Bản án số 284/2026/HS-PT ngày 18/09/2026 của TAND TP. Hải Phòng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 284/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 284/2026/HS-PT ngày 18/09/2026 của TAND TP. Hải Phòng
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 284/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Bị cáo Lưu Thị N phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 284/2026/HS-PT Bản án số 284/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 284/2026/HS-PT Bản án số 284/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 284/2026/HS-PT
Ngày 18-9-2026
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tân.
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Vân Thúy và ông Phạm Văn Hợp
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hải Đăng - Thư ký Toà án nhân dân thành
phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên
toà: Bà Hà Thị Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng
xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 225/2026/TLPT-HS, ngày 28
tháng 7 năm 2026 đối với bị cáo Lưu Thị N do có kháng cáo của bị cáo đối với
Bản án hình sự sơ thẩm số 86/2026/HS-ST, ngày 25 tháng 5 năm 2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng.
Bị cáo có kháng cáo: Lưu Thị N, sinh ngày 19/4/1993 tại Hưng Yên; số
CCCD ************; Nơi cư trú: Căn hộ S, nhà C H, thôn H, phường H thành
phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân
tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Đình
Q và bà Vũ Thị T; có chồng là Nguyễn Thái C và có 02 con; tiền án, tiền sự, nhân
thân: Không; Bị cáo tại ngoại, hiện có mặt tại phiên tòa.
Bị hại kháng cáo: Chị Chu Thị D, sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn L, xã V,
thành phố Hải Phòng; có mặt.
Bị hại không kháng cáo: Ông Wu X, sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn L, xã V,
thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị X1, sinh năm 1964; Địa chỉ: Tổ dân phố
A, phường L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 11/2023, chị Chu Thị D, sinh năm 1987, nơi cư trú tại thôn L, xã V,
thành phố Hải Phòng có thuê Lưu Thị N làm kế toán nội bộ (không ký hợp đồng
2
lao động) cho Công ty TNHH Đ. Công ty trên do ông Wu X, sinh năm 1975, Quốc
tịch Trung Quốc góp vốn cùng chị D thành lập, điều hành, hoạt động. Tháng
12/2023, chị D nhờ N đứng tên đại diện theo pháp luật của Công ty G (không thay
đổi chủ sở hữu) đang có trụ sở hoạt động tại địa bàn quận L, thành phố Hải Phòng
để thuận tiện trong các thủ tục kế toán, kê khai thuế và xuất hóa đơn.
Do có ý định chiếm đoạt tài sản là tiền của chị D và ông Wu X, nên Lưu Thị
N thuê người môi giới (chưa rõ lai lịch) để thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi cả
chủ sở hữu và người đại diện pháp luật của Công ty G từ chị Chu Thị D sang Lưu
Thị N mà không thông báo cho chị D, ông W Xin biết. Hồ sơ thay đổi đăng ký
doanh nghiệp của Công ty G do người môi giới chuẩn bị, N tự ký giả chữ ký của
chị D rồi giao toàn bộ hồ sơ cho người môi giới thực hiện thủ tục. Ngày
20/12/2023, Sở K cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (thay đổi lần thứ
1) Công ty G với thông tin chủ sở hữu và người đại diện pháp luật là Lưu Thị N.
Thực tế, ông Wu X và chị D vẫn là người sở hữu, quyết định, điều hành mọi hoạt
động của Công ty G. Nụ không góp vốn, không sở hữu, không được giao quyền
quản lý bất kỳ tài sản nào thuộc Công ty G.
Tiếp đó, Lưu Thị N tư vấn cho ông Wu X và chị D thuê nhà xưởng tại khu
vực thôn G, xã T, huyện T (nay thuộc phường T), thành phố Hải Phòng để chuyển
trụ sở hoạt động của Công ty TNHH G từ địa chỉ tại địa bàn quận L, Hải Phòng
về địa bàn phường T, Hải Phòng. Ông Wu X và chị D đồng ý. Đầu tháng 12/2023,
N gặp bà Nguyễn Thị X1, sinh năm 1964, trú tại tổ dân phố A, phường L, thành
phố Hải Phòng, N giới thiệu mình là Giám đốc Công ty TNHH G để thỏa thuận
thuê nhà xưởng tại của bà X1. Bà X1 đồng ý cho N thuê nhà xưởng với giá
25.000.000 đồng/tháng và đặt cọc 75.000.000 đồng để xây sửa nhà xưởng theo
yêu cầu của N.
Với ý định chiếm đoạt tài sản là tiền của ông Wu X và chị D từ trước, N đã
trao đổi với ông Wu X và chị D về việc bà X1 đồng ý cho thuê nhà để làm trụ sở
hoạt động của Công ty TNHH G với giá 25.000.000 đồng/tháng, yêu cầu đặt cọc
75.000.000 đồng và phải thanh toán trước 01 năm tiền thuê nhà với số tiền là
300.000.000 đồng. Nhưng thực tế, bà X1 không yêu cầu N phải thanh toán tiền
thuê nhà trước 01 năm, mà có thể thanh toán từ 01 tháng đến 06 tháng. Mục đích
N đưa ra thông tin sai sự thật như trên để chị D và ông W Xin tin tưởng đưa cho
N số tiền 300.000.000 đồng. Đồng thời, để tạo sự tin tưởng, N còn nói dối ông
Wu X và chị D về việc bà X1 có mối quan hệ với nhiều quan chức, sẽ hỗ trợ các
thủ tục pháp lý khi thuê nhà.
Ngày 23/12/2023, ông Wu X trực tiếp đưa số tiền 500.000.000 đồng cho N;
trong đó: 75.000.000 đồng là tiền đặt cọc thuê nhà, 125.000.000 đồng là tiền chi
phí liên quan đến Công ty TNHH Đ và 300.000.000 đồng là tiền 01 năm thuê nhà
của bà X1. Sau khi nhận được tiền từ ông Wu X, N chỉ đưa cho bà X1 75.000.000
đồng tiền đặt cọc thuê nhà, chi phí các hoạt động của Công ty TNHH Đ
125.000.000 đồng, số tiền còn lại 300.000.000 đồng, N đã tự chi tiêu cá nhân hết
và không thanh toán trả 01 năm tiền thuê nhà của bà X1.
3
Sau khi bàn giao nhà cho N, bà X1 nhiều lần yêu cầu N ký hợp đồng thuê
nhà và thanh toán tiền thuê nhà nhưng N liên tục tìm lý do trì hoãn, không gặp bà
X1. Ngày 23/4/2024, bà X1 đến Văn phòng Công ty TNHH Đ để tìm N. Tại đây,
bà X1 đã gặp được chị D, ông Wu X và N thì N thừa nhận đã chiếm đoạt
300.000.000 đồng trong tổng số 500.000.000 đồng mà ông Wu X đã đưa. Số tiền
chiếm đoạt được, N đã chi tiêu cá nhân hết mà không thanh toán tiền thuê nhà 01
năm của Công ty TNHH G cho bà X1. Vụ án được điều tra làm rõ.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Wu X và chị Chu Thị D yêu cầu bị cáo phải bồi
thường số tiền 300.000.000 đồng đã chiếm đoạt. Bị cáo đã bồi thường trả bị hại
được số tiền 41.000.000 đồng, bị hại yêu cầu bị cáo N phải bồi thường tiếp số tiền
259.000.000 đồng và đề nghị xử lý bị cáo nghiêm theo quy định của pháp luật.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 86/2026/HS-ST ngày 25/5/2026 của Toà án
nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng đã quyết định: Căn cứ vào khoản 3 Điều 174;
Điều 38; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lưu Thị N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt
bị cáo Lưu Thị N 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt bị
cáo đi thi hành án. Ngoài ra Bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí, quyền
kháng cáo của bị cáo và các đương sự khác.
Ngày 05/6/2026, bị cáo N có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm
xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 10/7/2026, bị hại chị D có đơn kháng cáo đề nghị được tham gia phiên
tòa để xem xét lại bản án.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo. Hiện bị cáo
có hoàn cảnh khó khăn, bệnh tật nên chưa có tiền trả cho bị hại để khắc phục hậu
quả, đề nghị được trả dần số tiền đã chiếm đoạt. Đề nghị HĐXX xem xét giảm
nhẹ hình phạt.
Bị hại đề nghị HĐXX xem xét giải quyết về trách nhiệm hình sự theo quy
định của pháp luật. Đề nghị bị cáo phải trả hết số tiền đã chiếm đoạt.
Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm: Đề
nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, 356 của Bộ luật tố tụng
hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên Bản án sơ thẩm;
đối với kháng cáo của bị hại, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của
bị hại. Về án phí: Bị cáo N phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định
của pháp luật. Bị hại D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Bị cáo, bị hại kháng cáo trong thời hạn quy định của Bộ luật
Tố tụng hình sự, nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
4
[2] Về nội dung: Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều
tra, phiên tòa sơ thẩm và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên đủ
cơ sở kết luận: Do bị cáo Lưu Thị N có ý định chiếm đoạt số tiền của bị hại là ông
Wu X, chị Chu Thị D từ trước để trả nợ, chi tiêu cá nhân nên tháng 12/2025, bị
cáo Lưu Thị N đã có hành vi đưa ra thông tin gian dối về việc chủ nhà là bà
Nguyễn Thị X1 yêu cầu phải thanh toán tiền thuê nhà trước 01 năm để bị hại là
ông Wu X và chị Chu Thị D tin tưởng, đưa số tiền là 300.000.000 đồng. Sau khi
bị hại đưa tiền, bị cáo Lưu Thị N đã chiếm đoạt toàn bộ số tiền trên. Hành vi của
bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người
khác, gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm
hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý
thực hiện. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm
đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Cấp sơ thẩm
đã xét xử bị cáo về tội danh và Điều luật như trên là có căn cứ pháp luật. Về tội
danh, không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên HĐXX không xem xét.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo, HĐXX xét thấy: Bị cáo không có tiền án,
tiền sự, có nhân thân tốt. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn
khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo tự nguyện khắc phục
một phần hậu quả cho bị hại, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định
tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
Tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp bản sao Kỷ niệm chương bảo vệ an ninh tổ
quốc của bố bị cáo, các bản sao Huân, Huy chương của ông bị cáo, do vậy HĐXX
áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS đối với
bị cáo. Tuy nhiên xét thấy cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 8 năm tù là phù hợp, bị
cáo cũng không trả thêm tiền bồi thường thiệt hại cho bị hại. Căn cứ a khoản 1
Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên
Bản án hình sự sơ thẩm số 86/2026/HS-ST ngày 25/5/2026 của Toà án nhân dân
khu vực 1 - Hải Phòng đối với bị cáo N về phần hình phạt.
[4] Đối với kháng cáo của bị hại, HĐXX xét thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm
bị hại là chị D đã được trình bày quan điểm tại phiên tòa, về tội danh và mức hình
phạt đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật, về mức bồi thường thiệt hại
chị D không có ý kiến gì, chỉ đề nghị bị cáo phải trả tiền cho bị hại. Với nội dung
này, HĐXX xét thấy cấp sơ thẩm đã buộc bị cáo còn phải bồi thường nốt số tiền
259.000.000 đồng và phải chịu lãi chậm trả như vậy là phù hợp, đúng pháp luật.
[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Về án phí: Chị D kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí
hình sự phúc thẩm. Bị cáo N kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải
chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm h Điều 23 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định
về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
5
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Xử: Chấp nhận kháng cáo của chị Chu Thị D.
Không nhận kháng cáo của bị cáo Lưu Thị N. Giữ nguyên Bản án hình sự
sơ thẩm số 86/2026/HS-ST, ngày 25 tháng 5 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 1 - Hải Phòng về phần hình phạt.
Căn cứ vào khoản 3 Điều 174; Điều 38; các điểm b, s khoản 1, khoản 2
Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lưu Thị N 08 (T1) năm tù về tội Lừa đảo
chiếm đoạt tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành
án.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lưu Thị N phải chịu 200.000đ (Hai
trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND TP Hải Phòng;
- Thi hành án dân sự TP Hải Phòng;
- PV 06 Công an TP Hải Phòng;
- TAND khu vực 1 - Hải Phòng;
- VKSND khu vực 1 - Hải Phòng;
- Phòng THADS khu vực 1 - Hải Phòng;
- Phòng GĐ,KT,TT&THA TAND
TP Hải Phòng;
- Bị cáo và người tham gia tố tụng khác;
- Lưu: Hồ sơ, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Minh Tân
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 284/2026/HS-PT Bản án số 284/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 284/2026/HS-PT Bản án số 284/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất