Bản án số 05/2026/HC-PT ngày 30/09/2026 của TAND tỉnh Quảng Trị

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 05/2026/HC-PT

Tên Bản án: Bản án số 05/2026/HC-PT ngày 30/09/2026 của TAND tỉnh Quảng Trị
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Trị
Số hiệu: 05/2026/HC-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/09/2026
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Hồ Thị L - Sở Tai nguyên Môi trường tỉnh Quảng Trị
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 05/2026/HC-PT Bản án số 05/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 05/2026/HC-PT Bản án số 05/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG TRỊ
Bản án số: 05/2026/HC-PT
Ngày: 30 - 9 - 2026
“V/v khiếu kiện Quyết định hành
chính trong quản lý đất đai”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Viết Hải
Các Thẩm phán: Bà Lê Hoài Thủy và bà Hoàng Thị Thanh Nhàn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Anh Việt - Thư ký Toà án nhân dân
tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị: Bà Nguyễn Thị Lan
Anh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 30 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị
mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số:
09/2026/TLPT-HC ngày 27 tháng 7 năm 2026, về việc: “Khiếu kiện quyết định
hành chính trong quản lý đất đai”. Do bản án hành chính sơ thẩm số:
03/2026/HC-ST ngày 11 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 6, tỉnh
Quảng Trị bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số:
07/2026/QĐPT-HC ngày 28 tháng 8 năm 2026, giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Bà Hồ Thị L, sinh năm 1954; CCCD: ************,
cấp ngày 13/4/2021; địa chỉ: thôn C, xã T, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
Đại diện theo uỷ quyền: Bà Lê Thị Tuyết N, sinh năm 1991; CCCD:
************; địa chỉ: thôn N, xã T, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
Người bị kiện:
1. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Q; địa chỉ: Số C, đường T,
phường Đ, tỉnh Quảng Trị; có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Sở Nông nghiệp và Môi
trường tỉnh Q: Ông Phạm Đình H - Phó giám đốc Văn phòng đất đai tỉnh Q, có
đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Quảng Trị.
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Xuân L1 - Phó chủ tịch UBND xã T,
tỉnh Quảng Trị, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Lê Thanh H1, sinh năm 1980; CCCD: ************, cấp ngày
06/12/2024; địa chỉ: thôn C, xã T, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
2. Bà Trương Thị T; sinh năm 1980; CCCD: ************; địa chỉ:
thôn C, xã T, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
Người kháng cáo: Bà Hồ Thị L, là người khởi kiện trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 23/12/2025, quá trình giải quyết vụ án cũng
như tại phiên toà, người khởi kiện và người đại diện theo ủy quyền của bà Hồ
Thị L trình bày:
Năm 1993, bà Hồ Thị L được Nhà nước công nhận có thửa đất ở tại thôn
C, xã T, huyện T (nay là xã T, tỉnh Quảng Trị) và xây nhà trên thửa đất này theo
diện 202. Do điều kiện nên bà L chưa làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng
(CNQSDĐ) đối với thửa đất nêu trên. Ngày 22/12/2003, ông Lê Thanh H1 đã tự
ý làm GCNQSDĐ tại thửa số 192, tờ bản đồ số 02 mang tên hộ ông Lê Thanh
H1 mà không có sự đồng ý của bà Hồ Thị L. Sau khi kết hôn với bà Trương Thị
Thanh T1 đến năm 2019, ông Lê Thanh H1 đã chuyển thửa số 192, tờ bản đồ số
02 thành thửa đất số 134, tờ bản đồ số 01 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
Q cấp ngày 17/12/2019, mang tên hộ ông Lê Thanh H1 và bà Trương Thị Thanh
T2 thôn C, xã T (nay là xã T, tỉnh Quảng Trị). Năm 2022, ông Lê Thanh H1 và
bà Trương Thị Thanh ly H2 tại TAND huyện Triệu Phong theo Quyết định công
nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự ngày 13/6/2022, giải
quyết giao cho ông Lê Thanh H1 sử dụng thửa đất số 134, tờ bản đồ số 01
nhưng ông Lê Thanh H1 có nghĩa vụ trả giá trị chênh lệch chia tài sản chung cho
bà Trương Thị T, với số tiền 650.000.000 đồng. Bà Hồ Thị L đang sinh sống tại
thửa đất và ngôi nhà này thì Cơ quan thi hành án đến cưỡng chế thì bà L mới
biết quyền và lợi ích bị xâm phạm.
Vì vậy, bà Hồ Thị L yêu cầu TAND khu vực 6, tỉnh Quảng Trị giải
quyết: Hủy giấy CNQSDĐ số vào sổ cấp giấy CNQSDĐ 00820 do UBND
huyện T, tỉnh Quảng Trị (nay là xã T, tỉnh Quảng Trị) cấp ngày 22/12/2003 cho
hộ ông Lê Thanh H1 và giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất số phát hành CT 943107, thửa đất số 134, tờ bản dồ số 01 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 17/12/2019 cho hộ ông Lê Thanh H1 và
bà Trương Thị T.
Người bị kiện Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Q và người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Q, Văn
phòng đất đai tỉnh Q: Tại công văn số 202/VPĐKĐĐ ngày 27/01/2026 Văn
phòng đất đai tỉnh Q, có ý kiến:
- Quá trình cấp Giấy chứng nhận số CT 943107 cho hộ ông Lê Thanh H1
và bà Trương Thị Thanh D Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh cấp ngày
17/12/2019.
+ Ngày 22/12/2003, hộ ông Lê Thanh H1 được UBND huyện T cấp giấy
chứng nhận số X 549696, với diện tích 198m
2
đất ở, thửa đất số 192, tờ bản đồ
số 2 tại xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị.
+ Tháng 9/2013, Nhà nước thu hồi 40m
2
đất ở tại nông thôn để xây dựng
công trình Đường Q vào nhà lưu niệm Cố Tổng Bí thư L, cầu S và cầu R theo hồ
sơ số 549 và được Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện T chỉnh lý
Giấy CNQSDĐ (T).
+ Thực hiện dự án Đo đạc, lập bản đồ địa chính, cấp giấy CNQSDĐ và
xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai huyện T. Hộ ông Lê Thanh H1 được UBND
huyện T cấp đổi từ giấy CNQSDĐ số X 549696 cấp ngày 22/12/2003, diện tích
158m
2
đất ở, thuộc thửa đất số 192, tờ bản đồ số 2 tại xã T, huyện T, tỉnh Quảng
Trị thành giấy CNQSDĐ số CI 783448 cấp ngày 29/6/2018 cho hộ ông Lê
Thanh H1 và bà Trương Thị T, diện tích 164m
2
(trong đó 158m
2
đất ở tại nông
thôn và 6m
2
đất trồng cây hàng năm khác) tại thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Quảng
Trị.
+ Ngày 17/12/2019, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Q thừa uỷ quyền
của Sở T ký giấy CNQSDĐ số CT 943107 cho hộ ông Lê Thanh H1 và bà
Trương Thị Thanh T2 thửa đất số 134, tờ bản đồ số 01, diện tích 164m
2
(trong
đó 158m
2
đất ở tại nông thôn và 6m
2
đất trồng cây hàng năm khác).
- Ý kiến về yêu cầu khởi kiện nội dung huỷ GCNQSDĐ số CT 943107:
+ Về thành phần hồ sơ: Theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Thông tư số
24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T3 được sửa đổi, bổ sung tại
khoản 1 Điều 2 Thông tư số 09/2021/TT-BTNMT ngày 30/6/2021 của Bộ T3 thì
hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Lê Thanh H1 và bà Trương Thị T có đầy đủ
thành phần: Đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
(ký ngày 09/12/2019), Bản đồ thửa đất (ký ngày 11/12/2019), Giấy chứng nhận
số CI 783448. Do đó, thành phần hồ sơ đảm bảo đầy đủ nội dung theo quy định.
+ Về thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận: Việc Văn phòng Đăng ký đất
đai thừa ủy quyền của Sở T ký cấp GCNQSDĐ số CT 943107 ngày 17/12/2019,
thửa đất số 134, tờ bản đồ số 01, diện tích 164m
2
(trong đó: Đất ở tại nông thôn
164m
2
, đất trồng cây hàng năm khác 6m
2
) tại thôn C, xã T, huyện T tỉnh Quảng
Trị cho hộ ông Lê Thanh H1 và bà Trương Thị T là đúng thẩm quyền theo quy
định tại khoản 3 Điều 105 Luật Đất đai năm 2013.
+ Về trình tự thực hiện: Trên cơ sở Đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy
CNQSDĐ, Bản đồ thửa đất, Giấy chứng nhận số CI 783448; Căn cứ quy định tại
khoản 1 Điều 99 Luật Đất đai năm 2013, Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP
ngày 15/5/2014 của Chính phủ, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện T
đã kiểm tra hồ sơ, xác nhận đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận theo quy định.
Căn cứ kết quả kiểm tra đã nêu trên, Văn phòng Đ đã thẩm định hồ sơ, thừa ủy
quyền của Sở T ký cấp Giấy chứng nhận số CT 943107.
Như vậy, việc Sở T cấp giấy CNQSDĐ số CT 943107 là đảm bảo đầy đủ
thành phần hồ sơ, đúng thẩm quyền và đúng quy định của pháp luật. Nay, bà Hồ
Thị L có yêu cầu hủy giấy CNQSDĐ số CT 943107 là không có cơ sở. Vì vậy,
đề nghị TAND khu vực 6, tỉnh Quảng Trị xem xét, giải quyết vụ việc theo đúng
quy định của pháp luật.
Tại biên bản hòa giải ngày 13/3/2026, Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh
Quảng Trị trình bày: Quy trình cấp đất đảm bảo theo đúng quy định pháp luật.
Giai đoạn cấp đất vào năm 2003 cho hộ ông Lê Thanh H1, phải xem xét trong
hộ ông H1 gồm những ai, có bà L hay không.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bà Trương Thị T trình bày:
Việc nhà nước giao cho quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản
gắn liền với đất có thu tiền sử dụng đất 158m
2
đất ở và 6m
2
đất trồng cây hàng
năm khác tại thửa đất số 134, tờ bản đồ số 1; địa chỉ: thôn C, xã T, huyện T, tỉnh
Quảng Trị (địa chỉ cũ) của bà và ông Lê Thanh H1 là hợp pháp và đúng quy
định của pháp luật lần đầu vào ngày 22 tháng 12 năm 2003. Sau khi được cấp
giấy CNQSDĐ thì đến năm 2008 vợ chồng bà xây dựng ngôi nhà đổ bằng kiên
cố như hiện trạng, có trị giá 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng). Đến ngày
17 tháng 12 năm 2019, nhà nước cấp giấy CNQSDĐ mới lần thứ hai cho bà và
ông H1 theo diện quy chế mẫu sổ mới của nhà nước theo quy chế hiện hành.
Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các
đương sự ngày 13/6/2022, giải quyết giao cho ông Lê Thanh H1 sử dụng thửa
đất số 134, tờ bản đồ số 01 do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp ngày
17/12/2019, tại: thôn C, xã T (nay là xã T, tỉnh Quảng Trị), ông Lê Thanh H1 có
nghĩa vụ trả giá trị chênh lệch chia tài sản cho bà Trương Thị T, số tiền là
650.000.000 đồng. Khi cơ quan thi hành án dân sự tiến hành cưỡng chế kê biên
tài sản này thì ông H1 cố tình không chấp hành và không hợp tác trong các quá
trình với các thủ tục cơ quan nhà nước làm kéo dài ảnh hưởng đến quyền và lợi
ích hợp pháp của bà. Khi bà lấy chồng và sinh sống cùng chồng và các con trên
thửa đất 134, tờ bản đồ số 01 thì bà L không sống cùng mà bà L ở một cái nhà
cũ cấp 4 khu đất gần đó thỉnh thoảng bà có qua nhà chơi và trong hộ khẩu hộ gia
đình cũ của bà cùng ông H1 và các con do các cơ quan chức năng cấp theo từng
thời kì hoàn toàn không có tên bà L sống cùng. Việc cơ quan nhà nước cấp giấy
CNQSDĐ đối với thửa đất 134, tờ bản đồ số 01 đã hơn 20 năm, đã qua hai lần
cấp lần đầu và cấp mới đều được cơ quan có thẩm quyền niêm yết công khai
minh bạch rõ ràng tại địa phương thì giữa gia đình cũ của bà và bà Hồ Thị L
chưa từng có một sự tranh chấp về đất đai. Vì vậy, bà Trương Thị T đề nghị Tòa
án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị L
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh H1, trình bày:
Việc làm giấy CNQSDĐ là do ông tự ý đi làm không thông qua ý kiến của bà Lê
Thị L2. Nguồn gốc mảnh đất này là của mẹ ông (bà L2), năm 1999 nhà nước
cấp cho mẹ ông một ngôi nhà theo diện 202. Trong quá trình vợ chồng sinh sống
thì có xây dựng, cơi nới thêm ngôi nhà hiện tại. Bà L2 không chung sống cùng
hộ khẩu với ông và bà T. Năm 2019, ông ký vào thủ tục cấp đổi giấy CNQSDĐ
mang tên ông và bà T. Vì vậy, ông đề nghị TAND khu vực 6, tỉnh Quảng Trị
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị L.
Tại bản án hành chính sơ thẩm số 03/2026/HC-ST ngày 11 tháng 6 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6, tỉnh Quảng Trị quyết định: Căn cứ khoản
1, 2 Điều 3; khoản 2 Điều 31, điểm a khoản 2 Điều 116, điểm b khoản 2 Điều
157, khoản 1, 2 Điều 158, điểm a khoản 2 Điều 193, khoản 1 Điều 348 của Luật
Tố tụng hành chính; khoản 1 Điều 99, khoản 3 Điều 105 Luật đất đai 2013;
khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội, xử:
Bác yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị L, về yêu cầu huỷ giấy CNQSDĐ
số vào sổ cấp giấy CNQSDĐ 00820 do UBND huyện T, tỉnh Quảng Trị (nay là
xã T, tỉnh Quảng Trị) cấp ngày 22/12/2003 cho hộ ông Lê Thanh H1 và giấy
CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 943107 do
sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 17/12/2019 cho hộ ông Lê Thanh
H1 và bà Trương Thị T.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo
theo quy định của pháp luật.
Ngày 23 tháng 6 năm 2026, người khởi kiện bà Hồ Thị L làm đơn
kháng cáo với nội dung. Yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị hủy bỏ Bản
án hành chính sơ thẩm số 03/2026/HCST ngày 11/6/2026.
Tại phiên toà, người khởi kiện và người đại diện theo uỷ quyền của
người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo. Người
bị kiện, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người bị kiện và người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan giữ nguyên ý kiến, quan điểm. Các đương sự
không đối thoại được với nhau về việc giải quyết vụ án và đề nghị Tòa án giải
quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Đây là các quyết định hành của cơ quan hành chính Nhà
nước trong lĩnh vực quản lý đất đai nên thuộc đối tượng khởi kiện trong vụ án
hành chính và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 6,
tỉnh Quảng Trị. Quá trình thụ lý xét xử vụ án: Thẩm phán, Thư ký cấp phúc
thẩm chấp hành đúng, đầy đủ quy định của Luật tố tụng hành chính. Những
người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo
quy định của luật Tố tụng hành chính.
Về nội dung: Qua xem xét, đánh giá các tài liệu, chứng được thu thập
trong hồ sơ vụ án, ý kiến của những người tham gia tố tụng. Đề nghị HĐXX
căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính. Không chấp nhận kháng cáo
của người khởi kiện bà Hồ Thị L và giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số
03/2026/HC-ST ngày 11/6/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6, tỉnh Quảng
Trị. Kháng cáo của người khởi kiện không được chấp nhận nên phải chịu án
phí. Tuy nhiên, bà L là người cao tuổi nên được miễn án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên tại
phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ngày 23/6/2026, người khởi kiện bà Hồ Thị L làm đơn
kháng cáo Bản án hành chính sơ thẩm số 03/2026/HCST ngày 11/6/2026. Đơn
kháng cáo của người khởi kiện làm trong hạn luật định, đảm bảo về người kháng
cáo, hình thức, nội dung kháng cáo và được miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc
thẩm theo quy định tại các Điều 204, 205, 206 Luật tố hành chính. Vì vậy,
kháng cáo của người khởi kiện được xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm
theo quy định tại các Điều 32, 32a Luật tố tụng hành chính.
[2] Về đối tượng khởi kiện, thẩm quyền giải quyết vụ án và thời hiệu
khởi kiện: Ngày 23/12/2025, bà Hồ Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết
hủy giấy CNQSDĐ số phát hành X 549696, vào sổ cấp giấy CNQSDĐ số 00820
do UBND huyện T, tỉnh Quảng Trị (nay là xã T, tỉnh Quảng Trị) cấp ngày
22/12/2003 cho hộ ông Lê Thanh H1 và giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất số CT 943107 do Sở T cấp ngày 17/12/2019 cho hộ
ông Lê Thanh H1 và bà Trương Thị T. Đây là các Quyết định hành chính trong
lĩnh vực quản lý đất đai nên thuộc đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính
và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 6, tỉnh Quảng Trị.
Đến đầu tháng 12/2025, thông qua quyết định cưỡng chế Thi hành án Quyết
định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự ngày
13/6/2022, giữa ông Lê Thanh H1 và bà Trương Thị T liên quan đến thửa đất số
134, tờ bản đồ số 01 do Sở T cấp ngày 17/12/2019, nên bà L mới biết được thửa
đất số 134, tờ bản đồ số 01 mà bà L sử dụng đã được cấp giấy CNQSDĐ cho hộ
ông H1, bà T. Vì vậy, ngày 23/12/2025 bà L làm đơn khởi kiện yêu cầu hủy các
giấy CNQSDĐ đã cấp cho hộ ông H1, bà T là nằm trong thời hiệu khởi kiện. Vì
vậy, Tòa án nhân dân khu vực 6, tỉnh Quảng Trị thụ lý, giải quyết vụ án hành
chính là phù hợp quy định tại các khoản 1, 2 Điều 3; khoản 1 Điều 30; Điều 31;
khoản 1 Điều 31a và Điều 116 Luật tố tụng hành chính.
[3] Xét kháng cáo của bà Hồ Thị L, Hội đồng xét xử thấy:
[3.1] Xét về nguồn gốc thửa đất số 192, tờ bản đồ số 2, xã T, huyện T
(nay là thửa đất số 134, tờ bản đồ số 01, xã T tỉnh Quảng Trị) đã được UBND
huyện T, tỉnh Quảng Trị (cũ) cấp giấy CNQSDĐ mang tên hộ ông Lê Thanh H1.
Căn cứ vào hồ sơ địa chính lập năm 1997, sổ mục kê năm 1997, thửa đất 192
thuộc thửa đất số 193, tờ bản đồ số 02 do UBND xã T (cũ) quản lý, có diện tích
5.852m
2
và tại biên bản kiểm tra về việc giao đất và cấp giấy CNQSDĐ ngày
06/9/2003 do UBND xã T (cũ) thể hiện. Thửa đất số 192, tờ bản đồ số 02 có
nguồn gốc là đất màu UBND xã đã quy hoạch đất ở khi giao đất 64. Tại đơn xin
giao đất và cấp giấy CNQSDĐ ngày 05/9/2003 do ông Lê Thanh H1 và bà
Trương Thị T ký tên thể hiện. Vị trí khu đất xin giao, tờ bản đồ số 2, thửa đất số
192, xã T, huyện T; diện tích xin giao là 198m
2
, hiện trạng khu đất xin giao: đất
màu; nguồn gốc khu đất xin giao: Đất quy hoạch khu dân cư do UBND xã quản
lý. Ngày 22/12/2003, UBND huyện T ban hành Quyết định số 1068/2003/QĐ-
UB. Giao cho hộ ông Lê Thanh H1 và bà Trương Thị T, diện tích 198m
2
đất,
thuộc thửa đất số 192, tờ bản đồ số 2, xã T, huyện T để sử dụng vào mục đích
đất ở. Ngoài ra, tại Công văn số: 549/UBND-TP ngày 13/5/2026 của UBND xã
T thể hiện “UBND xã đã chỉ đạo các cơ quan chuyên môn tiến hành kiểm tra, rà
soát hồ sơ lưu trữ tại địa phương. Hiện nay, UBND xã không có hồ sơ lưu trữ
liên quan đến việc xây dựng nhà ở diện 202 đối với thửa đất số 192, tờ bản đồ số
2 do UBND huyện T cấp ngày 22/12/2003 cho hộ ông Lê Thanh H1” và tại công
văn số 579/CAX-CSKV ngày 20 tháng 4 năm 2026 của Công an xã T thể hiện
“Vào thời điểm ngày 22/12/2003: Hộ gia đình ông Lê Thanh H1 gồm có 02
nhân khẩu bao gồm các thành viên sau: 1. Lê Thanh H1, sinh năm 1980, CCCD
số: ************; 2. Trương Thị T, sinh năm 1980, CCCD số:
************”. Vì vậy, có căn cứ xác định tại thời điểm cấp giấy CNQSDĐ số
phát hành X 549696, vào sổ cấp giấy CNQSDĐ số 00820 do UBND huyện T,
tỉnh Quảng Trị (nay là xã T, tỉnh Quảng Trị) cấp ngày 22/12/2003 cho hộ ông
Lê Thanh H1 và bà Trương Thị T thì thửa đất 192, tờ bản đồ số 02 là đất màu,
do UBND xã quản lý và không có tài sản là ngôi nhà xây dựng theo diện 202
như ý kiến trình bày của bà Hồ Thị L. Bà L cũng không có tên trong hộ khẩu
ông Lê Thanh H1. Bà L cũng không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ chứng
minh nguồn gốc thửa đất nói trên là do cơ quan Nhà nước cấp cho vợ chồng bà
L và bà làm nhà theo diện 202 để sinh sống trên thửa đất, nên không có cơ sở
xác định thửa đất số 192, tờ bản đồ số 02 thuộc quyền sử dụng của bà L.
[3.2] Xét thẩm quyền, trình tự, thủ tục cấp giấy CNQSDĐ số phát hành
X 549696, vào sổ cấp giấy CNQSDĐ số 00820 do UBND huyện T, tỉnh Quảng
Trị (nay là xã T, tỉnh Quảng Trị) cấp ngày 22/12/2003 cho hộ ông Lê Thanh
H1 và giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số
phát hành CT 943107 do Sở T cấp ngày 17/12/2019 cho hộ ông Lê Thanh H1
và bà Trương Thị T, Hội đồng xét xử thấy:
Như phân tích, nhận định ở mục [3.1], cũng như các tài liệu chứng cứ
được thu thập trong hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định. Ngày 05/9/2003, ông Lê
Thanh H1 và bà Trương Thị Thanh L3 đơn xin giao đất và cấp giấy CNQSDĐ,
mục đích xin giao làm nhà ở, vị trí khu đất xin giao, tờ bản đồ số 02, thửa đất số
192, xã T, huyện T; diện tích xin giao là 198m
2
, hiện trạng khu đất xin giao: đất
màu; nguồn gốc khu đất xin giao: đất quy hoạch khu dân cư do UBND xã quản
lý. Căn cứ vào hồ sơ địa chính lập năm 1997, sổ mục kê năm 1997, cơ quan có
thẩm quyền xác định thửa đất 192 thuộc thửa đất số 193, tờ bản đồ số 02 do
UBND xã T (cũ) quản lý, có diện tích 5.852m
2
và có nguồn gốc là đất màu,
UBND xã đã quy hoạch đất ở khi giao đất 64. UBND xã T, huyện T tiến hành
lập hồ sơ giao đất, cấp giấy CNQSDĐ và có tờ trình về việc giao đất và cấp giấy
CNQSDĐ gữi UBND huyện T, tỉnh Quảng Trị (củ), phòng Nông Nghiệp - Địa
chính huyện T đã tiến hành thẩm định hồ sơ và đề nghị UBND huyện T giao đất
và cấp giấy CNQSDĐ. Ngày 22/12/2003, UBND huyện T ban hành Quyết định
số 1068/2003/QĐ-UB về việc giao đất, cấp giấy CNQSDĐ. Quyết định giao cho
hộ ông Lê Thanh H1 và bà Trương Thị T 198m
2
đất, thuộc thửa đất số 92, tờ bản
dồ số 02; xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị để sử dụng vào mục đích đất ở; thời hạn
sử dụng lâu dài và cấp giấy CNQSDĐ số X 549696, vào sổ cấp giấy CNQSDĐ
số 00820 cho hộ ông Lê Thanh H1 và bà Trương Thị T. Tháng 9/2013, Nhà
nước thu hồi 40m
2
đất ở tại nông thôn để xây dựng công trình Đường Q vào nhà
lưu niệm Cố Tổng Bí thư L, cầu S và cầu R theo hồ sơ số 549 và được Văn
phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện T chỉnh lý giấy CNQSDĐ (T). Thực
hiện dự án đo đạc, lập bản đồ địa chính, cấp giấy CNQSDĐ và xây dựng cơ sở
dữ liệu đất đai huyện T. Hộ ông Lê Thanh H1 được UBND huyện T cấp đổi từ
giấy CNQSDĐ số X 549696 cấp ngày 22/12/2003, diện tích 158m
2
đất ở, thuộc
thửa đất số 192, tờ bản đồ số 02 tại xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị thành giấy
CNQSDĐ số phát hành CI 783448 cấp ngày 29/6/2018 cho hộ ông Lê Thanh H1
và bà Trương Thị T, diện tích 164m
2
(trong đó 158m
2
đất ở tại nông thôn và 6m
2
đất trồng cây hàng năm khác) tại thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị. Ngày
17/12/2019, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Q thừa uỷ quyền của Sở T ký giấy
CNQSDĐ số CT 943107 cho hộ ông Lê Thanh H1 và bà Trương Thị T, tại thửa
đất số 134, tờ bản đồ số 01, diện tích 164 m
2
(trong đó 158m
2
đất ở tại nông thôn
và 6m
2
đất trồng cây hàng năm khác).
Vì vậy, ngày 22/12/2003 UBND huyện T, tỉnh Quảng Trị (cũ) cấp giấy
CNQSDĐ số phát hành X 549696, vào sổ cấp giấy CNQSDĐ số 00820 cho hộ
ông Lê Thanh H1 và ngày 17/12/2019, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Q thừa
uỷ quyền của Sở T ký giấy CNQSDĐ số phát hành CT 943107 cho hộ ông Lê
Thanh H1 và bà Trương Thị T, tại thửa đất số 134, tờ bản đồ số 01, diện tích
164m
2
là đảm bảo về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và căn cứ pháp luật theo quy
định tại các Điều 49, 50, 52, 123 Luật Đất đai năm 2003; các Điều 99, 100, 105
Luật đất đai năm 2013; các Điều 135, 136, 137 Luật Đất đai năm 2024 và các
văn bản hướng dẫn luật đất đai qua các thời kỳ. Do đó, việc nguyên đơn bà Hồ
Thị L yêu cầu hủy các giấy CNQSDĐ số phát hành X 549696, vào sổ cấp giấy
CNQSDĐ số 00820 do UBND huyện T, tỉnh Quảng Trị (nay là xã T, tỉnh Quảng
Trị) cấp ngày 22/12/2003 cho hộ ông Lê Thanh H1 và giấy CNQSDĐ, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CT 943107 do Sở T cấp
ngày 17/12/2019 cho hộ ông Lê Thanh H1 và bà Trương Thị T là không có căn
cứ chấp nhận.
Từ những phân tích, nhận định tại mục [3]. Tòa án cấp sơ thẩm không
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà Hồ Thị L là có căn cứ, phù
hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của các đương sự và
quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận ý kiến đề
nghị của đại diện Viện kiểm sát. Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành
chính, bác kháng cáo của người khởi kiện bà Hồ Thị L và giữ nguyên Bản án
hành chính sơ thẩm số 03/2026/HC-ST ngày 11/6/2026 của Tòa án nhân dân
khu vực 6, tỉnh Quảng Trị.
[4] Về án phí phúc thẩm: Người khởi kiện bà Hồ Thị L là người cao tuổi
nên được miễn án phí.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241; khoản 1, 2 Điều 3; khoản 1 Điều 30; Điều
31; khoản 1 Điều 31a, Điều 32, Điều 32a, Điều 116, Điều 204, 205, 206, Điều
242, 348, Điều 349 Luật tố tụng hành chính; các Điều 49, 50, 52, 123 Luật Đất
đai năm 2003; các Điều 99, 100, 105 Luật đất đai năm 2013; các Điều 135,
136, 137 Luật Đất đai năm 2024; khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án, xử:
1. Bác kháng cáo của người khởi kiện bà Hồ Thị L và giữ nguyên Bản án
hành chính sơ thẩm số 03/2026/HC-ST ngày 11/6/2026 của Tòa án nhân dân
khu vực 6, tỉnh Quảng Trị.
2. Bác yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà Hồ Thị L, về yêu cầu
huỷ giấy CNQSDĐ số phát hành X 549696, vào sổ cấp giấy CNQSDĐ số 00820
do UBND huyện T, tỉnh Quảng Trị (nay là xã T, tỉnh Quảng Trị) cấp ngày
22/12/2003 cho hộ ông Lê Thanh H1 và giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CT 943107 do sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh Q cấp ngày 17/12/2019 cho hộ ông Lê Thanh H1 và bà Trương Thị
T.
3. Về án phí phúc thẩm: Người khởi kiện bà Hồ Thị L được miễn án
phí phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- VKSND Tối cao;
- VKSND tỉnh Quảng Trị;
- Thi HADS tỉnh Quảng Trị;
- TAND khu vực 6;
- VKSND khu vực 6;
- Các đương sự;
- Phòng KTNV;
- Tổ HCTP;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã Ký)
Dương Viết Hải
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 05/2026/HC-PT Bản án số 05/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 05/2026/HC-PT Bản án số 05/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất