĐ 597-2024 ngày 05/12/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng
ký đất đai thành phố P (BL 87) thì phần đất tranh chấp có tổng diện tích là
140,3m
2
, trong đó có diện tích là 0,6m
2
nằm trong giấy CNQSD đất số BB
037439 ngày 01/11/2010 do bà Nguyễn Thị Yến N1 với ông Nguyễn Xuân H2
đứng tên với diện tích đất là 9.214,4m
2
(đến ngày 09/3/2015 được chỉnh lý biến
động sang tên cho bà Nguyễn Hoàng Bảo T do được tặng cho) và phần đất có
diện tích 139,7m
2
nằm trong giấy CNQSD đất số BC 114679 ngày 31/12/2010
cấp cho Hộ bà Trần Thị H1 (đến ngày 14/01/2011 được chỉnh lý biến động sang
tên cho ông Nguyễn Kỳ H do được tặng cho).
Sau khi có kết quả đo đạc thì phía ông H có Thông báo gửi cho Tòa án
(BL 89) về việc ông H đã tự nguyện tháo dỡ tài sản là 01 phần hàng rào trên
phần đất có diện tích 0,6m
2
nằm trong giấy chứng nhận do bà T đứng tên, đồng
thời xây lại bờ tường mới có sự chứng kiến của cán bộ địa chính xã D, Trưởng
ấp S và người chứng kiến khác.
Do bà T có yêu cầu xem xét thẩm định tại chỗ lại, nên vào ngày
25/7/2025 (BL 117) Tòa án ra quyết định xem xét thẩm định, tại chỗ. Tuy nhiên,
bà T có đơn trình bày lý do không tham gia được và xin thay đổi thời gian. Tòa
án chấp nhận và ra quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ lại (BL 126), tuy nhiên
vào thời điểm xem xét thẩm định tại chỗ lại thì bà T và ông M vắng mặt không
lý do, nhà bà T và hàng rào đều bị đóng cửa, nên Tòa án tiến hành xem xét thẩm
định tại chỗ và lập biên bản ngày 21/10/2025 vắng mặt bà T và ông M, theo nội
dung biên bản thể hiện ông H đã tháo dỡ tài sản trên phần đất 0,6m
2
và đo đạc
đất của bà T và ông H (BL 133). Theo Tờ trích đo số TĐ 310-2026 ngày
26/01/2026 của Chi nhánh Đ1 (BL 167) thể hiện: Phần đất của ông H đang sử
dụng có diện tích 42.629,1m
2
nằm trong giấy CNQSD đất BC 114679 (ông H
đứng tên), trong phần đất này có bồn nước với diện tích 2,3m
2
; phần đất có diện
tích 9.214,4m
2
nằm trong giấy CNQSD đất BB 037439 (bà T đang đứng tên).
7
Như vậy, về thủ tục đo đạc xem xét thẩm định tại chỗ cấp sơ thẩm đã thực
hiện đúng quy định, hơn nữa cấp sơ thẩm cũng đã chấp nhận yêu cầu của bà T
về việc xem xét tại chỗ lại, tuy nhiên 02 lần Tòa án cùng cán bộ đo đạc và phía
bị đơn đến hiện trạng phần đất tranh chấp thì bà T đều vắng mặt, trong khi đó bà
T là người yêu cầu. Vì vậy, bà T yêu cầu tạm ngừng phiên tòa sơ thẩm để xem
xét thẩm định tại chỗ lại, nên HĐXX cấp sơ thẩm không chấp nhận ngừng phiên
tòa là phù hợp với quy định tại Điều 259 Bộ luật TTDS.
Tại cấp phúc thẩm bà T yêu cầu giám định tuổi cây, năm xây dựng của bồn
nước, yêu cầu thẩm định giá trị tài sản trên đất, đồng thời yêu cầu cấp phúc thẩm
ngừng phiên tòa để bà T thu thập cung cấp chứng cứ. HĐXX phúc thẩm nhận
thấy, Theo quy định tại Điều 91 BL TTDS thì đương sự có yêu cầu Tòa án bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì phải thu thập, cung cấp giao nộp tài
liệu chứng cứ, tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm bà T yêu cầu ngừng phiên tòa
để bà T thu thập tài liệu chứng cứ là không thuộc trường hợp theo Điều 259 BL
TTDS quy định về tạm ngừng phiên tòa, nên không được chấp nhận. Hơn nữa,
tại cấp sơ thẩm bà T không có đơn yêu cầu và cũng không thực hiện đầy đủ
nghĩa vụ chứng minh theo quy định.
[3.2] Đối với nội dung kháng cáo về phần đất tranh chấp, nhận thấy: Căn
cứ vào các tài liệu khác có liên quan như: Bản án dân sự sơ thẩm số
02/2022/DSST ngày 19/01/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang đã xác
định bà T được tặng cho và sử dụng phần đất có diện tích 9.214,3m
2
theo giấy
CNQSD đất số BB 037493 ngày 01/11/2010, sau khi xét xử sơ thẩm thì bà T
không có kháng cáo nội dung này. Đồng thời, tại Bản án dân sự phúc thẩm số
94/2023/DS-PT ngày 03/3/2023 của Tòa án nhân dân Cấp Cao đã có hiệu lực
pháp luật cũng đã xác định rõ bà T được sử dụng phần đất có diện tích
9.214,3m
2
là do được tặng cho, nên ngoài phần đất được tặng cho thì không có
chứng cứ nào chứng minh bà T được sử dụng thêm phần đất nào ngoài giấy
chứng nhận. Theo đơn khởi kiện ban đầu, bà T cũng cho rằng ông H chỉ lấn
chiếm đất nằm trong giấy chứng nhận của bà T. Như vậy, về diện tích đất bà T
được cấp trên giấy chứng nhận phù hợp với diện tích đất theo đo đạc thực tế
hiện nay bà T vẫn đang sử dụng với diện tích là 9.214,4m
2
nên bà T không bị
thiếu đất, do đó không có cơ sở cho rằng ông H lấn chiếm đất của bà T.
Đối với việc ông M kháng cáo về ông cho rằng đất là do ông M nhờ bà T
đứng tên dùm và có bức xúc về việc tòa án giải quyết vụ án chia thừa kế nhưng
không đưa các con của ông M vào tham gia tố tụng thì đã được giải quyết trong
vụ án khác. Do không có liên quan trong vụ án này nên cấp phúc thẩm không
xem xét.
Đối với kháng cáo về nội dung: Thẩm phán cấp sơ thẩm không khách quan
và yêu cầu thay đổi chủ tọa phiên tòa cấp sơ thẩm, cũng như về việc xin sao
chụp hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Các yêu cầu này đã được
HĐXX sơ thẩm xem xét giải quyết tại phiên tòa sơ thẩm và được ghi nhận trong
biên bản phiên tòa sơ thẩm là đúng theo quy định tại khoản 6 Điều 239 và 240
Bộ luật TTDS.
8
[3.4] Ngoài ra, tại cấp phúc thẩm bà T có cung cấp lời trình bày của 02
người sống tại địa phương, tuy nhiên lời khai của những người này không dựa
trên cơ sở pháp lý nào. Trong khi đó, các bên sử dụng đất là do được tặng cho và
đều đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy CNQSD đất theo quy định.
Xét ý kiến của bà T cho rằng cấp sơ thẩm không thụ lý đơn khởi kiện bổ
sung, như sau: Cấp sơ thẩm đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 13/02/2025 nhưng bà T có đơn xin
vắng mặt, sau đó cấp sơ thẩm mở lại lần thứ 2 vào lúc “14 giờ ngày 03/3/2026”
tuy nhiên vào lúc “08 giờ ngày 03/3/2026” bà T có nộp đơn khởi kiện bổ sung.
Cấp sơ thẩm nhận định bà T khởi kiện bổ sung sau khi mở phiên họp nên không
chấp nhận.
HĐXX phúc thẩm nhận thấy, căn cứ theo Điều 5 và Điều 200 BL TTDS
thì đương sự được yêu cầu bổ sung (phản tố) nhưng không được vượt quá phạm
vi khởi kiện ban đầu, đồng thời được quyền yêu cầu trước thời điểm mở phiên
họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Như vậy,
cấp sơ thẩm đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ và hòa giải vào ngày 13/02/2025 nhưng bà T không tham gia và cũng không
có yêu cầu bổ sung nào trước phiên họp này. Vì vậy, sau khi mở phiên họp thì
Tòa án chỉ giải quyết những nội dung trong phạm vi khởi kiện ban đầu. Hơn
nữa, theo nội dung khởi kiện ban đầu thì bà T chỉ tranh chấp và yêu cầu ông H
tháo dỡ hàng rào để giao trả phần đất nằm trong giấy CNQSD đất của bà T có
diện tích khoảng 30m
2
(BL 01). Mặt khác, sau khi Tòa án đo đạc xem xét phần
đất tranh chấp theo Biên bản ngày 06/11/2024, bà T yêu cầu đo đạc phần đất có
diện tích 140,3m
2
nên từ sau khi đo đạc thì bà T đã biết được phần đất tranh
chấp, nhưng cho đến trước khi mở phiên họp ngày 13/02/2025 thì bà T cũng
không có đơn yêu cầu khởi kiện bổ sung. Do đó, sau khi mở phiên họp thì cấp
sơ thẩm không chấp nhận thụ lý đơn khởi kiện bổ sung của bà T là có cơ sở.
[4] Từ những cơ sở nhận định nêu trên, nhận thấy bản án sơ thẩm nhận
định không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T đối với ông H là có căn cứ.
Thống nhất với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về việc không chấp nhận
kháng cáo của bà T, ông M. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số
120/2026/DS-ST, ngày 01/6/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - An Giang.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: Giữ nguyên như bản án
sơ thẩm tuyên.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Buộc bà Nguyễn Hoàng Bảo T và ông Tạ Phát
M mỗi người phải nộp án phí là 300.000đ và được khấu trừ vào tạm ứng án phí
(đã thực hiện xong).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
9
Áp dụng: Điều 164, 166 BLDS năm 2015; Điều 170, 203 Luật Đất đai năm
2013.
Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Hoàng Bảo T và ông Tạ Phát
M.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 120/2026/DS-ST ngày 01/6/2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - An Giang.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hoàng Bảo T đối
với ông Nguyễn Kỳ H về việc buộc ông Nguyễn Kỳ H trả lại phần đất lấn chiếm
tọa lạc tại khu phố S, D, đặc khu P, tỉnh An Giang.
2. Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Hoàng Bảo T phải chịu chi phí trích đo
với số tiền là 13.520.196đ và đã nộp xong.
3. Về án phí dân sự:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Hoàng Bảo T phải chịu
300.000 đồng. Theo đó, được khấu trừ vào tạm ứng án phí với số tiền là
300.000đ theo biên lai thu số 0000243 ngày 27/5/2024 của Chi cục thi hành án
dân sự thành phố Phú Quốc (nay là Thi hành án dân sự tỉnh An Giang và đã nộp
xong).
- Án phí dân sự phúc thẩm:
Buộc bà Nguyễn Hoàng Bảo T phải nộp án phí với số tiền là 300.000đ.
Theo đó, được khấu trừ vào tạm ứng án phí với số tiền là 300.000đ theo biên lai
thu số 0003760 ngày 26/6/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang (đã thực
hiện xong).
Buộc ông Tạ Phát M phải nộp án phí với số tiền là 300.000đ. Theo đó,
được khấu trừ vào tạm ứng án phí với số tiền là 300.000đ theo biên lai thu số
0003760 ngày 26/6/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang (đã thực hiện
xong).
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự năm 2025 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 4,
6, 7, 8 và 36 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo
quy định tại Điều 34 Luật thi hành án dân sự.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh An Giang;
- THADS tỉnh An Giang;
- TAND khu vực 2 - An Giang;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
10
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án./.
Đặng Thị Bích Vân
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 463/2026/DS-PT Bản án số 463/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 463/2026/DS-PT Bản án số 463/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất