Bản án số 470/2026/DS-PT ngày 25/09/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 470/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 470/2026/DS-PT ngày 25/09/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 470/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: y án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 470/2026/DS-PT Bản án số 470/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 470/2026/DS-PT Bản án số 470/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐẮK LẮK Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 470 /2026/DS-PT
Ngày 25 - 9 - 2026
“V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị My My.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Anh.
Ông Trần Minh Quang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Loan, Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà
Trương Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 262/2026/TLPT-DS ngày
24/8/2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”. Do Bản án dân sự sơ thẩm
số: 26/2026/DS-ST ngày 08/6/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đắk Lắk bị
kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 441/2026/QĐ-
PT ngày 08/9/2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Phạm Quang H, sinh năm 1987; số CCCD:
************; địa chỉ: Số C Đ, tổ dân phố A, phường B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng
mặt.
Người đại diện ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Huy H1, sinh năm
1962; số CCCD: ************; địa chỉ: Số D H, phường B, tỉnh Đắk Lắk (Văn
bản ủy quyền ngày 17/7/2025) – Vắng mặt. Bà Ngụy Thị Quỳnh M, sinh năm
1962; số CCCD: ************; địa chỉ: Số A N, tổ dân phố E, A, phường B,
tỉnh Đắk Lắk (Văn bản ủy quyền ngày 24/9/2026) – Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Đình Q, sinh năm 1983; số CCCD:
************; địa chỉ: Buôn C, xã C, tỉnh Đắk Lắk – Có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đỗ Thị Thu N, sinh năm
1989; địa chỉ: Buôn C, xã C, tỉnh Đắk Lắk – Có mặt.
4. Người làm chứng: Ông Trần Văn V, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn B,
xã P, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.
5. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Phạm Quang H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Phạm
Quang H có người đại diện ủy quyền là ông Nguyễn Huy H1 trình bày:
Ngày 04/7/2025, ông Phạm Quang H và ông Nguyễn Đình Q ký kết hợp
đồng mua bán trái sầu siêng nội dung: Ông H đặt cọc cho ông Q 150.000.000
đồng mua sản lượng trái sầu riêng trên diện tích đất 9.800m
2
tại xã C, huyện K
(nay là xã C), tỉnh Đắk Lắk. Sản lượng ước tính khoảng 12 tấn, giá mua bán
520.000.000 đồng. Quy cách mua hàng: Mua “mão” tất cả số lượng trái sầu
riêng trong vườn (Nội dung cụ thể kèm hợp đồng).
Tuy nhiên sau khi ký hợp đồng và giao 150.000.000 đồng cho ông Q, thì
ngay hôm sau là ngày 05/7/2025, ông Quang thông B vườn sầu riêng bị nấm
nghiêm trọng. Ngày 06/7/2025 ông Q tiến hành phun thuốc, bón phân nhưng vì
không đúng quy trình nên tình trạng nấm trong vườn sầu riêng không được cải
thiện mà còn trầm trọng hơn. Vườn sầu riêng bị rụng hàng loạt. Ước tính sản
lượng chỉ còn lại trên cây khoảng 05 tấn (Ban đầu ước tính 12 tấn) là giảm đi
khoảng 07 tần sầu riêng, không đảm bảo sản lượng ký kết ban đầu.
Ông H chưa nhận bàn giao và quản lý vườn sầu riêng nhưng vườn đã bị
thiệt hại như trên. Ông H chủ động liên hệ với ông Q để hai bên giải quyết, đảm
bảo quyền và lợi ích hợp pháp của hai bên. Tuy nhiên, ông Q không hợp tác, vẫn
buộc ông H nhận vườn.
Trước khi bàn giao vườn cho ông H mà ông Q lại để vườn sầu riêng xảy
ra thiệt hại nghiệm trọng là vi phạm hợp đồng; không giao vườn đúng với thỏa
thuận; sản lượng còn lại quá thấp so với thỏa thuận ban đầu. Vì vậy ông H
không thể tiếp tục nhận mua vườn sầu riêng nêu trên, nếu nhận thì ông H sẽ bị
thiệt hại nặng nề. Ông H nhiều lần đề nghị ông Q hủy hợp đồng mua bán sầu
riêng ngày 04/7/2025 và trả lại cho ông H số tiền cọc 150.000.000 đồng nêu trên
nhưng ông Q không đồng ý.
Ông H khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên Hợp đồng mua bán sầu riêng ngày
04/7/2025 giữa bên bán ông Nguyễn Đình Q với bên mua ông Phạm Quang H
vô hiệu do vi phạm nghiêm trọng hợp đồng. Buộc ông Q phải trả cho ông H số
tiền đặt cọc vườn sầu riêng 150.000.000 đồng.
Toàn bộ số tiền đặt cọc vườn sầu riêng trên là của riêng ông H, không liên
quan đến vợ của ông H là bà Phạm Thị B1 (cùng trú tại: Số C Đ, tổ dân phố G,
phường B, tỉnh Đắk Lắk).
Bị đơn ông Nguyễn Đình Q trình bày: Ông và ông Phạm Quang H không
có mối quan hệ quen biết hay họ hàng thân thích gì. Thông qua người giới thiệu
tên Trần Văn V (không rõ năm sinh, địa chỉ) dẫn ông H đến mua “Mão” vườn
sầu riêng nhà ông (mua “Mão” được hiểu là mua hết toàn bộ vườn sầu riêng, bên
mua tự chăm sóc và tự thu hoạch sầu riêng, sau khi thu hoạch xong thì trả lại
vườn cho bên bán).
Khi ông H vào vườn, ông Q và ông H thỏa thuận mua bán theo Hợp đồng
sầu riêng ký kết ngày 04/7/2025, có chữ ký của người làm chứng ông Trần Văn
V. Hai bên thỏa thuận việc mua bán “mão” sầu riêng nên kể từ thời điểm ký hợp
đồng thì bên bán là ông Q có trách nhiệm bàn giao toàn bộ vườn sầu riêng cho
3
bên mua tự quản lý, chăm sóc và tự thu hoạch. Còn bên bán không có bất cứ
trách nhiệm gì nữa. Đây là thông lệ mua bán sầu riêng trên địa bàn.
Trong Hợp đồng, tại dòng thứ 31 từ trên xuống có nội dung “Bên bán có
trách nhiệm bảo vệ vườn sầu riêng đảm bảo an toàn cho đến khi bên mua thu
hoạch xong”. Đây là nội dung dành cho các Hợp đồng soạn sẵn đối với việc đặt
cọc mua sầu riêng theo tỷ lệ, theo kilogram. Còn mua “mão” thì nội dung này
không phù hợp, vì bên mua đã trả tiền mua toàn bộ vườn, không theo tỷ lệ,
không theo kilogram nên bên bán không còn liên quan đến vườn sầu riêng nữa.
Sau khi ký hợp đồng, bên mua đã chuyển khoản tiền đặt cọc cho ông
150.000.000 đồng và ngay sau đó, ông bàn giao vườn cho bên mua. Ngày
09/7/2025, ông có gọi điện báo cho ông H là có mấy trái sầu riêng bị nấm thì
ngày hôm sau ông H đến và trực tiếp nói không sao, rồi ông H gọi kỹ thuật đến
coi vườn và mang thuốc vào. Ngày 10/7/2025, ông phun thuốc nấm giúp ông H.
Lý do ông phun thuốc cho ông H là vì ông H nhờ ông thuê người phun thuốc
nhưng không thuê được ai. Vì vậy, ông nhận phun thuốc cho ông H với số tiền
công phun thuốc là 200.000 đồng/phi thuốc 200 lít. Tổng cộng ông phun hết 03
phi, nhưng ông H chưa trả tiền công phun thuốc cho ông.
Tuy nhiên, vườn tiếp tục bị nấm, ông H yêu cầu trả vườn, không nhận làm
vườn của ông nữa. Khi đó, hai bên gặp nhau nói chuyện, ông H đề nghị hủy Hợp
đồng và yêu cầu ông trả lại tiền cọc, nhưng ông không đồng ý vì vườn của ông
đã chốt bán và giao cho ông H kể từ thời điểm ký hợp đồng ngày 04/7/2025.
Đến ngày 16/7/2025 ông H không xử lý dẫn đến bị nấm gây hư hại, lây lan và
rụng gần như toàn bộ.
Từ thời điểm ông H yêu cầu hủy hợp đồng và ông Q không đồng ý hủy
hợp đồng, thì ông Q không can thiệp vào vườn sầu riêng đó vì ông H đã bỏ mặc
vườn của ông và không quay trở lại. Vườn sầu riêng dự tính sản lượng khoảng
12 – 13 tấn; tuy nhiên do ông H bỏ mặc không vào khắc phục, để hư hại gần như
toàn bộ, nên ông Q thu hoạch đi bán được sản lượng khoảng 03 tấn sầu riêng. Vì
vậy ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Quang H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Thu N trình bày: Bà
là vợ của ông Nguyễn Đình Q; bà và ông Phạm Quang H không có mối quan hệ
quen biết hay họ hàng thân thích gì. Bà không có mặt lúc ký kết hợp đồng nhưng
chồng bà có gọi điện thoại báo và bà đồng ý với việc ký hợp đồng. Bà thống
nhất với trình bày của ông Q, không có ý kiến gì thêm.
Người làm chứng Trần Văn V trình bày:
Ngày 04/7/2025, ông có chứng kiến sự việc ông H và ông Q ký hợp đồng
sầu riêng. Hợp đồng này được bên mua (ông H) soạn sẵn in từ trước, khi vào ký
hợp đồng các bên thỏa thuận mua bán “Mão” vườn sầu riêng nên mới ghi bổ
sung các nội dung bằng bút mực viết tay.
Mua bán “Mão” vườn sầu riêng là hình thức mua bán được hiểu như sau:
Bên mua nhận mua toàn bộ số trái sầu triêng có trong vườn bằng hình thức đếm
trái, ước tính sản lượng và tính bằng giá trị tiền, sau khi thống nhất với bên bán
thì bên mua sẽ đặt cọc một khoản tiền và tiếp nhận vườn từ bên bán để tự chăm
sóc cho đến khi thu hoạch. Tại buổi cắt dao đầu tiên, bên mua sẽ trả đủ tiền cho
4
bên bán. Vườn ông Q đếm ước lượng khoảng 4.000 trái sầu riêng T, tuổi đời 70
ngày. Do đó, hai bên thống nhất chốt số tiền vườn này là 520.000.000 đồng. Bên
bán sẽ chịu trách nhiệm đảm bảo về an ninh, không để xảy ra tình trạng mất
trộm Sầu riêng. Bên bán (ông Q) có nhận giúp bên mua (ông H) phun một đợt
thuốc và bỏ một đợt phân do còn dư vật tư trước đó. Thỏa thuận này được ông H
đồng ý.
Sau khi ký hợp đồng 2 – 3 ngày, ông Q báo cho ông H vườn bị nấm nhiều
để ông H vào xử lý. Ông H có vào xử lý nhưng hai bên không đạt được thỏa
thuận, nên ông H đề nghị thương lượng lại giá và chuyển đổi hình thức mua bán
từ mua “Mão” sang mua Kilogram tính tiền, ông Q không đồng ý thỏa thuận này
mà đưa ra yêu cầu vẫn giữ hình thức mua bán “Mão” như hợp đồng đã ký ngày
04/7/2025 và ông Q sẽ giảm cho bên mua một khoản tiền trong tổng số tiền đã
chốt vườn, từ 520.000.000 đồng xuống 300.000.000 đồng và nhận tiền một lần.
Tuy nhiên, bên mua không đồng ý phương án này dẫn đến hai bên tranh chấp.
Hợp đồng Sầu riêng ngày 04/7/2025 gồm có 01 trang, dòng đầu tiên từ
trên xuống dưới của trang Hợp đồng đến hết dòng “Quy cách mua hàng: Mua
Mão tất cả số sầu riêng Thái trên vườn (tổng Năm trăm hai mươi triệu hình thức
chuyển khoản)” là thể hiện ý chí của hai bên ký kết hợp đồng bằng hình thức
mua “Mão”. Còn dòng tiếp theo từ trên xuống của trang Hợp đồng bắt đầu bằng
dòng chữ “- Sâu khô, rầy đen, chín, 2kg tính 1kg” xuống dưới là dành cho loại
hợp đồng mua bán Quy cách. Do đây là hợp đồng soạn sẵn nên mới có những
nội dung này, tuy nhiên các điều khoản từ dòng này trở xuống không áp dụng
cho hợp đồng mua “Mão”.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 26/2026/DS-ST ngày 08/6/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 8 - Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ Điều 147, khoản 2 Điều 229 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều
117, Điều 328, Điều 351, Điều 352, Điều 420 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm
Quang H về việc yêu cầu tuyên Hợp đồng sầu riêng ngày 04/7/2025 giữa bên
bán ông Nguyễn Đình Q với bên mua ông Phạm Quang H vô hiệu; buộc ông
Nguyễn Đình Q phải trả lại cho ông Phạm Quang H số tiền đặt cọc vườn sầu
riêng là 150.000.000 đồng.
2. Về án phí: Buộc ông Phạm Quang H phải chịu 7.500.000 đồng tiền án
phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 3.750.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp
theo biên lai thu số 0002067 ngày 10/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đắk
Lắk. Ông Phạm Quang H còn phải nộp 3.750.000 đồng tiền án phí dân sự sơ
thẩm.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo cho các đương sự.
5
Ngày 23/6/2026, nguyên đơn ông Phạm Quang H có đơn kháng cáo bản
án sơ thẩm với nội dung: Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận toàn bộ đơn
khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện
và đơn kháng cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng
xét xử, Thư ký Tòa án và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật
tố tụng dân sự.
Về nội dung: Qua phân tích đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ
vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308
Bộ luật tố tụng dân sự – Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Phạm
Quang H; Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 26/2026/DS-ST ngày
08/6/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đắk Lắk.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét kháng cáo của nguyên đơn yêu cầu buộc bị đơn phải trả
150.000.000 đồng tiền phạt cọc cho nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
Tại Hợp đồng sầu riêng thể hiện ngày 04/7/2025, ông Phạm Quang H đặt
cọc 150.000.000 đồng cho ông Nguyễn Đình Q để mua của ông Q sản lượng sầu
riêng khoảng 12 tấn (ước lượng dựa trên đếm số lượng trái) trồng trên diện tích
9.800m² tại xã C, tỉnh Đắk Lắk theo hình thức mua “Mão”. Hợp đồng đặt cọc
nói trên được xác lập trên cơ sở tự nguyện, được các bên thừa nhận nên có hiệu
lực pháp luật.
Tại biên bản xác minh ngày 27/02/2026, ông Lê Cao V1 – Buôn trưởng
Buôn Cư J, xã C xác định hình thức mua bán “Mão” vườn sầu riêng trên địa bàn
tức là: Khi đạt được thỏa thuận và thực hiện ký kết hợp đồng mua bán sầu riêng,
thì ngay sau khi ký kết hợp đồng bên mua vườn sẽ trực tiếp quản lý, trông coi
toàn bộ số lượng trái sầu riêng của vườn đã mua. Phân, thuốc để bón cho cây do
bên mua phải chịu toàn bộ, còn bên bán chỉ thực hiện việc trông coi đối với
vườn cây sầu riêng đã bán; khi nào bên mua cắt dao đầu tiên thì bên bán sẽ nhận
đủ số tiền các bên đã thỏa thuận mua bán trước đó. Sau khi bên mua cắt xong số
lượng trái trên cây như thỏa thuận trong hợp đồng thì sẽ bàn giao lại vườn cho
bên bán.
Như vậy, sau khi ký hợp đồng mua bán và đặt cọc tiền, trách nhiệm quản
lý, trông coi, chăm sóc cây và trái sầu riêng thuộc về bên mua vườn là ông H,
nên việc vườn cây bị nấm hay sâu bệnh thì trách nhiệm xử lý thuộc về phía ông
H. Ông H và ông Q cùng thừa nhận có việc ông Q tiến hành phun thuốc cho
vườn cây, tức việc ông Q phun thuốc cho vườn cây sau khi đã bàn giao vườn
cho ông H đã được ông H đồng ý cho phép ông Q phun thuốc. Ông H cho rằng
ông Q thực hiện phun thuốc không đúng quy trình nên làm tình trạng nấm trầm
6
trọng hơn, sầu riêng bị rụng hàng loạt, làm giảm sản lượng khoảng 07 tấn,
nhưng ông H không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc này, đồng thời
không được ông Q thừa nhận.
Sau khi phun thuốc, nhận thấy tình hình không được cải thiện, ông H đã
bỏ mặc không tiếp tục chăm sóc vườn cây, trong khi cây sầu riêng là loại nông
sản mau hỏng, giảm chất lượng trong thời gian ngắn, khi đã gần đến ngày cắt
thu hoạch mà không được chăm sóc hoặc cắt kịp thời sẽ dẫn đến hư hỏng. Vì
vậy, việc ông H không tiếp tục thực hiện hợp đồng là nguyên nhân chính dẫn
đến việc mua bán không thành, Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông H là người vi
phạm thỏa thuận tại hợp đồng đặt cọc mua sầu riêng, nên đã bác đơn khởi kiện
của ông H về yêu cầu ông Q trả lại số tiền cọc 150.000.000 đồng là có căn cứ.
Việc ông Q phải cắt sầu riêng kịp thời và bán cho người khác là để giảm thiểu
thiệt hại, khi ông Q chỉ còn thu hoạch được 03 tấn sầu riêng là đã bị thiệt hại
nghiêm trọng so với thỏa thuận giá trị hợp đồng bán vườn sầu riêng cho ông H
với giá 520.000.000 đồng như ban đầu.
Do đó, HĐXX không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông
H, mà cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[2] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Phạm Quang
H phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Phạm Quang H;
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 26/2026/DS-ST ngày 08/6/2026
của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đắk Lắk.
[2] Căn cứ Điều 147, khoản 2 Điều 229 của Bộ luật tố tụng dân sự; các
Điều 117, Điều 328, Điều 351, Điều 352, Điều 420 của Bộ luật dân sự năm
2015; Điều 26, Điều 27, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[2.1] Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông
Phạm Quang H về việc yêu cầu tuyên Hợp đồng sầu riêng ngày 04/7/2025 giữa
bên bán ông Nguyễn Đình Q với bên mua ông Phạm Quang H vô hiệu; buộc ông
Nguyễn Đình Q phải trả lại cho ông Phạm Quang H số tiền đặt cọc vườn sầu
riêng là 150.000.000 đồng.
[2.2] Về án phí:
[2.2.1] Án phí sơ thẩm: Buộc ông Phạm Quang H phải chịu 7.500.000
đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 3.750.000 đồng tiền tạm ứng án
phí đã nộp theo biên lai thu số 0002067 ngày 10/10/2025 tại Thi hành án dân sự
tỉnh Đắk Lắk. Ông Phạm Quang H còn phải nộp 3.750.000 đồng tiền án phí dân
sự sơ thẩm.
7
[2.2.2] Án phí phúc thẩm: Ông Phạm Quang H phải chịu 300.000 đồng
tiền án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí
dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0000186 ngày 03/7/2026 tại Thi
hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TAND tối cao; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tối cao;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND Khu vực 8 – Đắk Lắk;
- Phòng THADS Khu vực 8 – Đắk Lắk; (Đã ký)
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Thị My My
8
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 470/2026/DS-PT Bản án số 470/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 470/2026/DS-PT Bản án số 470/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất