Bản án số 449/2026/DS-PT ngày 18/09/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 449/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 449/2026/DS-PT ngày 18/09/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 449/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: hai bên tranh chấp đất đai
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 449/2026/DS-PT Bản án số 449/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 449/2026/DS-PT Bản án số 449/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lưu Thị Thu Hường.
Các Thẩm phán: Ông Lê Ngọc Minh và ông Y Phi Kbuôr.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Huế - Thẩm tra viên TAND tỉnh Đắk
Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà
Trần Thị Xuân Linh Byă - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 160/2026/TLPT-DS ngày 15/6/2026 về
việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2026/DSST
ngày 07/01/2026 của Toà án nhân dân khu vực 11 - Đắk Lắk bị kháng cáo. Theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 381/2026/QĐXX-PT ngày
03/8/2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 432/2026/QĐPT ngày 27/8/2026 giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn: ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1955 và bà Trương Thị Tuyết
H, sinh năm 1955; địa chỉ: khu phố X, phường B, tỉnh Đắk Lắk (Đều vắng mặt).
2. Bị đơn: ông Phạm Văn N, sinh năm 1971; địa chỉ: khu phố X, phường B,
tỉnh Đắk Lắk (chết ngày 01/6/2024).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng:
+ Cụ bà Lâm Thị N1, sinh năm 1946 (mẹ ruột);
+ Bà Phan Thị L, sinh năm 1974 (vợ);
+ Anh Phạm Ngọc S, sinh năm 2004 (con ruột);
Cùng địa chỉ: khu phố X, phường B, tỉnh Đắk Lắk;
+ Anh Phạm Ngọc L1, sinh năm 1993 (con ruột)
Hiện đang chấp hành án tại Trại giam A-Bộ C (xã D, tỉnh Khánh Hòa);
Anh Phạm Ngọc S có mặt, còn lại vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 449/2026/DS-PT
Ngày 18 - 9 - 2026
“Tranh chấp quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
+ Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1978; địa chỉ: 1 khu phố C, đường T,
phường A, Thành phố Hồ Chí Minh;
+ Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1985; địa chỉ: 6 chung cư T, khu phố C,
phường A, Thành phố Hồ Chí Minh;
+ Ông Nguyễn Trương B, sinh năm1996; địa chỉ: F chung cư F, D N, phường
A, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện theo uỷ quyền của ông P, bà T, ông B: Ông Nguyễn Văn D;
địa chỉ: khu phố X, phường B, tỉnh Đắk Lắk;
+ Ông Nguyễn Quốc Đ, sinh năm 1980;
+ Bà Nguyễn Thị Nguyệt T1, sinh năm 1982;
+ Bà Phan Thị L, sinh năm 1974;
+ Ông Võ Ngọc M, sinh năm 1992;
+ Bà Võ Thị P1, sinh năm 1984;
+ Bà Võ Thị P2, sinh năm 1987;
+ Bà Trần Thị P3, sinh năm 1960;
+ Ông Lê Tân T2, sinh năm 1970;
Cùng địa chỉ: khu phố X, phường B, tỉnh Đắk Lắk;
+ Bà Võ Thị M1, sinh năm 1989; địa chỉ: thôn T, xã Y, tỉnh Nam Định;
+ UBND phường B, tỉnh Đắk Lắk;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quốc T3 - Chức vụ: Chủ tịch
UBND phường B.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND phường B: ông Nguyễn
Kim H1 - Chức vụ: Công chức phòng Kinh tế, Hạ tầng và đô thị.
Địa chỉ: khu phố P, phường B, tỉnh Đắk Lắk.
Tất cả đều vắng mặt.
4. Người kháng cáo: anh Phạm Ngọc S - Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố
tụng của bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn
vợ chồng ông Nguyễn Văn D, bà Trương Thị Tuyết H trình bày:
Ngày 10/8/1999, Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện T, tỉnh Phú Yên (cũ) có
cấp cho hộ gia đình bà Trương Thị Tuyết H gồm 07 nhân khẩu: vợ chồng ông
Nguyễn Văn D, bà Trương Thị Tuyết H và các con Nguyễn Thanh P, Nguyễn
Quốc Đ, Nguyễn Thị Nguyệt T1, Nguyễn Thị Thu T, Nguyễn Trương B với tổng
diện tích đất 9.310m² toạ lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên (nay là Khu phố X,
phường B, tỉnh Đắk Lắk) trong đó có thửa đất số 375, tờ bản đồ số 1 diện tích
3.350m² loại đất quả theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng (Giấy CNQSD) đất số
3
G677929. Gia đình ông D, bà H sử dụng đất được nhà nước cấp đúng mục đích.
Quá trình sử dụng, do thửa đất số 375, tờ bản đồ số 1 không có rào xung quanh, lại
cách xa nơi cư trú nên năm 2021 ông Phạm Văn N đã lén làm hàng rào, xây dựng
công trình lấn chiếm ở phần phía Đông diện tích khoảng 200m². Vợ chồng ông D
báo cáo sự việc cho UBND xã và yêu cầu ông N tháo dỡ công trình trả lại phần đất
lấn chiếm nhưng ông N không thực hiện.
Qua đo đạc thực tế theo sự chỉ dẫn của ông D, ông N lấn chiếm 226,8m² đất;
nhưng khi áp trên bản đồ địa chính năm 1997 do UBND xã quản lý thì ông N chỉ
lấn chiếm diện tích 86,9m² là không đúng. Vì khi nhà nước cấp đất cho hộ gia đình
đã căn cứ bản đồ địa chính năm 1992, hơn nữa quá trình đo đạc có lấn một phần
đất của hộ ông Lê Đ1 (ông Đ1 đã chết nay con là Lê Tân T2 quản lý, sử dụng) thể
hiện ở các điểm 26, 27, 28, 29 trên bản vẽ dẫn đến diện tích đất gia đình ông D bị
lấn chỉ có 86,9m². Vợ chồng ông D không đồng ý kết quả đo đạc và áp dụng bản
đồ địa chính năm 1997 để làm căn cứ giải quyết tranh chấp. Nay nguyên đơn khởi
kiện yêu cầu bị đơn và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn
ông N phải trả lại diện tích đất lấn chiếm 226,8m² thuộc thửa 375, tờ bản đồ số 1
tại thôn X, xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên (nay là Khu phố X, phường B, tỉnh
Đắk Lắk) cho nguyên đơn; và tháo dỡ toàn bộ cây trồng, vật kiến trúc xây dựng
trên phần diện tích đất lấn chiếm.
* Quá trình tham gia tố tụng, bị đơn ông Phạm Văn N trình bày: Ông Phạm
Văn N không đồng ý yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Nguyễn Văn D và bà
Trương Thị Tuyết H. Vì ông N mua đất của bà Trần Thị P3 diện tích hơn 900m²,
sau đó ông N dọn dẹp và xây dựng nhà cửa. Năm 2021, trước khi xây dựng hàng
rào B40 thì ông và ông D đều thống nhất ranh giới và không có tranh chấp gì. Đề
nghị Toà án xem xét thẩm định tại chỗ, nếu ông lấn đất thì sẽ tháo dỡ vật kiến trúc
để trả lại diện tích đất cho ông D.
* Những người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông N gồm có bà Lâm
Thị N1 (mẹ ruột), bà Phan Thị L (vợ) và các con Phạm Ngọc L1, Phạm Ngọc S
đều vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị P3 trình bày: Bà Phước không đồng ý yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn vì diện tích đất giữa các gia đình được phân định ranh giới rõ ràng bởi
các cây tre, dúi, cây đủng đỉnh, ngôi mộ và sử dụng ổn định, không ai tranh chấp.
- Ông Lê Tân T2 trình bày: Theo số địa chính do U tại địa phương, hộ ông Lê
Đ1 (cha ruột ông) được cấp diện tích đất 1800m² thuộc thửa đất số 06, tờ bản đồ số
08, loại đất vườn tại thôn X, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên theo Quyết định số
275/QĐ-UB ngày 21/9/1998 của Chủ tịch UBND huyện T, tỉnh Phú Yên. Sau khi
cha mẹ chết, các anh chị em trong gia đình cùng ký giấy tặng tặng cho ông T2 thửa
4
đất nêu trên nên ngày 24/11/2006, UBND thành phố T, tỉnh Phú Yên cấp Giấy
CNQSD đất số A0 581337 đối với thửa 482, tờ bản đồ số 01 diện tích 1800m², loại
đất trồng cây ăn quả lâu năm. Thửa đất của ông T2 giáp ranh phía Đông của thửa
đất bà H, ông D. Quá trình sửdụng, ông không có lấn chiếm đất của vợ chồng ông
D, bà H. Sau khi được xem bản vẽ trích đo hiện trạng thửa đất ngày 02/5/2024, cơ
quan đo đạc không lấn diện tích đất của ông ở các điểm 26, 27, 28, 29 trên bản vẽ
như ông D trình bày và cũng thống nhất với kết quả đo đạc. Do đó, ông không
tranh chấp hay yêu cầu gì. Đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.
- Ông Nguyễn Quốc Đ và bà Nguyễn Thị Nguyệt T1 trình bày: thống nhất
hoàn toàn với yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông D và bà H.
- Ông Võ Ngọc M, bà Phan Thị L, Võ Thị P1, Võ Thị P2, Trần Thị P3 và Võ
Thị M1 vắng mặt nên không trình bày.
- UBND Phường B, tỉnh Đắk Lắk vắng mặt nên không trình bày gì.
- Ông Nguyễn Thanh P, Nguyễn Trương B và bà Nguyễn Thị Thu T do ông
Nguyễn Văn D đại diện uỷ quyền cũng thống nhất trình bày của vợ chồng ông D,
bà H.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2026/DSST ngày 07/01/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 11-Đắk Lắk đã quyết định:
Áp dụng các điều 163, 164, 175, 176 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 170
Luật Đất đai năm 2013; Điều 12, Điều 14, khoản 2 Điều 27 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn và
những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Phạm Văn N (mẹ
Lâm Thị N1, vợ Phan Thị L và các con Phạm Ngọc L1, Phạm Ngọc S) có trách
nhiệm giao trả lại diện tích 86,9m² thuộc thửa đất số 375, tờ bản đồ số 1 tại thôn X,
xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên (nay là khu phố X, phường B, tỉnh Đắk Lắk) cho
nguyên đơn ông Nguyễn Văn D và bà Trương Thị Tuyết H. Đồng thời, bị đơn và
những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông N có trách nhiệm tháo
dỡ cây trồng, vật kiến trúc xây dựng trên phần diện tích đất 86,9m² nêu trên gồm
có: 08 cây thơm, 06 cây dừa, 05 cây mãng cầu, 50 cây chuối lớn, 30 cây chuối con,
01 cây đu đủ, hàng rào móng đá (cao 0,5m) lưới B40 dài 26,95m, cao 1,5m và 09
trụ bê tông. (Ký hiệu (A) của bản vẽ mô tả chi tiết trích đo hiện trạng thửa đất ngày
02/5/2024 do Công ty TNHH Đ2 thực hiện).
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc
bị đơn và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Phạm Văn
N trả lại cho nguyên đơn ông Nguyễn Văn D và bà Trương Thị Tuyết H diện tích
5
đất 139,9m² tại thôn X, xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên (nay là khu phố X,
phường B, tỉnh Đắk Lắk) (Ký hiệu (B) của bản vẽ mô tả chỉ tiết trích đo hiện trạng
thửa đất ngày 02/5/2024 do Công ty TNHH Đ2 thực hiện).
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và chi phí tố tụng theo quy
định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn là
anh Phạm Ngọc S kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và đương sự đã
chấp hành đúng các quy định của pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện phần
diện tích đất 86,9m² thuộc thửa đất số 375, tờ bản đồ số 1 tại thôn X, xã A, thành
phố T, tỉnh Phú Yên (nay là khu phố X, phường B, tỉnh Đắk Lắk) được Nhà nước
công nhận cấp GCNQSD đất cho nguyên đơn ông Nguyễn Văn D và bà Trương
Thị Tuyết H từ năm 1999. Bị đơn sử dụng đất nhưng không có tài liệu gì chứng
minh nguồn gốc sử dụng đất hợp pháp nên cấp sơ thẩm đã giải quyết vụ án có căn
cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh Phạm Ngọc S,
giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án, được
thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem
xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và của đương sự.
Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nên Hội đồng xét xử quyết định
xét xử các đương sự nêu trên.
[2]. Xét kháng cáo của người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn là
anh Phạm Ngọc S, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Ngày 10/8/1999, UBND huyện T, tỉnh Phú Yên (cũ) có cấp cho hộ bà
Trương Thị Tuyết H gồm 07 nhân khẩu: vợ chồng ông Nguyễn Văn D, bà Trương
Thị Tuyết H và các con Nguyễn Thanh P, Nguyễn Quốc Đ, Nguyễn Thị Nguyệt
T1, Nguyễn Thị Thu T, Nguyễn Trương B với tổng diện tích đất 9.310m² toạ lạc
tại xã A, huyện T (nay là Khu phố X, phường B, tỉnh Đắk Lắk) trong đó có thửa
đất đang tranh chấp là thửa số 375, tờ bản đồ số 1, diện tích 3.350m², theo Giấy
CNQSD đất số 677929 ngày 10/8/1999 (BL 101).
Chủ sử dụng thửa đất số 258, tờ bản đồ số 02 diện tích 660m² là ông Võ Ngọc
M theo Giấy CNQSD đất số CB 676832 cấp năm 1998 cho ông Võ Ngọc D1, bà
Trần Thị P3 (bố mẹ của ông M) và đã được chỉnh lý sang tên cho ông Võ Ngọc M
6
(BL 207) nhưng gia đình ông Phạm Văn N quản lý, sử dụng thửa đất trên. Quá
trình sử dụng, ông N có cơi nới phía sau thửa đất số 258 (hướng Tây) tiếp giáp
thửa đất số 375, tờ bản đồ số 1 của gia đình ông D, bà H dẫn đến tranh chấp.
Ngày 02/5/2024, Công ty TNHH Đ2 đã đo đạc theo yêu cầu của Tòa án. Bản
vẽ mô tả chi tiết trích đo hiện trạng thửa đất ngày 02/5/2024 theo chỉ dẫn của ông
N thì tổng diện tích đất ông N hiện sử dụng là 959,3m
2
. Theo chỉ dẫn của ông D thì
ông N lấn chiếm diện tích đất là 226,8m
2
(gồm phần đất có ký hiệu (A): diện tích
86,9m
2
và phần đất có ký hiệu (B): diện tích 139,9m
2
).
[2.2] Trước khi vợ chồng ông D, bà H khởi kiện đối với ông Phạm Văn N thì
ông Võ Ngọc M đã khởi kiện đối với ông Phạm Văn N tranh chấp quyền sử dụng
đối với thửa đất số 258, tờ bản đồ số 02. Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 08 ngày
04/4/2025 của TAND tỉnh Phú Yên và Bản án phúc thẩm số 107 ngày 08/9/2025
của TANDCC tại Đà Nẵng giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Võ
Ngọc M và ông Phạm Văn N có nêu: Ông Phạm Văn N thừa nhận nguồn gốc đất
là của ông Võ Ngọc D1 nhưng không chứng minh được đã mua thửa đất số 258, tờ
bản đồ số 02 từ ông Võ Ngọc D1. Thửa đất số 258, tờ bản đồ số 02 diện tích
660m², được cấp GCNQSD đất cho ông Võ Ngọc M là đúng pháp luật nên buộc
ông Phạm Văn N trả lại diện tích 660m² của thửa đất số 258, tờ bản đồ số 02 cho
ông Võ Ngọc M, đồng thời ghi nhận việc nguyên đơn cho bị đơn tiếp tục sử dụng
diện tích 160m
2
tại thửa 258. Theo bản trích đo hiện trạng đính kèm Bản án dân sự
nêu trên thì ông Phạm Văn N chỉ được sử dụng phần đất có diện tích 160m
2
(rộng
6,4m x dài 25m) nằm trong thửa đất số 258, tờ bản đồ số 2 (BL 122). Đối với
phần đất phía sau (hướng Tây của thửa đất số 258, tờ bản đồ số 02) chưa được cấp
GCNQSD cho ai nên Tòa án không giải quyết.
Như vậy, bị đơn cho rằng nguồn gốc đất do bị đơn nhận chuyển nhượng từ
ông Võ Văn P4 sử dụng ổn định là không có căn cứ. Quá trình sử dụng phần đất
phía sau thử đất số 258, bị đơn chưa đăng ký kê khai để được Nhà nước công nhận
quyền sử dụng.
[2.3] Căn cứ nội dung xác minh ngày 09/8/2024 (BL 84), ngày 17/7/2025 (BL
89), chính quyền địa phương cung cấp: Tại thời điểm cấp Giấy CNQSD đất cho hộ
bà H, thửa đất số 375, tờ bản đồ số 1, diện tích 3.350m
2
dựa trên số liệu đo đạc tờ
bản đồ năm 1992. Đến năm 1997, Nhà nước đo đạc lại bản đồ thì thửa đất được
cấp Giấy CNOSD đất cho hộ bà H thay đổi thành thửa 291, tờ bản đồ số 02, diện
tích 3.350m
2
. Hiện tại hồ sơ địa chính quản lý nhà nước tại UBND xã A là áp dụng
bản đồ số hóa năm 1997, còn bản đồ năm 1992 là bản đồ giấy. Do đó, khi kiêm tra
số liệu đo đạc hiện trạng thì dựa trên bản đồ số hoá 1997 để chồng xếp kiểm tra.
Căn cứ bản vẽ trích đo hiện trạng thửa đất ngày 02/5/2024 lồng ghép lên bản
đồ đo đạc năm 1997 thì phần đất có diện tích 86,9m² (Ký hiệu A) nằm trong
7
GCNQSD đất đã cấp năm 1999 cho ông D, bà H. Vợ chồng ông D, bà H được cơ
quan có thẩm quyền công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp từ năm 1999, trong
khi bị đơn không có chứng cứ chứng minh diện tích đất nêu trên là của bị đơn.
[2.4] Căn cứ nhận định nêu trên, cấp sơ thẩm xác định bị đơn sử dụng đất có
lấn chiếm diện tích đất 86,9m² thuộc thửa 375, tờ bản đồ số 1 tại thôn X, xã A,
thành phố T, tỉnh Phú Yên (nay là khu phố X, phường B, tỉnh Đắk Lắk) (ký hiệu
(A) của bản vẽ mô tả chị tiết trích đo hiện trạng thửa đất ngày 02/5/2024 do Công
ty TNHH Đ2 thực hiện) của nguyên đơn nên buộc những người kế thừa quyền và
nghĩa vụ tố tụng của ông N phải trả lại diện tích đất này và tháo dỡ cây trồng, vật
kiến trúc xây dựng trên đất là có căn cứ.
[3] Đối với diện tích 139,9m
2
(Ký hiệu B), nằm ngoài thửa đất số 375, tờ bản
đồ số 1 của nguyên đơn. Cấp sơ thẩm nhận định chưa được nhà nước công nhận
quyền sử dụng đất cho người nào nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn về việc buộc những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng bị đơn trả
lại diện tích đất 139,9m
2
tại thôn X, xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên (nay là khu
phố X, phường B, tỉnh Đắk Lắk). Nội dung này không có kháng cáo nên có hiệu
lực pháp luật, cấp phúc thẩm không xem xét.
[4] Đối với diện tích đất tại các điểm 26, 27, 28, 29 của bản vẽ mô tả chi tiết
trích đo hiện trạng thửa đất ngày 02/5/2024. Khi đo đạc thể hiện ông Lê Tân T2
đang quản lý, sử dụng, các bên không có tranh chấp nên cấp sơ thẩm không xem
xét giải quyết là có căn cứ.
[5] Tại phiên tòa, anh Phạm Ngọc S đề nghị được nhận đất sử dụng và thanh
toán cho nguyên đơn giá trị quyền sử dụng đất. Tuy nhiên nguyên đơn vắng mặt
nên không thỏa thuận được. Nội dung này, các bên có thể thương lượng, hòa giải
trong giai đoạn thi hành án.
[6] Từ những phân tích, nhận định trên, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo
của anh Phạm Ngọc S, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2026/DS-ST ngày
07/01/2026 của Toà án nhân dân khu vực 11 - Đắk Lắk.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên
người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của anh Phạm Ngọc S. Giữ nguyên Bản án dân
sự sơ thẩm số 01/2026/DS-ST ngày 07/01/2026 của Toà án nhân dân khu vực 11-
Đắk Lắk.
[2] Án phí dân sự phúc thẩm:
8
Anh Phạm Ngọc S phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được
khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0003268
ngày 30/3/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
[3] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Vụ GĐKT II-TANDTC;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 11- Đắk Lắk (2);
- Phòng THADS khu vực 11- Đắk Lắk
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Lưu Thị Thu Hường
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 449/2026/DS-PT Bản án số 449/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 449/2026/DS-PT Bản án số 449/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất