Bản án số 35/2026/DS-PT ngày 26/09/2026 của TAND tỉnh Sơn La về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 35/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 35/2026/DS-PT ngày 26/09/2026 của TAND tỉnh Sơn La về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Sơn La
Số hiệu: 35/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Vụ án tranh chấp quyền sử đất đã được giải quyết xét xử sơ thẩm, phúcthẩm và bị cấp Giám đốc thẩm huỷ án để xét xử lại sau đó nguyên đơn rút đơnkhởi kiện vụ án được đình chỉ giải quyết. Vụ án thuộc trường hợp được khởikiện lại theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 và Điều 218 của Bộ luật Tốtụng dân sự. Toà án nhân dân khu vực 3 - Sơn La, thụ lý giải quyết xét xử làđúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 9 Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộluật Tố tụng dân sự; Điều 166 của Bộ luật Dân s
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 35/2026/DS-PT Bản án số 35/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 35/2026/DS-PT Bản án số 35/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SƠN LA
Bản án số: 35/2026/DS-PT
Ngày 26 - 9 - 2026
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Tuấn Long.
Các Thẩm phán: Bà Tòng Thị Hiền - Ông Phạm Tuấn Minh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Trí Danh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Sơn La
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Sơn La: Bà Phạm Thị Minh
Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 43/2026/DS - PT ngày 18 tháng 8 năm
2026 về việc; Tranh chấp quyền sử dụng đất. Do Bản án dân sự sơ thẩm số:
04/2026/DS-ST ngày 23 tháng 6 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 3 -
Sơn La bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số:
45/2026/QĐXXPT - DS ngày 26 tháng 8 năm 2026. Quyết định hoãn phiên tòa
số: 86/2026/QĐ - PT, ngày 18 tháng 9 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Cộng đồng bản PB, xã HM, tỉnh Sơn La. Người đại diện:
Ông Giàng A S, sinh năm 1987 - Trưởng bản Pá Ban, xã Huổi Một, tỉnh Sơn La
(có mặt).
- Bị đơn:
1. Ông Giàng Vạ H (tên gọi khác Giàng Khua H), sinh năm 1964; Nơi cư
trú: Bản PB, xã HM, tỉnh Sơn La (có mặt).
2. Ông Giàng Sáy V, sinh năm 1965. Nơi cư trú: Bản PB, xã Huổi Một,
tỉnh Sơn La (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Giàng Vạ H, ông Giàng
Sáy V: Do các ông HDC, ông GA C, ông Giàng Bả Đ. Địa chỉ: Bản PC, xã H
M, tỉnh Sơn La (theo văn bản ủy quyền được xác lập ngày 24/9/2026, đều có
mặt).
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Hạt Kiểm lâm khu vực XVII và khu rừng đặc dụng phòng hộ Sốp Cộp.
Người đại diện theo pháp luật là ông Lường Hùng T - Chức vụ: Hạt trưởng Hạt
Kiểm lâm khu vực XVII và khu rừng đặc dụng phòng hộ Sốp Cộp (vắng mặt, có
đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Uỷ ban nhân dân xã Huổi Một, tỉnh Sơn La. Người đại diện theo pháp
luật là ông Lương Văn V - Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Huổi Một, tỉnh Sơn La.
Người đại diện theo uỷ quyền là bà Trần Thị Kim X - Phó chủ tịch Uỷ ban nhân
dân xã Huổi Một, tỉnh Sơn La (theo văn bản uỷ quyền số 01/GUQ ngày 12 tháng
3 năm 2026) (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
3. Bà Vàng Thị D, sinh năm 1968. Địa chỉ: Bản PB, xã HM, tỉnh Sơn La
(vắng mặt).
4. Anh Giàng A D, sinh năm 1999. Địa chỉ: Bản PB, xã HM, tỉnh Sơn La
(vắng mặt).
5. Chị Giàng Thị Sông M, sinh năm 1992. Địa chỉ: Bản PB, xã HM, tỉnh
Sơn La (vắng mặt).
6. Chị Giàng Thị D, sinh năm 2002. Địa chỉ: Địa chỉ: Bản PB, xã HM,
tỉnh Sơn La (vắng mặt).
7. Anh Giàng A S, sinh năm 1997. Địa chỉ: Địa chỉ: Bản PB, xã HM, tỉnh
Sơn La (vắng mặt).
8. Anh Giàng A D, sinh năm 1990. Địa chỉ: Bản PB, xã HM, tỉnh Sơn La
(vắng mặt).
9. Chị Vự Thị L, sinh năm 1991. Địa chỉ: Địa chỉ: Bản PB, xã HM, tỉnh
Sơn La (vắng mặt).
10. Chị Giàng Thị C, sinh năm 1995. Địa chỉ: Địa chỉ: Bản PB, xã HM,
tỉnh Sơn La (vắng mặt).
Là thành viên hộ gia đình của ông Giàng Sáy V.
11. Anh Giàng A P, sinh năm 1997. Địa chỉ: Địa chỉ: Bản PB, xã HM,
tỉnh Sơn La (vắng mặt).
12. Bà Giàng Thị S, sinh năm 1925. Địa chỉ: Địa chỉ: Bản PB, xã HM,
tỉnh Sơn La (vắng mặt).
13. Anh Giàng A T, sinh năm 1998. Địa chỉ: Địa chỉ: Bản PB, xã HM,
tỉnh Sơn La (vắng mặt).
14. Bà Hờ Thị D, sinh năm 1964. Địa chỉ: Địa chỉ: Bản PB, xã HM, tỉnh
Sơn La (vắng mặt).
3
15. Chị Giàng Thị M, sinh năm 1993. Địa chỉ: Địa chỉ: Bản PB, xã HM,
tỉnh Sơn La (vắng mặt).
16. Chị Giàng Thị D, sinh năm 1993. Địa chỉ: Địa chỉ: Bản PB, xã HM,
tỉnh Sơn La (vắng mặt).
17. Chị Hờ Thị Hồng T, sinh năm 2001. Địa chỉ: Địa chỉ: Bản PB, xã
HM, tỉnh Sơn La (vắng mặt).
18. Chị Vàng Thị L, sinh năm 2002. Địa chỉ: Địa chỉ: Bản PB, xã HM,
tỉnh Sơn La (vắng mặt).
Là các thành viên hộ gia đình bị đơn Giàng Khua H.
Người đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan: Bà Vàng Thị D, bà Hờ Thị D, chị Vừ Thị L, chị Giàng Thị D, chị Hờ Thị
Hồng T, chị Vàng Thị L. Do các ông Hờ Dũng C, ông Giàng A C, ông Giàng
Bả Đ. Địa chỉ: Bản PC, xã HM, tỉnh Sơn La (theo văn bản ủy quyền được xác
lập ngày 24/9/2026, đều có mặt).
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Giàng Khua H, ông Giàng Sáy V.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ có trong
hồ sơ vụ án, nguyên đơn Cộng đồng bản PB trình bày:
Từ năm 2002 Nhà nước quy hoạch rừng phòng hộ và cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho Cộng đồng bản PB, gồm các thửa số 88, 125, 89, 126,
133, 134, 135, 127, 128, tờ bản đồ số 10-334458,với diện tích là 146.71.000 m2
tại bản PB, xã NM, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La (nay là bản PB, xã H M, tỉnh
Sơn La), giao cho bản quản lý và bảo vệ. Đến năm 2010 thì các hộ Giàng Vạ H,
Giàng Sái V đến tiểu khu 625, khoảnh 5, lô b (tên địa phương Na Chom Cúp)
khai phá làm nương rẫy, đào ao, làm ruộng, trồng cây ăn quả và cây hoa màu,
dựng nhà theo kết quả thẩm định ngày 05/3/2026 của Toà án nhân dân khu vực
3 - Sơn La diện tích là 58.178,5m2. Sau khi phát hiện chính quyền bản, xã và
huyện đã đến tuyền truyền vận động và hòa giải nhưng không thành, vụ việc đã
được Toà án giải quyết qua nhiều lần xét xử nhưng do có tình tiết mới phát sinh
trong quá trình thi hành án, vụ án bị huỷ nay giải quyết xét xử lại, nay Cộng
đồng bản PB tiếp tục đề nghị Toà án xem xét giải quyết yêu cầu: Buộc hai hộ
gia đình ông Giàng Vạ H và ông Giàng Sái V trả lại phần diện tích đất lấn chiếm
cho Cộng đồng bản PB thuộc tiểu khu 625 khoảnh 5 lô b tại thửa đất số 128 tờ
bản đồ số 10-334458.
* Bị đơn ông Giàng Sáy V, Giàng Vạ H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan là thành viên trong gia đình ông Giàng Sáy V, Giàng Vạ H trình bày:
Về nguồn gốc và quá trình quản lý, sử dụng đất: Khu đất đang xảy ra
tranh chấp có nguồn gốc do chú họ là ông Giàng Dua V (chú họ của các bị đơn)
4
khai hoang từ năm 1980 để sản xuất nông nghiệp, ông V làm liên tục đến năm
1993 thì chuyển đến nơi ở mới nên để lại cho ba anh em là Giàng Nỏ D, Giàng
Vạ H và Giàng Sái V làm liên tục đến năm 2010 do mâu thuẫn nên anh trai
Giàng Nỏ D không làm nữa, Giàng Vạ H và Giàng Sái V vẫn tiếp tục sản xuất ở
đó, đến năm 2016 Giàng Vạ H và Giàng Sái V thuê máy súc đào ao, mở rộng
ruộng lúa nước và làm nhà, khẳng định mảnh đất tranh chấp là của ông Giàng
Dua V cho và tại thời điểm đó Ban quản lý bản đều biết và ký vào tờ trình để
các cấp xem xét vào ngày 07/01/2016. Căn cứ vào Bản án phúc thẩm số 18/2019
ngày 08/5/2019 của Toà án nhân dân tỉnh Sơn La, Quyết định kháng nghị số
14/2022/KN-DS ngày 05/5/2022 của Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và
Quyết định giám đốc thẩm số 25/2022/DS-GĐT ngày 28/7/2022 của Uỷ ban
thẩm phán Toà án nhân dân tối cao và theo Biên bản làm việc ngày 17/7/2023
của Toà án nhân dân huyện Sông Mã thì nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi
kiện. Do gia đình các bị đơn đông nhân khẩu không có đất sản xuất, hiện tại
đang ở sử dụng ổn định mảnh đất tranh chấp nên đề nghị Hội đồng xét xử xem
cho các bị đơn tiếp tục được sử dụng mảnh đất tại khu Na Chom Cúp. Bị đơn và
thành viên gia đình các bị đơn: Không nhất trí toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, đề nghị được tiếp tục sử dụng diện tích thửa đất.
* Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Uỷ ban nhân dân xã
HM, tỉnh Sơn La: Xác định Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00112
ngày 30/12/2002 của Uỷ ban nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La đã cấp cho
Cộng đồng bản PB, xã HM vẫn còn giá trị sử dụng, mục đích sử dụng đất hiện
tại là IIa-BV-PH (đất rừng phòng hộ) và chưa được chuyển mục đích sử dụng
đất (theo Quyết định số 1034/QĐ-UBND ngày 08/5/2018 của Uỷ ban nhân dân
tỉnh Sơn La là quyết định phê duyệt kết quả rà soát, điều chỉnh quy hoạch không
phải là quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất). Uỷ ban nhân dân xã
sẽ thực hiện việc giao cho tổ chức, cá nhân cụ thể để quản lý, sử dụng khu đất
nêu trên khi có kết quả giải quyết tranh chấp đất đai. Đề nghị Toà án xem xét
giải quyết vụ việc tranh chấp theo quy định của pháp luật.
* Ý kiến của của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hạt kiểm lâm khu
vực XVII và khu rừng đặc dụng phòng hộ Sốp Cộp: Thửa đất số 128, tờ bản đồ
số 10-334458, tiểu khu 625, bản PB, xã HM, tỉnh Sơn La được xác định theo hồ
sơ giao đất lâm nghiệp, giao rừng năm 2002 là đất rừng phòng hộ do Cộng đồng
bản PB quản lý theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 30/12/2002.
Từ ngày 31/7/2025 Hạt Kiểm lâm khu vực XVII và khu rừng đặc dụng Phòng
hộ Sốp Cộp được giao quản lý, bảo vệ rừng trên phạm vi 02 xã bao gồm xã H M
và xã PB tỉnh Sơn La.
Ban quản lý rừng đã thực hiện việc kiểm tra định kỳ và đột xuất thường
xuyên theo quy định của pháp luật bao gồm cả tiểu khu 626 (bản PB, xã H M).
Kết quả rà soát hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp cho
5
đến nay. Cộng đồng bản PB được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng theo quy
định. Rừng phòng hộ có chức năng chính là bảo vệ đất, nguồn nước, hạn chế xói
mòn và điều hòa môi trường sinh thái. Qua kiểm tra thực tế và căn cứ hồ sơ liên
quan, diện tích nêu trên hiện trạng là đất đã bị khai phá, đang được sử dụng vào
mục đích sản xuất nông nghiệp với các loại cây trồng như xoài, nhãn, bạch đàn,
ổi, mít, xả… Đây là cây trồng phân tán, không phải rừng tự nhiên, không hình
thành hệ sinh thái rừng phòng hộ tuy nhiên nhằm phục hồi rừng, tăng độ che phủ
và đảm bảo chức năng phòng hộ yêu cầu giữ nguyên hiện trạng không cho khai
phá, di dời. Đề nghị các bị đơn phải trả lại toàn bộ diện tích rừng đã lấn chiếm
để Cộng đồng bản PB quản lý theo quy định.
* Tại biên bản tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân
khu vực 3 - Sơn La đối với thửa đất tranh chấp, kết quả như sau:
1. Đối với diện tích: Thửa đất số 128 tờ bản đồ số 10 - 334458 thuộc tiểu
khu 625, tại bản PB, xã H M, tỉnh Sơn La theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số W440006 cấp ngày 30/12/2002, số vào sổ cấp 00112 QSDĐ/748/H-QĐ-
UB/2002 cấp cho Cộng đồng bản PB, xã HM, tỉnh Sơn La. Tổng diện tích đo
đạc tại khoảnh 5 lô b tại thửa đất số 128 (diện tích có tranh chấp) hiện trạng là
58178,5 m
2
. Được xác định từ điểm A1 đến điểm A15. Trong đó:
Diện tích trồng cây khắc phục là 11032,4m
2
(ký hiệu P). Diện tích cây xen
kẽ cây tự nhiên có sẵn và một số cây tự nhiên là 19685,5m
2
(ký hiệu C). Diện
tích đất trồng lúa là 3805,5m
2
(ký hiệu L) - Đã thu hoạch. Diện tích đất trồng
dứa là 337,6m
2
(ký hiệu D) - Đã thu hoạch. Diện tích phần đất trống và trồng
xen canh cây nhãn, xoài là 195.79,4m
2
(ký hiệu H và H1). Diện tích đường đất
tự mở là 558,4m
2
(ký hiệu S). Diện tích 01 ngôi nhà sàn gỗ là 85,3 m
2
. 03 ao có
diện tích là 3049,3m
2
. 03 ngôi mộ nằm trên diện tích 45,1m
2
(ký hiệu M).
Thửa đất có tứ cận tiếp giáp như sau: Phía Đông Bắc giáp rừng phòng hộ
bản Púng Hay. Được xác định tại điểm A1 đến điểm A7. Có chiều dài cạnh lần
lượt là 3,89m; 52,72m; 21,15m; 7,38m; 14,92m; 25,56m; 35,09m; 23,94m;
34,03m; 4,46m; 13,02m; 18,75m; 51,64m; 26,49m. Phía Nam giáp rừng phòng
hộ. Được xác định tại điểm A7 đến A11. Có chiều dài cạnh lần lượt là 30,56m;
60,92m; 86,79m; 49,93m; 41,67m; 52,92m. Phía Tây giáp rừng phòng hộ. Được
xác định tại điểm A11 đến A1. Có chiều dài cạnh lần lượt là 13,24m; 22,93m;
21,97m; 21,97m; 70,80m; 47,68m; 18,69m; 20,57m; 1,50m; 30,06m; 29,54m;
37,29m; 11,24m; 17,64m; 39,73m; 21,89m; 17,79m; 11,68m.
2. Tài sản trên đất:
01 ngôi nhà sàn gỗ, mái lợp pro xi măng, dựng năm 2010, 03 ao; trong đó
có 02 ao đã thả cá có diện tích là 3049,3m
2
(ký hiệu T1 và T2) và 01 ao cạn (ký
hiệu T3). 03 ngôi mộ nằm trên diện tích 45,1m
2
(ký hiệu M);
3. Cây cối hoa màu trên đất:
6
3.1 Cây cối hoa màu tự trồng:
Cây Xoài trồng từ 05 - 10 năm trở lên: 35 cây, cây Bạch đàn trồng từ 10
năm trở lên: 118 cây, cây ổi: 26 cây; Cây chuối: 53 cây; cây xả: 16 khóm; cây
Hoa píp: 01 cây; cây Móc: 01 cây. Cây mít từ trồng 05 - 10 năm: 05 cây; cây
nhãn trồng từ 5 - 10 năm trở lên: 65 cây, cây xoài từ 05 - 10 năm: 16 cây, cây
thông trên 10 năm: 105 cây.
3.2 Loại cây mọc tự nhiên và cây trồng rừng khắc phục hậu quả:
Các loại cây mọc tự nhiên có sẵn thuộc rừng phòng hộ từ 05 – trên 10
năm: 271 cây, bụi tre: 20 bụi, cây bạch đàn: 195 cây, cây mắc khén: 05 cây.
* Ngày 10/4/2026 Toà án nhân dân khu vực 3 - Sơn La Quyết định thành
lập hội đồng định giá tài sản trên đất, kết quả định giá tài sản như sau:
1. 01 (một) ngôi nhà sàn khung cột gỗ, mái lợp proxi măng, tường thưng
gỗ, sàn gỗ dựng năm 2010. Diện tích dựng 85,3m
2
x giá 1.810.000 đồng/1m
2
=
154.393.000 đồng, trừ giá trị hao mòn từ năm 2010 đến năm 2026 là 16 năm.
Giá trị còn lại 0 đồng.
2. Đối với cây cối, hoa màu:
Cây Xoài trồng từ 05 - 10 năm đường kính thân từ 26,8cm: 51 cây x giá
1.850.000 đồng = 94.350.000 đồng, cây bạch đàn trồng từ 10 năm trở lên đường
kính thân từ 87, 5 cm: 118 cây x giá 202.000 đồng = 23.836.000 đồng. Cây ổi
trồng trên 01 năm đường kính cây từ 6, 5 cm: 26 cây x giá 62.000 đồng =
1.612.000 đồng. Cây chuối sắp cho quả: 53 cây x giá 38.000 đồng/cây =
2.014.000đồng, cây xả trồng diện tích 16m
2
: 16 khóm x giá 16.000đ/m
2
=
256.000 đồng; Cây Hoa píp (xác định cây gỗ thường): 01 cây x giá 47.000 đồng
= 47.000 đồng, cây móc: 01 cây, cây mít trồng trên 01 năm đường kính cây 16,7
cm: 05 cây x giá 1.585.000 đồng cây = 7.925.000 đồng; Cây nhãn trồng trên 01
năm đường kính 17,5cm: 65 cây x giá 1.200.000 đồng/ cây = 78.000.000 đồng,
cây thông tròng từ 10 năm có chu vi lớn hơn 0,6m; 105 cây x 202.000đồng/cây
= 21.210.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản trên đất là 229.250. 000 đồng (hai trăm hai mươi chín
triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng chẵn).
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2026/DS - ST ngày 23/6/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La đã xét xử và quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147,
Điều 155, Điều 165, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 238,
khoản 2 Điều 244, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ các
Điều 5, Điều 6, Điều 10, Điều 11, Điều 26, Điều 39, Điều 102, Điều 121, Điều
236 của Luật đất đai năm 2024; Căn cứ Điều 166 của Bộ luật Dân sự; Căn cứ
7
Điều 3, Điều 5, Điều 8, Điều 9, Điều 47, Điều 86 Luật Lâm nghiệp năm 2017;
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số; 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Cộng đồng bản PB, xã H
M, tỉnh Sơn La: Buộc các bị đơn ông Giàng Vạ H (tên gọi khác Giàng Khua H),
ông Giàng Sái V những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vàng Thị D;
anh Giàng A D; chị Giàng Thị Sông M; chị Giàng Thị D; anh Giàng A S; anh
Giàng A D; chị Vự Thị L; chị Giàng Thị C. Anh Giàng A P; bà Giàng Thị S;
anh Giàng A T; bà Hờ Thị D; chị Giàng Thị M; chị Giàng Thị D; chị Hờ Thị
Hồng T; chị Vàng Thị L phải trả lại cho Cộng đồng bản PB, xã HMt, tỉnh Sơn la
tổng diện tích đất 58.178,5m2 cụ thể:
Thửa đất số 128, tiểu khu 625, khoảnh 5, lô b (Na Chom Cúp) tờ bản đồ
số 10-334458 địa chỉ thửa đất tại bản Pá Ban, xã Huổi Một, tỉnh Sơn La theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W440006, số vào sổ cấp là
00112/QSDĐ/748/H-QĐ-UB/2002 ngày 30/12/2002 cấp cho Cộng đồng bản Pá
Ban, xã Huổi Một, tỉnh Sơn La (trước sáp nhập là Cộng đồng bản PB, xã N M,
huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La).
Tứ cận tiếp giáp đất:
- Phía Đông Bắc giáp rừng phòng hộ bản Púng Hay. Được xác định tại
điểm A1 đến điểm A7. Có chiều dài cạnh lần lượt là 3,89m; 52,72m; 21,15m;
7,38m; 14,92m; 25,56m; 35,09m; 23,94m; 34,03m; 4,46m; 13,02m; 18,75m;
51,64m; 26,49m.
- Phía Nam giáp rừng phòng hộ. Được xác định tại điểm A7 đến A11. Có
chiều dài cạnh lần lượt là 30,56m; 60,92m; 86,79m; 49,93m; 41,67m; 52,92m.
- Phía Tây giáp rừng phòng hộ. Được xác định tại điểm A11 đến A1. Có
chiều dài cạnh lần lượt là 13,24m; 22,93m; 21,97m; 21,97m; 70,80m; 47,68m;
18,69m; 20,57m; 1,50m; 30,06m; 29,54m; 37,29m; 11,24m; 17,64m; 39,73m;
21,89m; 17,79m; 11,68m.
( Vị trí, hình thể thửa đất được thể hiện trong sơ đồ trích đo thửa đất đang
có tranh chấp tại buổi xem xét, thẩm định tại chỗ của Chi nhánh văn phòng đăng
ký đất đai khu vực VII - Sơn La (là đơn vị tiến hành đo đạc).
2. Tạm giao cho Cộng đồng bản PB, xã HM, tỉnh Sơn La quản lý các tài
sản trên đất cụ thể như sau:
Loại cây tự trồng: Cây Xoài trồng từ 05 - 10 năm trở lên: 35 cây; Cây
Bạch đàn trồng từ 10 năm trở lên: 118 cây; Cây Ổi: 26 cây; Cây Hoa píp: 01
cây; Cây Móc: 01 cây; Cây Mít từ trồng 05 - 10 năm: 05 cây; Cây Nhãn trồng từ
5 - 10 năm trở lên: 65 cây; Cây Xoài từ 05 - 10 năm: 16 cây; Cây Thông trên 10
năm: 105 cây.
8
Loại cây mọc tự nhiên và cây trồng rừng khắc phục hậu quả: Các loại cây
mọc tự nhiên có sẵn thuộc rừng phòng hộ 271 cây; Bụi Tre: 20 bụi; Cây Bạch
Đàn: 195 cây; Cây Mắc khén: 05 cây.
3. Buộc các bị đơn ông Giàng Vạ H (tên gọi khác Giàng Khua H), ông
Giàng Sái V, cùng thành viên hộ gia đình các bị đơn là những người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Vàng Thị D; anh Giàng A D; chị Giàng Thị Sông
M; chị Giàng Thị D; anh Giàng A S; anh Giàng A D; chị Vự Thị L; chị Giàng
Thị C. Anh Giàng A P; bà Giàng Thị S; anh Giàng A T; bà Hờ Thị D; chị Giàng
Thị M; chị Giàng Thị D; chị Hờ Thị Hồng T; chị Vàng Thị L phải tháo dỡ, di rời
các tài sản trên đất, gồm:
- 01 ngôi nhà sàn gỗ, mái lợp pro xi măng, dựng năm 2010 diện tích
85,3m2.
- Cho các bị đơn ông Giàng Vạ H (tên gọi khác Giàng Khua H), ông
Giàng Sái V, cùng thành viên hộ gia đình các bị đơn là những người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan thu hoạch toàn bộ: Vật nuôi dưới nước trong 02 ao có
diện tích là 3049,3m2 (ký hiệu T1 và T2); cây Chuối: 53 cây; cây Xả: 16 khóm.
Tất cả các tài sản phát sinh hoặc thay đổi hiện trạng tài sản trên thửa đất
tranh chấp kể từ sau khi thẩm định tại chỗ theo Biên bản xem xét thẩm định tại
chỗ ngày 10/3/2026, mà được tạo lập trái phép thì người có tài sản đó tháo dỡ
hoặc chuyển tài sản ra khỏi diện tích đất tranh chấp.
4. Đình chỉ giải quyết yêu cầu của nguyên đơn:
- Về việc chia diện tích đất bị đơn lấn chiếm cho nguyên đơn và bị đơn.
- Về việc buộc bị đơn chịu ½ chi phí tố tụng.
Ngoài ra Bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và tuyên quyền
kháng cáo của các đương sự theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05/8/2026 bị đơn ông Giàng Sáy V, ông
Giàng Vạ H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân
dân khu vực 3 - Sơn La.
* Tại phiên tòa phúc thẩm: Các đương sự không tự nguyện thỏa thuận được
với nhau về việc giải quyết vụ án.
Bị đơn ông Giàng Sáy V, Giàng Vạ H và người đại diện theo ủy quyền, giữ
nguyên nội dung kháng cáo:
Nguyên đơn Cộng đồng bản PB, xã HM, tỉnh Sơn La. Người đại diện, ông
Giàng A S không nhất trí yêu cầu kháng cáo, đề nghị Tòa án không chấp nhận
kháng cáo của bị đơn.
Ý kiến tranh luận của bị đơn ông Giàng Sáy V, Giàng Vạ H: Đề nghị Hội
đồng xét xử xem xét khách quan, toàn diện nguồn gốc diện tích đất 58.178,5m
2
,
xem xét quá trình gia đình bị đơn ông Giàng Sáy V, Giàng Vạ H quản lý sử
9
dụng đất từ năm 1993 đến nay. Đánh giá đầy đủ tài liệu, chứng cứ và lời khai
của những người biết về việc cho đất từ năm 1993. Đề nghị không chấp nhận
yêu cầu của Cộng đồng bản PB nếu không có đủ căn cứ chứng minh được quyền
sử dụng hợp pháp của cộng đồng đối với diện tích đất tranh chấp từ năm 1993
trở về trước. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét sửa bản án dân sự sơ thẩm hoặc
giải quyết theo quy định pháp luật để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho bị
đơn ông Giàng Sáy V, ông Giàng Vạ H đều được tiếp tục quản lý dụng diện tích
đất đang tranh chấp. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn,
đề nghị bản án dân sự sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn.
Ý kiến tranh luận của nguyên đơn Cộng đồng bản PB, xã H M, tỉnh Sơn
La. Người đại diện, ông Giàng A S: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo
quy định của pháp luật, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên Bản
án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La.
* Quan điểm giải quyết của Kiểm sát viên:
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong giai đoạn phúc thẩm kể từ khi
thụ lý vụ án đến trước thời điểm nghị án: Thẩm phán đã chấp hành đúng, đầy đủ
các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án
trong giai đoạn phúc thẩm như: Thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm đúng quy định
tại Điều 285 Bộ luật Tố tụng dân sự, ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng thời
hạn theo quy định tại Điều 286 Bộ luật Tố tụng dân sự, triệu tập những người
tham gia phiên tòa phúc thẩm theo đúng quy định tại Điều 294 Bộ luật Tố tụng
dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật từ khi thụ lý giải quyết vụ án để xét xử
phúc thẩm đến trước thời điểm nghị án.
2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa:
Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự về việc xét xử phúc thẩm vụ án. Thành phần Hội đồng xét xử tham gia xét xử
tại phiên tòa phúc thẩm đảm bảo, đúng với Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc
thẩm số 45/2026/QĐ-PT ngày 26/8/2025. Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa điều
hành phần hỏi, đảm bảo thứ tự và nguyên tắc và trình tự theo quy định tại Điều
297, Điều 298 Bộ luật Tố tụng dân sự.
3. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
Trong quá trình giải quyết vụ án những người tham gia tố tụng đã thực hiện
đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72,
Điều 73, Điều 86 Bộ luật Tố tụng dân sự. Được thể hiện ý kiến về việc giải
quyết vụ án, có mặt đúng theo giấy triệu tập của Tòa án và tranh tụng tại phiên
tòa.
10
Về quan điểm giải quyết vụ án: Xét đơn kháng cáo của bị đơn ông Giàng
Sáy V, ông Giàng Vạ H trong thời hạn luật định đảm bảo về hình thức, không có
căn cứ chấp nhận nội dung. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm đ khoản 1 Điều 12
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Giàng Vạ H và ông Giàng
Sáy V, giữ nguyên quyết định của bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2026/DS - ST
ngày 23/6/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Sơn La.
2. Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Giàng Vạ H và ông Giàng Sáy
V, do là đồng bào dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc
biệt khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; ý kiến trình bày của
các đương sự; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; quan điểm giải quyết
vụ án của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn Cộng
đồng bản PB, xã HM, tỉnh Sơn La. Đề nghị các bị đơn ông Giàng Sáy V, ông
Giàng Vạ H và các thành viên trong gia đình ông V, ông H phải trả lại phần
diện tích đất đa lấn chiếm. Trả lại cho Cộng đồng bản PB thuộc Tiểu khu 625
khoảnh 5 lô b tại thửa đất số 128 tờ bản đồ số 10-334458 thửa đất tại: Bản P B,
xã H M, tỉnh Sơn La. Nơi sảy ra tranh chấp và bị đơn ông Giàng Sáy V, ông
Giàng Vạ H có địa chỉ và thường trú tại bản PB, xã HM, tỉnh Sơn La. Tòa án
nhân dân cấp sơ thẩm xác định mối quan hệ pháp luật: “Tranh chấp quyền sử
dụng đất” là có căn cứ, đúng quy định, đúng thẩm quyền giải quyết, được quy
định tại khoản 9 Điều 26; Điều 35; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 235,
Điều 236 Luật đất đai sửa đổi bổ sung năm 2024.
Vụ án tranh chấp quyền sử đất đã được giải quyết xét xử sơ thẩm, phúc
thẩm và bị cấp Giám đốc thẩm huỷ án để xét xử lại sau đó nguyên đơn rút đơn
khởi kiện vụ án được đình chỉ giải quyết. Vụ án thuộc trường hợp được khởi
kiện lại theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 và Điều 218 của Bộ luật Tố
tụng dân sự. Toà án nhân dân khu vực 3 - Sơn La, thụ lý giải quyết xét xử là
đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 9 Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ
luật Tố tụng dân sự; Điều 166 của Bộ luật Dân sự,
[1.2] Xét nội dung đơn kháng cáo của bị đơn ông Giàng Sáy V, ông Giàng
Vạ H thực hiện đúng nội dung, trình tự, trong thời hạn luật định, hợp lệ về hình
thức, đúng chủ thể, đảm bảo về thủ tục và nội dung theo quy định tại Điều 271,
11
Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, được chấp nhận xem xét giải quyết
theo trình tự phúc thẩm.
[1.3] Về sự vắng mặt của các đương sự:
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Hạt Kiểm lâm khu vực XVII và
khu rừng đặc dụng phòng hộ Sốp Cộp, Uỷ ban nhân dân xã Huổi Một, tỉnh Sơn
La đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan bà
Vàng Thị D, anh Giàng A D, chị Giàng Thị Sông M, chị Giàng Thị D. Anh
Giàng A S, anh Giàng A D, chị Vự Thị L, chị Giàng Thị C. Anh Giàng A P, bà
Giàng Thị S, anh Giàng A T, bà Hờ Thị D. Chị Giàng Thị M, chị Giàng Thị D,
chị Hờ Thị Hồng T, chị Vàng Thị L. Đều đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều
lần đều vắng mặt. Có mặt của người đại diện theo ủy quyền của bà Vàng Thị D,
bà Hờ Thị D, chị Vừ Thị L, chị Giàng Thị D, chị Hờ Thị Hồng T, chị Vàng Thị
L. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt
những người có quyền lợi liên quan nhưng không có kháng cáo vắng mặt tại
phiên tòa.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn ông Giàng Sáy V, ông Giàng Vạ
H:
[2.1] Về nguồn gốc đất: Từ năm 2000 theo chủ trương của UBND tỉnh
Sơn La, về việc; Giao đất lâm nghiệp và rừng tự nhiên tới hộ, nhóm, cộng đồng
và các tổ chức, Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La đã ban hành Quyết định số:
3010/QĐ-UB ngày 12/12/2000 về việc ban hành hướng dẫn kỹ thuật giao đất
lâm nghiệp, giao rừng tự nhiên áp dụng trên địa bàn tỉnh Sơn La, Quyết định số:
3011/QĐ-UB ngày 12/12/2000 về việc ban hành tạm thời chính sách và giải
pháp giao đất lâm nghiệp, giao rừng của tỉnh Sơn La. Trước khi cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cơ quan có thẩm quyền đã có tuyên truyền, thông báo
cho nhân dân biết, đến năm 2002 UBND huyện Sông Mã cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số vào sổ 00112/QSDĐ/748/H-QĐ-UB/2002 ngày
30/12/2002 cho Cộng đồng bản PB, xã NM, huyện Sông Mã với diện tích là
1.467.100.0 m
2
tại các thửa đất số 88, 125, 89, 126, 133, 134, 135, 127, 128, tờ
bản đồ số 10-334458 và giao cho Cộng đồng bản PB quản lý bảo vệ. Sau khi
được giao rừng Cộng đồng bản đã quản lý, bảo vệ ổn định đến năm 2010 thì các
hộ ông Giàng Vạ H và ông Giàng Sái V đến khai phá lấn chiếm đất làm nương
rẫy sau đó mở rộng phát triển đào ao, làm ruộng, làm đường trồng hoa màu làm
nhà tại Tiểu khu 625, khoảnh 5, lô b (tên địa phương Na Chom Cúp) với diện
tích theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ là 58.178,5m
2
.
[2.2] Về quá trình sử dụng đất: Diện tích đất lâm nghiệp và rừng tự nhiên
đang tranh chấp thuộc sở hữu của toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu,
thống nhất quản lý. Ông Giàng Dua V khẳng định thửa đất tranh chấp có nguồn
gốc do gia đình ông khai phá từ năm 1980 tuy nhiên do đất không tốt nên không
sử dụng thường xuyên, có bỏ đi vài năm rồi tiếp tục quay lại khai phá sử dụng
đến năm 1995 gia đình ông không sử dụng mà chuyển đi ở nơi khác, sau đó có
hai vợ chồng ông Giàng Sái V đến xin tiếp tục sử dụng, do là họ hàng nên ông
12
đã đồng ý, thửa đất trên do gia đình ông tự khai phá không xin phép, không kê
khai với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Tại Biên bản làm việc ngày 28/9/2015 của Đoàn công tác theo Quyết định
1838 của Uỷ ban nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La làm việc với lãnh đạo
Uỷ ban nhân dân xã NM, huyện Sông Mã và lãnh đạo bản PB cùng các đoàn thể
bản PB, xã NM và các Biên bản lấy lời khai của ông Giàng Giống V (nguyên
trưởng bản PB), ông Giàng A C (em bị đơn) và Biên bản của Kiểm lâm lấy lời
khai của các bị đơn: Thửa đất tranh chấp đã từng có nhiều hộ gia đình khai phá
sử dụng, người cuối cùng sử dụng thửa đất trước khi bị đơn đến khai phá là ông
Giàng Nỏ D (anh trai của các bị đơn) cho đến năm 2010 có anh em nhà Giàng A
C, Giàng A H, Giàng A V đến làm cùng, ông D không muốn mất đoàn kết nên
đã rời đi, không hề bàn giao hay làm giấy tờ tặng cho gì cho các bị đơn. Tất cả
các trường hợp đến khai phá sử dụng thửa đất đều là tự phát không được sự cho
phép của cơ quan có thẩm quyền nào. Khi gia đình các bị đơn đến khai phá sử
dụng thửa đất có bản và Uỷ ban nhân dân xã kiểm tra yêu cầu di dời nhưng gia
đình các bị đơn đều không chấp hành.
Xét thấy thửa đất đang tranh chấp tại tiểu khu 625, khoảnh 5, lô b (tên địa
phương Nà Chom Cúp) thuộc tờ bản đồ số 10-334458 xác định mục đích sử
dụng đất là đất Rừng phòng hộ được cấp cho Cộng đồng bản PB, xã HM thửa
đất có tranh chấp từ năm 2010 cho đến nay, hơn nữa cho đến thời điểm giải
quyết tranh chấp hiện nay Cộng đồng bản vẫn được giao khoán và nhận đầy đủ
tiền phí Dịch vụ môi trường rừng; Văn bản cung cấp thông tin số 704/UBND-
KT ngày 05/5/2026 của Uỷ ban nhân dân xã HM, tỉnh Sơn La: Xác định diện
tích đất tranh chấp theo kết quả xem xét thẩm định ngày 05/3/2026 của Toà án
nhân dân khu vực 3 - Sơn La nằm trong thửa đất số 128 tờ bản đồ số 10 -
334458, mục đích sử dụng đất là Rừng phòng hộ được Uỷ ban nhân dân huyện
Sông Mã, tỉnh Sơn La cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Cộng đồng
bản PB, xã HM theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W440006 cấp ngày
30/12/2002, số vào sổ cấp 00112 QSDĐ/748/H-QĐ-UB/2002; tại văn bản phúc
đáp số 23/CNVPĐKĐĐ ngày 07/5/2026 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất
đai khu vực VII (là đơn vị tiến hành đo đạc): Xác định diện tích đất đã được
xem xét thẩm định là 58178,5m
2
thuộc lô a, tờ bản đồ số 10-334458, khoảnh số
5, tiểu khu 625 nằm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 440006 cấp ngày
30/12/2002 cấp cho Cộng đồng bản PB, xã HM, tỉnh Sơn La.
Từ những căn cứ nêu trên và theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Luật đất
đai năm 2024, xác định loại đất tranh chấp là đất Rừng phòng hộ thuộc quyền
quản lý, sử dụng của Cộng đồng bản PB, xã HM, tỉnh Sơn La đã được cấp theo
Giấy chứng nhận quyền sử đất số W440006 cấp ngày 30/12/2002, số vào sổ cấp
00112 QSDĐ/748/H-QĐ-UB/2002 Uỷ ban nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn
La cấp cho Cộng đồng bản PB, xã HM, tỉnh Sơn La.
13
Như vậy, việc các bị đơn và các thành viên hộ gia đình tự ý lấn chiếm,
khai phá sử dụng làm thay đổi mục đích sử dụng của đất Rừng phòng hộ khi
không được phép đã vi phạm quy định Điều 6 Luật đất đai năm 1993; Điều 6,
Điều 12 Luật đất đai 2013; Điều 5 và Điều 11 Luật đất đai năm 2024; Điều 9,
Điều 12 của Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 và khoản 3 Điều 5, Điều
9, Điều 47 Luật Lâm nghiệp năm 2017. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn Cộng đồng bản P B, xã H M, tỉnh Sơn La là có căn cứ
đúng theo quy định của pháp luật.
[2.2] Đối với các tài sản trên đất: Tòa án cấp sơ thẩm buộc các bị đơn ông
Giàng Vạ H (tên gọi khác Giàng Khua H), ông Giàng Sái V, Vàng Thị Di anh
Giàng A D; chị Giàng Thị Sông M; chị Giàng Thị D; anh Giàng A S; anh Giàng
A ; chị Vự Thị L; chị Giàng Thị C. Anh Giàng A P; bà Giàng Thị S; anh Giàng
A T; bà Hờ Thị D; chị Giàng Thị M; chị Giàng Thị D; chị Hờ Thị Hồng T; chị
Vàng Thị Ln. Phải tháo dỡ, di rời các tài sản xây dựng trên đất trái với quy định
của pháp luật, là có căn cứ gồm: 01 ngôi nhà sàn gỗ, mái lợp pro xi măng, dựng
năm 2010 diện tích 85,3m
2
được tạo dựng trên đất rừng phòng hộ, việc buộc
tháo rỡ là có căn cứ đúng pháp luật. Cho các bị đơn ông Giàng Vạ H (tên gọi
khác Giàng Khua H), ông Giàng Sái V, cùng thành viên hộ gia đình các bị đơn
là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thu hoạch toàn bộ: Vật nuôi dưới
nước trong 02 ao có diện tích là 3049,3m
2
(ký hiệu T1 và T2); cây chuối: 53 cây;
cây xả: 16 khóm. Là có căn cứ đảm bảo quyền lợi của bị đơn. Đối với cây ngắn
ngày như cây xả, cây chuối cho các bị đơn tận thu là có căn cứ đảm bảo quyền
lợi của đương sự.
Đối với các loại cây thân gỗ trồng lâu năm như cây nhãn, mít, xoài Bạch
đàn, cây móc, cây thông… được trồng trái phép trên rừng phòng hộ, quá trình sử
dụng đất hộ gia đình các bị đơn đã được thu hái hoa lợi, lợi tức từ các cây này,
hơn nữa mục đích của thửa đất tranh chấp là đất rừng phòng hộ,. Ý kiến của Hạt
kiểm Lâm khu vực XVII và khu rừng đặc dụng phòng hộ Sốp Cộp yêu cầu giữ
nguyên hiện trạng không được khai phá, di dời các loại cây này. Để đảm bảo
mục đích bảo vệ đất, bảo vệ nguồn nước, chống sạt lở và sự phát triển tự nhiên
và không xáo trộn môi trường rừng cần giữ nguyên hiện trạng các loại cây này,
không được phép khai phá làm thay đổi hiện trạng cho đến khi có sự cho phép
của các cơ quan có thẩm quyền. Do vậy, cần tạm giao cho Cộng đồng bản P B
quản lý đối với các loại cây thân gỗ tự trồng và loại cây mọc tự nhiên và cây
trồng rừng khắc phục hậu quả, các loại cây mọc tự nhiên có sẵn thuộc rừng
phòng hộ.
Về chi phí đầu tư, giá trị tài sản trên đất: Tại cấp sơ thẩm do không có
đương sự nào yêu cầu giải quyết, cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết trong vụ
14
án, khi nào các đương sự có yêu cầu sẽ khởi kiện giải quyết ở một vụ án khác
theo quy định của tố tụng đảm bảo quyền lợi của các đương sự.
[3] Tại cấp phúc thẩm, người kháng cáo không cung cấp thêm tài
liệu, chứng cứ mới bổ sung cho đơn kháng cáo và yêu cầu khởi kiện. Từ
những nhận định phân tích nêu trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo
của bị đơn ông Giàng Sáy V, Giàng Vạ H. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ
thẩm số: 04/2026/DS-ST ngày 23/6/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn
La.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận ông
Giàng Sáy V, ông Giàng Vạ H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Hội đồng xét xử xét thấy ông Giàng Sáy V, Giàng Vạ H là người đồng bào dân
tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn; Căn
cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án, miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Giàng Sáy V, ông Giàng Vạ H.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148, Điều 296 Bộ luật Tố tụng
dân sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Giàng Sáy V, ông Giàng
Vạ H. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2026/DS - ST ngày 23/6/2026
của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bị đơn
ông Giàng Sáy V, ông Giàng Vạ H.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (ngày 26/9/2026).
“Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 36 và 72 Luật Thi
hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 34
Luật Thi hành án dân sự”.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Sơn La;
- TAND khu vực 3 - Sơn La;
- Thi hành án dân sự khu vực 3 - Sơn La;
- Phòng GĐ, KT, TT và THA;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
15
- Tổ hành chính tư pháp;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Đỗ Tuấn Long
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 35/2026/DS-PT Bản án số 35/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 35/2026/DS-PT Bản án số 35/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất