Bản án số 845/2026/HS-PT ngày 21/09/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 845/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 845/2026/HS-PT ngày 21/09/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 845/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: VŨ HOÀNG C - TỔ CHỨC CHO NGƯỜI KHÁC Ở LẠI VIỆT NAM TRÁI PHÉP
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 845/2026/HS-PT Bản án số 845/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 845/2026/HS-PT Bản án số 845/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 845/2026/HS-PT
Ngày: 21-9-2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Hồng Sơn
Các Thẩm phán:
1/ Ông Trương Công Huấn
2/ Bà Đoàn Thị Hương Giang
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Huy Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Vân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 748/2026/HSPT
ngày 24/8/2026 đối với bị cáo Vũ Hoàng C, do có kháng cáo của bị cáo Vũ Hoàng
C đối với bản án hình sự sơ thẩm số 994/2026/HS-ST ngày 14/7/2026 của Tòa án
nhân dân Khu vực 2, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo kháng cáo: Vũ Hoàng C; tên gọi khác: không; giới tính: Nam; sinh
năm 1970, tại tỉnh Đồng Nai (nay là thành phố Đ); nơi thường trú: Số A ấp T, xã
X, huyện X, tỉnh Đồng Nai (nay là xã X, thành phố Đ); chỗ ở trước khi bị bắt: Số
nhà D, ấp Đ, xã B, huyện H (nay là xã B), Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch:
Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; trình độ học vấn: 08/12; nghề
nghiệp: Nhân viên bán vé xe; con ông Vũ Đình C1 (đã chết) và bà Hoàng Thị M;
bị cáo có vợ tên Trần Thị Kim T, sinh năm 1971 (đã ly hôn) và có 01 con sinh
năm 1989; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/4/2025 đến nay tại Trại tạm giam
Bố Lá, Công an Thành phố H (Có mặt tại phiên tòa).
Ngoài ra còn có các bị cáo Nguyễn Thị H và Lê Sỹ M1; Người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan Vũ Đức Q, Nguyễn Thị Thúy A không liên quan đến kháng
cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa
phúc thẩm.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Anh Trần Huy P và anh Lý Thế L có mối quan hệ quen biết. Lúc 14 giờ 40
phút ngày 26/4/2025, anh L gọi điện thoại báo cho anh P biết là có 02 người cháu
của anh L là Lin S và Zhong Z (quốc tịch Trung Quốc) bị lừa sang Campuchia
đang đi trên xe ô tô khách loại 50 giường nằm, hiệu Thaco biển số 50F-027.59
chạy từ Bến xe N, Thành phố Hà Nội vào Thành phố Hồ Chí Minh, nên anh P
điều khiển xe mô tô đi đến khu vực Ngã ba Vũng Tàu, tỉnh Đồng Nai để chờ xe ô
tô khách này. Sau đó, phát hiện được xe ô tô chở khách theo mô tả của anh L, nên
anh P đã điều khiển xe mô tô đi theo phía sau. Đến 18 giờ 30 phút cùng ngày
26/4/2025, khi xe ô tô khách vào đổ dầu tại Cây xăng số G đường Đ, phường B,
thành phố T (nay là phường B), Thành phố Hồ Chí Minh, thì anh P đã tri hô nên
quần chúng nhân dân đã tố giác tội phạm đến Công an phường B, thành phố T.
Sau đó, Công an phường B, thành phố T đã đến kiểm tra, phát hiện trên xe ô tô
khách do anh Vũ Đức Q điều khiển có 13 người Trung Quốc nhập cảnh Việt Nam
trái phép, gồm Liao Zijian; Zhang Dong X; Guo Qingquan; Yang Zilong; Yang
Debin; Guo Yu; Peng Jiaqiang; Fang Haoxilan; Chen Youngqiang; Zhong Zijie;
Lin Shijie; Tian L1 và Luo H1, nên đã lập Biên bản sự việc để xác minh làm rõ.
Ngày 29/4/2025, Phòng Quản Lý xuất nhập cảnh Công an Thành phố H có
văn bản số 6666/PA08-Đ3 xác định “Liao Zijian; Zhang Dong X; Guo Qingquan;
Yang Zilong; Yang Debin; Guo Yu; Peng Jiaqiang; Fang Haoxilan; Chen
Youngqiang; Zhong Zijie; Lin S1; Tian L1 và Luo H1 không có thông tin nhập
cảnh vào Việt Nam, không có thông tin khai báo tạm trú, không có lịch sử vi phạm
và không có thông tin đối tượng trên hệ thống quản lý của Phòng Quản Lý xuất
nhập cảnh Công an Thành phố H”. Cùng ngày 29/4/2025, Công an phường B
chuyển nguồn tin về tội phạm đến Cơ quan An ninh điều tra Công an Thành phố
H để giải quyết theo thẩm quyền.
Kết quả điều tra xác định giữa tháng 03/2025, bị cáo Vũ Hoàng C làm nhân
viên bán vé xe khách tại Bến xe A, Thành phố Hồ Chí Minh đã gặp người đàn
ông người Trung Quốc (không rõ lai lịch), người này trao đổi với C tìm xe ô tô
khách chở người Trung Quốc nhập cảnh Việt Nam trái phép đi từ Thành phố Hà
Nội vào Thành phố Hồ Chí Minh để lấy tiền công, C đồng ý. C đã đưa cho người
đàn ông Trung Quốc tài khoản Telegram của C đăng ký bằng số điện thoại
0339777316 để liên lạc. Sau đó, C gọi điện thoại cho bị cáo Nguyễn Thị H là vợ
của ông Nguyễn Văn H2 là chủ Nhà xe H4 chạy tuyến Bến xe N, Thành phố Hà
Nội đến Bến xe A, Thành phố Hồ Chí Minh để thỏa thuận chở người Trung Quốc
nhập cảnh Việt Nam trái phép đi từ Thành phố Hà Nội vào Thành phố Hồ Chí
Minh, H đồng ý.
Để thực hiện, H thuê bị cáo Lê Sỹ M1 làm phụ xe, thuê anh Vũ Đức Q, anh
Ninh Văn Đ làm lái xe của ô tô khách loại 50 giường nằm, hiệu Thaco biển số
50F-027.59, là xe của bà Nguyễn Thị Thúy A mua, giao lại cho ông H2 quản lý,
3
sử dụng, sau đó ông H2 giao lại xe cho H quản lý, sử dụng chạy tuyến Bến xe N,
Thành phố Hà Nội đến Bến xe A, Thành phố Hồ Chí Minh. Cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Lúc 05 giờ ngày 20/4/2025, người đàn ông Trung Quốc
(không rõ lai lịch) thuê C đón 07 người Trung Quốc nhập cảnh Việt Nam trái phép
đi từ Thành phố Hà Nội chở vào Thành phố Hồ Chí Minh, C báo giá 1.650.000
đồng/01 người. Sau đó, C gọi vào tài khoản Z1 tên “D” của H để thỏa thuận với
H chở 07 người Trung Quốc nhập cảnh Việt Nam trái phép đi từ Thành phố Hà
Nội vào Thành phố Hồ Chí Minh giá 1.500.000 đồng/01 người, H đồng ý và thông
báo cho C biết 09 giờ cùng ngày 20/4/2025, xe ô tô khách loại 50 giường nằm,
hiệu Thaco biển số 50F-027.59 xuất bến tại Bến xe N, Thành phố Hà Nội, nên C
thông báo lại cho người đàn ông Trung Quốc biết. Đến 06 giờ cùng ngày
20/4/2025, có xe ô tô loại 07 chỗ ngồi (H không nhớ biển số xe) chở 07 người
Trung Quốc nhập cảnh Việt Nam trái phép đi vào Bến xe N, Thành phố Hà Nội,
rồi dừng trước xe khách hiệu Thaco loại 50 giường nằm, biển số 50F-027.59. Lúc
này, H đưa 07 người đàn ông Trung Quốc nhập cảnh Việt Nam trái phép lên xe ô
tô khách và nói cho M1 biết đây là 07 người Trung Quốc nhập cảnh Việt Nam trái
phép, M1 chịu trách nhiệm lo ăn uống cho những người này trên đường đi và hạn
chế cho những người này xuống xe để tránh bị phát hiện, khi đến Bến xe A, Thành
phố Hồ Chí Minh sẽ có người đến đón, M1 đồng ý và làm theo chỉ đạo của H. Sau
đó, H gọi điện thoại báo cho C biết đã đón được người theo thỏa thuận và yêu cầu
C chuyển khoản 10.500.000 đồng tiền công, nhưng do C đã nhận trực tiếp
11.550.000 đồng tiền công của người đàn ông Trung Quốc đưa tại Bến xe A,
Thành phố Hồ Chí Minh, nên C hẹn đến ngày 21/4/2025 sẽ chuyển tiền vào tài
khoản cho H.
Khi xe ô tô khách chạy đến địa phận tỉnh Nghệ An, H xuống xe đón xe
khách khác của Nhà xe H4 chạy ngược chiều để đi về lại Thành phố Hà Nội.
Trước khi đi, H đưa 3.000.000 đồng cho M1 để M1 trả tiền ăn uống cho 07 người
Trung Quốc nhập cảnh Việt Nam trái phép và chi phí trên đường. Trên đường đi,
C liên tục gọi điện thoại cho M1 để biết hành trình xe di chuyển. Đến 09 giờ ngày
21/4/2025, C sử dụng tài khoản 2308041970 tại Ngân hàng V của C chuyển
10.500.000 đồng vào tài khoản 0964748887 tại Ngân hàng M2 để trả tiền công
cho H. Đến 19 giờ 30 cùng ngày 21/4/2025, M1 gọi điện thoại báo cho C biết xe
ô tô khách đi gần đến Bến xe A, Thành phố Hồ Chí Minh, nên C thông báo cho
M1 dừng xe để 07 người Trung Quốc nhập cảnh Việt Nam trái phép xuống xe cho
nhóm người khác đón, chở đi. Lần này, Chi thu lợi 1.050.000 đồng, H đã thu lợi
840.000 đồng sau khi trừ chi phí.
Lần thứ hai: Đầu tháng 4/2025, nhóm người Trung Quốc, gồm Liao Z2;
Zhang Dong X; Guo Qingquan; Yang Zilong; Yang Debin; Guo Yu; Peng
Jiaqiang; Fang Haoxilan; Chen Youngqiang; Zhong Zijie; L; T, Luo H1 và 01
người không rõ lai lịch sống tại nhiều tỉnh khác nhau ở Trung Quốc đã lên mạng
xã hội tìm kiếm việc làm và được người Trung Quốc (không rõ lai lịch) giới thiệu
sang Việt Nam làm việc, không cần hộ chiếu, không phải trả tiền ăn, ở và tiền xe.
Từ ngày 22/4/2025 đến ngày 25/5/2025, 14 người Trung Quốc nêu trên được
4
những người Trung Quốc (không rõ lai lịch) hướng dẫn đưa đến khu vực biên giới
thuộc tỉnh Nam Ninh, Trung Quốc, rồi được dẫn đi bộ theo đường mòn để nhập
cảnh Việt Nam trái phép. Đến 05 giờ ngày 25/4/2025, thì được chở đến khu vực
chân cầu T, Thành phố Hà Nội để đón xe đi tiếp vào Thành phố Hồ Chí Minh.
Thời điểm này, người đàn ông Trung Quốc gọi vào tài khoản Telegram của
C, thuê C đưa 14 người Trung Quốc nhập cảnh Việt Nam trái phép nêu trên đi từ
Thành phố Hà Nội vào Thành phố Hồ Chí Minh, C báo giá 1.650.000 đồng/01
người. Chi gọi điện thoại thuê H chở 14 người Trung Quốc nhập cảnh Việt Nam
trái phép đi từ Thành phố Hà Nội vào Thành phố Hồ Chí Minh thì H báo giá
1.500.000 đồng/01 người. H nhắn tin cho C số điện thoại 0975932203 của M1 và
đồng thời nhắn số điện thoại 0964748887 của H cho M1 để liên lạc biết.
Đến 04 giờ 58 phút ngày 25/4/2025, anh Q điều khiển xe ô tô khách loại 50
giường nằm, hiệu Thaco biển số 50F - 027.59 chở M1 và H đi đón khách. Trên
đường đi, M1 nhận được điện thoại từ số 0976314452 (là người của C) yêu cầu
đón 14 người Trung Quốc nhập cảnh Việt Nam trái phép tại khu vực gầm cầu
vượt hướng lên cầu T giao với đường Q (thuộc địa phận Thành phố Hà Nội) do
người đàn ông Việt Nam (không rõ lai lịch) giao. Tại đây, M1 đếm người và báo
cho H và H nói M1 đưa 14 người Trung Quốc nhập cảnh Việt Nam trái phép lên
xe ô tô, rồi đi đến Bến xe N, Thành phố Hà Nội tiếp tục đón khách. Đến 09 giờ
cùng ngày 25/4/2025, xe ô tô khách xuất bến tại Bến xe N, Thành phố Hà Nội đi
vào Bến xe A Thành phố Hồ Chí Minh. Trên đường đi, H điện thoại báo cho C
biết đã đón được người (thời điểm này C đã nhận 23.100.000 đồng tiền công do
người Trung Quốc đưa tại khu vực trước cổng Bến xe A), nên C sử dụng tài khoản
2308041970 tại Ngân hàng V của C chuyển 21.000.000 đồng vào tài khoản
0964748887 tại Ngân hàng M2 để trả công cho H. Khi đi đến địa phận tỉnh Hà
Tĩnh, H xuống xe đón xe khách của Nhà xe H4 để về lại Thành phố Hà Nội. Lần
này, C chuyển 1.000.000 đồng vào tài khoản của M1 để trả tiền công cho M1; Chi
thu lợi 1.100.000 đồng, H thu lợi 1.680.000 đồng sau khi trừ chi phí. Khi xe ô tô
khách dừng đổ dầu tại Cây xăng G trên đường Đ, phường B, thành phố T, Thành
phố Hồ Chí Minh thì bị phát hiện. Lúc này, người đàn ông Trung Quốc không rõ
lai lịch đã bỏ đi, nên chỉ xác định được 13 người Trung Quốc nhập cảnh Việt Nam
trái phép như đã nêu trên.
Tại Cơ quan An ninh điều tra, các bị cáo Vũ Hoàng C, Nguyễn Thị H và
Lê Sỹ M1 khai nhận hành vi như trên, phù hợp với tài liệu chứng cứ khác được
thu thập trong hồ sơ vụ án.
*Vật chứng thu giữ:
-Thu giữ của Lê Sỹ M1: 01 quyển sổ bìa màu đen có chữ CLASSIC MC
636; 01 điện thoại di động hiệu Viettel và 01 điện thoại Redmi.
-Thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Iphone của Nguyễn Thị H; thu giữ 01
điện thoại di động hiệu Vivo màu đen của Vũ Hoàng C; thu giữ 01 điện thoại di
động hiệu Oppo của anh Vũ Đức Q; thu giữ 01 đầu thu camera màu đen, 02
5
camera màu trắng và 01 hộp đen ghi chữ CAM4G là thiết bị giám sát hành trình
tích hợp đầu ghi Video CM3 1AS05C064N2 gắn trên xe ô tô khách loại 50 giường
nằm, hiệu Thaco biển số 50F - 027.59.
Quá trình điều tra, ngày 16/10/2025, bà Nguyễn Kim Trâm A1 là em dâu
của Vũ Hoàng C thay Chi nộp 2.150.000 đồng là tiền C đã thu lợi bất chính; ngày
20/10/2025, ông Nguyễn Văn H2 là chồng của của Nguyễn Thị H thay nộp
2.520.000 đồng là tiền H đã thu lợi bất chính. Cơ quan An ninh đã nộp vào tài
khoản tại Ngân hàng TMCP C2.
Tại Cáo trạng số 845/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 25/3/2026 của Viện kiểm
sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo về tội “Tổ chức cho
người khác ở lại Việt Nam trái phép” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 348
của Bộ luật Hình sự.
*Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 994/2026/HS-ST ngày 14/7/2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 2, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
- Căn cứ vào điểm a khoản 3, khoản 4 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2
Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ
sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Vũ Hoàng C: 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ
chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép”. Thời hạn tù tính từ ngày
29/4/2025.
-Ngoài ra Bản án còn tuyên bị cáo Nguyễn Thị H mức án 09 (chín) năm 06
(sáu) tháng tù; tuyên phạt bị cáo Lê Sỹ M1 mức án 08 (tám) năm tù. Cũng như
tuyên về hình phạt bổ sung là phạt tiền Vũ Hoàng C, Nguyễn Thị H, Lê Sỹ M1
mỗi bị cáo phải nộp 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để sung quỹ nhà nước;
đồng thời tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo các quy định
của pháp luật.
- Ngày 24/7/2026, bị cáo Vũ Hoàng C có đơn kháng cáo xin giàm nhẹ hình
phạt.
*Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:
- Bị cáo Vũ Hoàng C đã thừa nhận hành vi mà bị cáo phạm tội như Bản án
sơ thẩm đã xác định, đồng thời giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị giảm hình
phạt cho bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa đưa ra ý kiến phát biểu: Sau khi tóm tắt nội dung bản án sơ thẩm và đơn kháng
cáo của bị cáo, phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, căn cứ
vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhận thấy Tòa án cấp
sơ thẩm đã xử phạt bị cáo về tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái
phép ” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 348 của Bộ luật hình sự là có căn
cứ, đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp
tài liệu chứng cứ nào mới là tình tiết giảm nhẹ. Mức án mà cấp sơ thẩm đã tuyên
6
đối với bị cáo Vũ Hoàng C 10 năm 06 tháng tù là phù hợp, tương xứng với tính
chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện. Đề nghị không chấp nhận
kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm. Về nội dung khác của bản án
sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật nên đề
nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Bị cáo Vũ Hoàng C không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ
xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên
cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của kiểm
sát viên, bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Ngày 14/7/2026, Tòa án nhân dân Khu vực 2, Thành phố Hồ Chí Minh
xét xử sơ thẩm. Ngày 24/7/2026, bị cáo Vũ Hoàng C có đơn kháng cáo xin giảm
nhẹ hình phạt. Đơn kháng cáo của bị cáo được lập trong thời hạn luật định nên
hợp lệ.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Hoàng C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm
tội, từ đó có đủ cơ sở để kết luận: Các bị cáo Vũ Hoàng C, Nguyễn Thị H và Lê
Sỹ M1 đã hai lần có hành vi tổ chức cho tổng cộng 21 người Trung Quốc (những
người này nhập cảnh Việt Nam trái phép) đi từ Thành phố Hà Nội vào Thành phố
Hồ Chí Minh, cụ thể như sau:
Ngày 20/4/2025, Vũ Hoàng C đã được người đàn ông Trung Quốc thuê chở
07 người Trung Quốc nhập cảnh Việt Nam trái phép từ Thành phố Hà Nội vào
Thành phố Hồ Chí Minh với giá 1.650.000 đồng/01 người. Chi liên hệ với H, nói
nội dung sự việc và thỏa thuận giá là 1.500.000 đồng/người, sau đó bị cáo H đã
sử dụng xe ô tô khách loại 50 giường nằm, hiệu Thaco biển số 50F-027.59, thuê
anh Vũ Đức Q làm tài xế chính, anh Ninh Văn Đ làm tài xế phụ, thuê bị cáo Lê
Sỹ M1 làm phụ xe để chở 07 người Trung Quốc nhập cảnh Việt Nam trái phép đi
từ Bến xe N, Thành phố Hà Nội vào gần đến khu vực Bến xe A, Thành phố Hồ
Chí Minh theo yêu cầu của người đàn ông Trung Quốc (không rõ lai lịch). Lê Sỹ
M1 được Vũ Hoàng C thuê và đưa tiền để lo ăn uống, hạn chế cho những người
Trung Quốc này xuống xe để tránh bị phát hiện. Lần này, Vũ H3 Chi thu lợi bất
chính 1.050.000 đồng và Nguyễn Thị H sau khi trừ chi phí, đã thu lợi bất chính
840.000 đồng. Đến ngày 25/4/2025, cùng với thủ đoạn nêu trên, Vũ Hoàng C đã
sử dụng xe ô tô khách loại 50 giường nằm, hiệu Thaco biển số 50F-027.59, thuê
anh Q làm lái xe, Lê Sỹ M1 làm phụ xe để chở 14 người Trung Quốc nhập cảnh
Việt Nam trái phép đi từ khu vực cầu vượt hướng lên cầu T giao với đường Q,
thuộc địa phận Thành phố Hà Nội đến Bến xe A, Thành phố Hồ Chí Minh theo
yêu cầu của người đàn ông Trung Quốc (không rõ lai lịch), để Vũ H3 Chi thu lợi
1.100.000 đồng, Lê Sỹ M1 thu lợi 1.000.000 đồng và sau khi trừ chi phí, Nguyễn
Thị H thu lợi 1.680.000 đồng. Đến 18 giờ 30 phút ngày 26/4/2025, khi xe ô tô
7
khách vào đổ dầu tại Cây xăng số G Đ, phường B, thành phố T (nay là phường
B), Thành phố Hồ Chí Minh, thì bị phát hiện.
Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 2, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử các
bị cáo Vũ Hoàng C, Nguyễn Thị H và Lê Sỹ M1 về tội “Tổ chức cho người khác
ở lại Việt Nam trái phép ” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 348 của Bộ luật
hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội,
không oan sai.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Vũ Hoàng C: Trong đơn kháng cáo và tại
phiên tòa hôm nay, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin Hội đồng xét xử xem
xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt đã áp dụng đối với bị cáo, khi lượng hình thì Tòa án nhân dân
Khu vực 2, Thành phố Hồ Chí Minh đã xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ cho bị
cáo như quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, có
thái độ ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, bị cáo C đã nộp
lại toàn bộ tiền thu lợi bất chính và đã ra đầu thú nên được áp dụng các tình tiết
giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để
xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Vũ Hoàng C không cung cấp tình tiết giảm
nhẹ nào để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo
đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý hành chính, xâm phạm đến hoạt động
bình thường, đúng đắn của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập
cảnh cư trú ở Việt Nam. Bị cáo là người khởi xướng, tổ chức, nên Hội đồng xét
xử thấy mức án 10 năm 06 tháng tù mà cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp với hành
vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và không có cơ sở, căn cứ pháp luật nào khác để
chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo. Từ đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận
kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên án sơ thẩm để răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
[4] Lập luận trên đây cũng là căn cứ để chấp nhận quan điểm luận tội của
đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa về việc
không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và y án sơ thẩm.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình
sự sửa đổi, bổ sung năm 2025:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Hoàng C và giữ nguyên Bản
án hình sự sơ thẩm số 994/2026/HS-ST ngày 14/7/2026 của Tòa án nhân dân Khu
vực 2, Thành phố Hồ Chí Minh.
8
2. Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 3, khoản 4 Điều 348; điểm s khoản
1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015,
sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Vũ Hoàng C: 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ
chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù
tính từ ngày 29/4/2025.
Buộc bị cáo Vũ Hoàng C phải nộp phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng
(Mười triệu đồng) vào ngân sách nhà nước.
3. Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và căn cứ Điều 22 và
23 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí và lệ phí toà án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, cùng danh mục
án phí, lệ phí toà án, của Ủy ban thường vụ Q1,
Bị cáo Vũ Hoàng C phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 (Hai
trăm nghìn) đồng.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND TC; (1)
- VKSND TP.HCM; (3)
- CQ THAHS CA.TP.HCM (1)
- CQCSĐT – CA.TP.HCM; (1)
- VKSND Khu vực 2; (1)
- TAND Khu vực 2; (1)
- THADS TP.HCM (1)
- Phòng THADS Khu vực 2; (1)
- Bị cáo; (1)
- Trại tạm giam Bố Lá; (1)
- UBND nơi bị cáo cư trú; (1)
- Lưu: VT, THS, hồ sơ (21) (8)
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đặng Hồng Sơn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 845/2026/HS-PT Bản án số 845/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 845/2026/HS-PT Bản án số 845/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất