Bản án số 1395/2026/DS-PT ngày 29/09/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1395/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1395/2026/DS-PT ngày 29/09/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 1395/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bà Lưu Thị Diễm P. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 396/2026/DS-ST ngày 04 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cần Thơ.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1395/2026/DS-PT Bản án số 1395/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1395/2026/DS-PT Bản án số 1395/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ CẦN THƠ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 1395/2026/DS-PT
Ngày: 29-9-2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Phương Thanh
Các thẩm phán: Bà Lê Thị Minh Trang
Ông Nguyễn Vĩnh Khương
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Quỳnh Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: bà Nguyễn Thị
Hồng Thắm - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 29 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ
xét xử công khai vụ án thụ lý số 1512/2026/TLPT-DS ngày 09 tháng 9 năm 2026
về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 396/2026/DS-ST ngày 04 tháng 6 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1745/2026/QĐ-PT ngày
11 tháng 9 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1982. Địa chỉ: 1 đường H,
phường N, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
Đại diện hợp pháp: ông Trần Thanh H, sinh năm 1960. Địa chỉ: C đường T,
phường T, thành phố Cần Thơ (có mặt).
- Bị đơn: Bà Lưu Thị Diễm P, sinh năm 1981. Địa chỉ: số F đường V, khu
vực T, phường H, thành phố Cần Thơ (có mặt).
- Người kháng cáo: Bà Lưu Thị Diễm P là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn ông Nguyễn Thành T trình bày nội dung và yêu cầu khởi kiện
như sau: Ngày 04/3/2020, bà P có vay của ông số tiền 248.000.000 đồng, không
2
thỏa thuận lãi suất; trong thời hạn 60 ngày trả lại. Lúc giao tiền tại Văn phòng
Thừa phát lại thành phố C và hai bên có lập vi bằng số 36/2020/VP-TPLCT lập
ngày 04/3/2020. Hai bên không có thế chấp tài sản gì. Từ lúc vay đến nay, bà P
chưa trả vốn - lãi được lần nào. Ông đã có yêu cầu bà P trả lại tiền nhiều lần nhưng
bà P cứ hứa hẹn mà không trả. Do đó, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết
buộc bà Lưu Thị Diễm P trả lại cho ông số tiền gốc là 248.000.000 đồng và không
yêu cầu tính lãi.
* Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T, bị đơn bà Lưu Thị Diễm P
có ý kiến như sau: Vào năm 2020, bà có quen biết với ông Văn Ngọc S và bà có
mượn của ông S số tiền 800.000.000 đồng, để sử dụng vào việc đáo hạn ngân
hàng. Bà có đồng ý thế chấp cho ông S 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
vào sổ GCN H03245 cấp ngày 21/7/2008. Ông S yêu cầu bà ký hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất trên cho bà Võ Thị Hồng C đứng tên giùm, khi nào bà
trả đủ 800.000.000 đồng sẽ trả lại tài sản cho bà. Đến ngày 03/3/2020, ông S có
dẫn bà C đến để ba bên biết nhau. Bà thông báo đã chuẩn bị đủ tiền để chuộc lại tài
sản nhưng sau khi hai bên ký hợp đồng chuyển nhượng, dòng tiền của bà về không
đủ nên giữa các bên thống nhất lập Vi bằng để ghi nhận số tiền còn thiếu. Trong
trường hợp bà có chuẩn bị đủ tiền thì Vi bằng sẽ hết hiệu lực. Bà C yêu cầu bà ký
Vi bằng mượn tiền của chồng bà tại Thừa phát lại. Giữa bà và ông T không hề
quen biết, cũng như chưa từng giao dịch làm ăn. Tại thời điểm hai bên lập Vi bằng,
bà không có nhận tiền gì của ông T. Bà đã hẹn lại sẽ thanh toán đủ số tiền
800.000.000 đồng cho ông S vào chiều ngày 04/3/2020. Ông S sau khi nhận đủ số
tiền 800.000.000 đồng có viết biên nhận cho bà và bà C bàn giao 01 bản chính giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cùng hợp đồng chuyển nhượng đã ký cho mẹ bà là
bà Nguyễn Ngọc Y vào ngày 03/3/2020. Kể từ đó, giữa bà, ông S và bà C không
còn phát sinh giao dịch hay tranh chấp gì. Đến thời điểm năm 2025, ông T có đến
Văn phòng Công ty tìm bà nhưng lúc đó bà bận công việc nên không có gặp mặt.
Sau đó, ông T không đến trực tiếp nữa mà giao cho một người (bà không quen
biết) cầm Vi bằng đến đòi tiền. Bà đã phủ nhận và yêu cầu người này không được
gây gối lớn tiếng tại nơi làm việc. Nếu ông T cho rằng bà có vay mượn tiền thì có
quyền khởi kiện. Bà khẳng định không có vay mượn tiền của ông T, Vi bằng lập
ngày 04/3/2020 đã hết hiệu lực và chấm dứt giá trị pháp lý do bà đã thực hiện xong
nghĩa vụ thanh toán giá trị chuyển nhượng lại tài sản của bà C và ông S.
3
* Vụ việc hòa giải không thành nên được đưa ra xét xử sơ thẩm công khai.
Tại Bản án sơ thẩm số 396/2026/DS-ST ngày 04 tháng 6 năm 2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 3 – Cần Thơ xét xử và quyết định như sau:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Lưu Thị Diễm P
có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Thành T số tiền 248.000.000 đồng.
2. Kể từ khi án có hiệu lực và kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của
người được thi hành án cho đến thi hành án xong khoản tiền, hàng tháng bên phải
thi hành án còn phải chịu lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
3. Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí dân sự và quyền kháng cáo của các đương
sự.
* Ngày 16 tháng 6 năm 2026 bị đơn bà Diễm P kháng cáo yêu cầu Tòa án
cấp phúc thẩm xét xử xem xét lại bản án: hủy bỏ vi bằng lập ngày 04/3/2020 giữa
bà với ông T, xem xét lại mối quan hệ giao dịch giữa vợ chồng ông T với bà.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không đồng ý kháng cáo
của bị đơn bà P.
- Bị đơn bà P vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa phúc thẩm:
+ Về tố tụng: Người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực
hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
+ Về nội dung: Qua tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm và xem xét các
chứng cứ có trong hồ sơ, có căn cứ xác định bà P có vay tiền ông T được thể hiện
qua vi bằng nên đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn ông T vắng mặt nhưng có người đại diện nên
tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân
sự.
[2] Về nội dung kháng cáo của bà P: Qua xem xét các chứng cứ có trong hồ
sơ và diễn biến tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, có cơ sở xác định:
giữa ông T và bà P có cùng lập vi bằng số 36/2020/VP-TPLCT lập ngày 04/3/2020
của Văn phòng T tại Cần Thơ (bút lục 01-05). Bà P thừa nhận có ký tên vào Vi
bằng số 36/2020/VP-TPLCT, đây là sự kiện có thật. Tuy nhiên, bà P xác định là
không có nhận số tiền 248.000.000 đồng của ông T mà bà ký để thực hiện giao
4
dịch khác được thể hiện qua biên nhận nhận tiền ngày 04/3/2020 (bản photo) ông S
ký nhận, 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 03/3/2020 (sao
y) và 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (photo). Qua xem xét nội dung trong
biên nhận nhận tiền ngày 04/3/2020 bà P cung cấp thì bà Võ Thị Hồng C và ông
Võ Thành T1 cũng không có ký tên vào, còn đại diện nguyên đơn ông T1 cũng
không thừa nhận lời trình bày của bị đơn bà P. Các tài liệu chứng cứ mà bà P cung
cấp không có liên quan đến nội dung Vi bằng số 36/2020/VP-TPLCT và nội dung
vi bằng cũng không thể hiện có liên quan đến số tiền 800.000.000đ và việc chuyển
nhượng như bà P trình bày, đồng thời, cũng không xác định vấn đề vi bằng sẽ
không còn giá trị khi có điều kiện xảy ra. Nội dung Vi bằng đã ghi nhận rõ việc bà
P có mượn số tiền 248.000.000 đồng và thời hạn là 60 ngày nên cấp sơ thẩm buộc
bà P trả cho ông T1 số tiền đã vay là có căn cứ. Do đó, kháng cáo của bà P hủy vi
bằng và không đồng ý trả nợ cho ông T1 là không có căn cứ chấp nhận.
[3] Với những nhận định trên nên đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là
đúng quy định pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá chứng cứ và chấp nhận yêu
cầu của nguyên đơn ông T1 là đúng nên giữ nguyên.
[4] Về phần án phí:
[4.1] Sơ thẩm: giữ nguyên như án sơ thẩm
[4.2] Phúc thẩm: bị đơn bà P phải chịu do kháng cáo không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: - Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án;
* Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Lưu Thị Diễm P.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 396/2026/DS-ST ngày 04 tháng 6
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cần Thơ.
- Về án phí phúc thẩm: Bà Lưu Thị Diễm P phải chịu 300.000 đồng, nhưng
được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0012310 ngày
16/6/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
5
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 4, 6, 7, 8 và Điều 36
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Nơi nhận: THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Các đương sự;
- VKSND TPCT;
- TAND khu vực 3 – Cần Thơ; (Đã ký)
- Phòng THADS khu vực 3 – Cần Thơ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Hà Thị Phương Thanh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1395/2026/DS-PT Bản án số 1395/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1395/2026/DS-PT Bản án số 1395/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất