Bản án số 396/2026/DS-PT ngày 05/06/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 396/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 396/2026/DS-PT ngày 05/06/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 396/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 396/2026/DS-PT Bản án số 396/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 396/2026/DS-PT Bản án số 396/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 396/2026/DS -PT
Ngày: 05 - 6 - 2026
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Đinh Cẩm Đào
Các Thẩm phán: Nguyễn Thị Hiền
Hoàng Thị Hải
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Mỹ Nguyên, TTòa án nhân dân
tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Thúy Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụsố: 758/2025/TLPT-DS ngày 24 tháng 12
năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự thẩm số: 78/2025/DS - ST ny 30 tng 9 m 2025 của
a án nn dân Khu vực 8 - Mau, tỉnh Cà Mau bị kng o.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 184/2026/QĐ-PT ngày 24 tháng 02
năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1954; CCCD số:
************; Địa chỉ: ấp T, xã G, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền: Nguyễn Việt Q, sinh năm 1985; Địa chỉ:
số 42 K, khóm 2, phường V, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Bị đơn:
1. Ông Phạm Tấn A, sinh năm 1931, CCCD số: ************ (có mặt).
2. Ông Phạm Văn C, sinh năm 1985, CCCD số: ************ (có mặt).
Cùng địa chỉ: ấp T, xã G, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
1. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1948. Địa chỉ: ấp T, xã G, tỉnh Cà Mau (vắng
mặt).
2. Nguyễn Thị L, sinh năm 1952. Địa chỉ: ấp T1, G, tỉnh Mau (có
mặt).
3. Ông Nguyễn Minh C1, sinh năm 1961. Địa chỉ: ấp 10, K, huyện U1,
tỉnh Cà Mau (nay là xã N, tỉnh Cà Mau).
4. Nguyễn Thị U, sinh năm 1965. Địa chỉ: ấp T, G, tỉnh Mau (có
mặt).
5. Ông Trần Văn H, sinh năm 1958. Địa chỉ: ấp T, G, tỉnh Mau (có
mặt).
6. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1983. Địa chỉ: ấp T, G, tỉnh Mau
(vắng mặt).
7. Ủy ban nhân dân G. Địa chỉ: ấp 4, G, tỉnh Mau; đại diện theo
pháp luật: Ông Đặng Hoàng N1, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân G (vắng
mặt).
- Người kháng cáo: Ông Phạm Tấn A, bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày: Hơn 40 năm trước, mẹ ông là cụ
Trần Thị T1, sinh năm 1924 (chết năm 2022) có khai phá diện tích đất chiều ngang
dọc theo lộ kinh 36m, chiều dài 36m, tổng diện tích 1.296m
2
tại p T, L1,
huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. Sau khi, khai phá cụ T1 trực tiếp cải tạo, bồi lắp nền bằng
phẳng và quản sử dụng cất nhà ở, trồng trọt, chăn nuôi trên phần đất này. Đến
năm 1990, do mẹ ông tặng cho lại ông phần đất này để sử dụng canh tác. Năm
2015 ông T chuyển cho ông Trần Văn H diện tích đất ngang 18m x dài 36m.
Đến năm 2016, ông T tiếp tục chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn N diện tích
ngang 9m x dài 36m, khi chuyển nhượng do chưa được cấp giấy chứng nhận nên
các bên có ghi giấy tay, những người giáp ranh ký tên, trong đó có ông Tấn A.
Qua tìm hiểu cũng như liên hệ những người quen thì mới biết được ông
Phạm Tấn A được Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất s AH 141896 vào ngày 01/12/2007 với tổng diện tích
4991,3m
2
, đất thuộc thửa 355, 363 tờ bản đồ số 14; đất tọa lạc tại ấp T, L1,
huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Giấy chứng nhận đã cấp luôn phần đất 1.296m
2
của gia
đình ông). Đến ngày 18/10/2020, ông Phạm Tấn A tặng cho con ông Phạm Văn
C.
Từ các nội dung trên ông T yêu cầu Tòa án giải quyết: Hủy Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số AH 141896 đối với diện tích 1.296m
2
thuộc thửa đất số
355, 363 tờ bản đồ số 14 của ông Phạm Tấn A đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ,
tỉnh Bạc Liêu cấp vào ngày 01/12/2007. Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
giữa ông Phạm Tấn A ông Phạm Văn C đối với diện tích 1.296m
2
thuộc thửa
3
đất số 355, 363 tờ bản đồ số 14; đất tọa lạc tại ấp T, xã L1, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.
Bị đơn ông Phạm Văn C cũng là người đại diện cho bị đơn ông Phạm Tấn A
trình bày:
Nguồn gốc đất trước đây của ông nội ông Phạm Văn Thế cho cha ông
ông Phạm Tấn A vào năm 1990 quản sử dụng cho đến nay. Khi cho đất trồng
lúa, cha ông là người trực tiếp canh tác trồng lúa trên phần đất này. T1 mẹ
ruột của ông T nuôi vịt, kế ruộng lúa của cha ông, nên cha ông mới cho T1
mượn đnuôi gà, vịt khỏi phá lúa của cha ông. Sau khi bà T1 chết thì con
ông T tiếp tục sử dụng, do cho mượn nên chưa có lấy lại. Kế bên đất ông T thì cha
ông còn cho nhiều người khác đến như ông T1, X1, bà hai T2, sau đó những
người này chuyển đi nơi khác ở.
Khoảng tháng 10/2023 ông Trần Văn H đến cất nhà để ở trên chính phần đất
con ông T mới chuyển đi thì cha ông đã ra ngăn cản không cho cất nhưng ông
H cố tình khai phá, nên ông đã trình báo chính quyền địa phương thì được Công an
địa chính xuống lập biên bản không cho ông H cất nhà. Khoảng tháng
11/2023, vợ chồng ông Đ có qua gặp cha ông nói phần đất đã lỡ bán cho ông H rồi,
xin được trả đất lại cho ông, ông Đ trả lại đất cho cha ông còn tiền mua bán trả lại
cho ông H. Còn phần đất đã bán cho ông N thì ông Đ trả tiền lại cho ông N. Nghe
vậy cha ông cũng đồng ý.
Đến năm 1993 thì cha ông được Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu
cấp giấy chứng nhận quyên sử dụng đất, ngày 01/12/2007, thì được cấp lần 02 tại
giấy chứng nhận quyền sdụng đất số AH 141896; svào số 02424. Đến ngày
15/10/2020 cha ông tặng cho lại cho ông là Phạm Văn C đứng tên toàn bộ phân đất
này. Vì lý do trên nên ông không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T. Ngoài ra,
ông còn yêu cầu hủy hợp đồng mua bán đất giữa ông Nguyễn Văn T với ông Trần
Văn H vào năm 2015 hủy hợp đồng mua bán đất giữa ông Nguyễn Văn Đ với
ông Nguyễn Văn N vào năm 2016.
- Người có quyn li, nghĩa v liên quan ông Nguyễn Văn N trình bày:
Năm 2016 ông chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn T
anh Nguyễn Minh Đ 9m ngang, dài đến sông với giá 25.000.000 đồng. Việc
chuyển nhượng chỉ làm giấy tay vì ông Đ nói rằng giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đang thế chấp ngân hàng. Ông có đề nghị giao tiền để chuộc bằng khoán nhưng
ông T nói đợi đến thời điểm Ngân hàng giảm lãi thì nộp nên ông đã giao tiền cho
ông T và nhận đất quản lý cho đến nay.
Năm 2018 vợ chồng ông dựng chòi lá, đóng cây nước, nuôi heo đến năm
2021 thì cất nhà kiên cố. Khi cất nthì không ai ngăn cản, thậm chí con của ông
Tấn A là ông Phạm Văn C còn đứng ra nhận thầu xây nhà cho ông.
Nay ông Nguyễn Văn T kiện ông Phạm Tấn A và ông Phạm Văn C, yêu cầu
hủy giấy chứng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì ông
không ý kiến gì. Đồng thời, yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông với ông Nguyễn Văn T ông
4
Nguyễn Minh Đ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn H trình bày:
Năm 2015 ông mua đất của ông Nguyễn Văn T diện tích 18m ngang, dài đến
sông với giá 30.000.000 đồng. Việc chuyển nhượng chỉ làm giấy tay, giáp
ranh của các bên tứ cận (có chữ của ông Tấn A) ông T nói rằng giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp ngân hàng. Khi nhận chuyển nhượng, trên
đất đã có sẵn trụ ranh bằng đá (trong đó 3 trụ sau, 1 trụ trước) do ông T và ông Tấn
A cặm từ trước. Ông trồng 6 cây dừa giáp ranh với đất ông Tấn A, khi trồng
dừa ông Tấn A biết nhưng không nói gì. Đến tháng 12/2023 (âm lịch) ông dọn
phần đất này để đắp đất làm nền thì bị ông Tấn A ngăn cản.
Nay ông Nguyễn Văn T kiện ông Phạm Tấn A và anh Phạm Văn C, yêu cầu
hủy giấy chứng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì ông
không ý kiến gì. Ông yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa ông và ông Nguyễn Văn T.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị L,
Nguyễn Thị U thống nhất trình bày: Thống nhất lời khai của ông Nguyễn Văn T
về nguồn gốc, quá trình sử dụng, quản phần đất tranh chấp giữa ông Nguyễn
Văn T và ông Phạm Tấn A, anh Phạm Văn C.
Tại bản án dân sự thẩm số:78/2025/DS - ST ngày 30 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 8 Cà Mau.
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39;
các Điều 217, 227, 228 và 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 129, 133, 500,
615 của Bộ luật Dân sự; các Điều 95, 99, 100 203 Luật đất đai năm 2013 và
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T đối với ông Phạm
Tấn A và ông Phạm Văn C tranh chấp quyền sử dụng đất.
2. Buộc ông Phạm Tấn A và ông Phạm Văn C giao trả cho ông Nguyễn Văn
T diện tích 1.117,5m², phần đất tọa lạc ấp T, G, tỉnh Mau vị trí số đo
các cạnh cụ thể như sau:
- Hướng Đông giáp đất ông Phạm Tấn Đ1, cạnh dài 32,13m + 57,01m +
17,57m + 37,11m;
- Hướng Tây giáp lộ bê tông, cạnh dài 14,17m + 10,01m + 8,84m + 2,97m +
57,84m + 10m + 18,14m ;
- Hướng Nam giáp đất ông Phạm Tấn A, cạnh dài 2,99m + 51,71m;
- Hướng Bắc giáp đất ông Nguyễn Minh Đ, cạnh dài 7m + 27,47m + 2,75m.
5
3. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 141896 đối với diện tích
1.296m
2
thuộc thửa đất số 355, 363 tờ bản đồ số 14 của ông Phạm Tấn A đã được
Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu cấp vào ngày 01/12/2007.
4. Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Phạm Tấn A ông
Phạm Văn C đối với diện tích 1.296m
2
nêu trên.
5. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T
đối với diện tích 61,2m
2
và 117,3m
2
, đất tọa lạc tại ấp T, xã G, tỉnh Cà Mau.
6. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Phạm Tấn A và ông Phạm Văn
C yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn
T đối với ông Trần Văn H, ông Nguyễn Văn N.
7. Chấp nhận đình chỉ yêu cầu độc lập của ông Trần Văn H ông
Nguyễn Văn N về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất giữa Nguyễn Văn T đối với ông Trần Văn H, ông Nguyễn Văn N.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, lãi suất chậm trả, án phí và
quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 15/10/2025, ông Phạm Tấn A kháng cáo bản án thẩm, yêu cầu cấp
phúc thẩm xem xét sửa án thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa: Ông Tấn A giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, phần đất tranh
chấp của gia đình ông, ông được cấp quyền sử dụng đất ông đã tặng cho con
ông Phạm Văn C để vay tiền ngân hàng, giấy chứng nhận hiện nay đang thế
chấp tại ngân hàng P.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình
giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử những người tiến hành tố tụng, người
tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử
căn cứ khoản 3 Điều 308, 310 của Bộ luật tố tụng dân sự, hủy bản án dân sự
thẩm, giao hồ sơ về cho cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số AH 141896 đối với diện tích 1.117,5m², thuộc thửa đất số
355, 363 tờ bản đồ số 14 của ông Phạm Tấn A đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ,
tỉnh Bạc Liêu cấp vào ngày 01/12/2007. Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
giữa ông Phạm Tấn A và ông Phạm Văn C đối với diện tích 1.117,5m² nêu trên
Ông Tấn A, ông C không đồng ý, án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của ông T. Nên ông Tấn A kháng cáo.
6
[2] Kháng cáo của ông Phạm Tấn A thực hiện trong hạn luật định, nộp
tạm ứng án phí đúng hạn nên kháng cáo của các đương sự hợp lệ, được xem xét
theo trình tự phúc thẩm.
[3] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: phần đất
các đương sự đang tranh chấp diện tích 1.117,5m². Theo đơn khởi kiện đề ngày
26/3/2024, ông Nguyễn Văn T yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số AH 141896 cấp ngày 04/12/2007 diện tích 4.991,3m2 cấp cho ông
Phạm Tấn A đối với diện tích 1.117,5m² thuộc thửa đất số 355, 363 tờ bản đồ số 14
của ông Phạm Tấn A đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu cấp vào
ngày 01/12/2007. Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Phạm Tấn A
và ông Phạm Văn C đối với diện tích 1.117,5u trên. Sau khi có kết quả đo đạc
diện tích 1.234,8m
2
ông T rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với diện tích ông
C đang quản lý là 100,2 và 17,1 tổng diện tích 117,3m
2
do ông C đang sử dụng.
[3.1] Qua các chứng cứ tại hồ sơ Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ
ngày 05/6/2024 và trích đo (bản vẽ) thể hiện phần đất diện tích 1.234,8m
2
; trong đó
283,4m
2
thửa 355, tờ bản đồ số 14 và 951,4m
2
tại thửa 363, tờ bản đồ số 14 tọa lạc
tại ấp T, L1, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (diện tích 225,7m
2
do ông Nguyễn Văn N
đang sdụng; diện tích 465,7m
2
do ông Trần Văn H đang sử dụng diện tích
117,3m
2
do ông Phạm Văn C đang sử dụng).
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm ông Phạm Tấn A xác định đối với phần đất
tranh chấp ông đã tặng cho con ông là Phạm Văn C và ông C đã được cấp quyền sử
dụng đất thế chấp quyền sử dụng đất để vay tiền tại Ngân hàng TMCP P. Tòa án
có tiến hành làm việc với Ngân hàng TMCP P chi nhánh Bạc Liêu được ngân hàng
trả lời tại công văn số 38/2026/CV OCB ngày 12/5/2026, nội dung công văn thể
hiện việc Tòa án giải quyết hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ảnh hưởng
đến quyền lợi của Ngân hàng nên Ngân hàng đề nghị được đưa ngân hàng vào
tham gia tố tụng để ngân hàng yêu cầu nhằm đảm bảo quyền lợi ngân hàng.
[4.2] Tuy nhiên trong quá trình giải quyết ở giai đoạn sơ thẩm, đương sự chỉ
cung cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Tấn A đứng tên hợp đồng
tặng cho con ông C. Các đương sự không cung cấp thông tin liên quan đến việc
ông C đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thế chấp cho Ngân
hàng. Việc không cung cấp thông tin đầy đlỗi của các đương sự dẫn đến việc
cấp thẩm không đưa Ngân hàng vào tham gia tố tụng làm ảnh hưởng quyền lợi
của ngân hàng. Do thiếu người tham gia tố tụng Ngân hàng liên quan đến
việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp tại ngân hàng làm ảnh
hưởng đến quyền lợi của ngân hàng nên cấp phúc thẩm không thể khắc phục được
phải hủy toàn bộ bản án thẩm, giao hồ về cho cấp thẩm giải quyết lại
theo thủ tục chung.
[5] Do hủy án sơ thẩm nên không xem xét kháng cáo của ông Tấn A.
7
[5.1] Đối với chi phí tố tụng án pthẩm sẽ được xem xét giải quyết
khi Tòa án khu vực 8 Cà Mau thụ lý giải quyết lại vụ án.
[5] Đề nghcủa đại diện Viện kiểm sát đnghị hủy bản án thẩm của Tòa
án nhân dân khu vc 8 Mau phù hợp với nhận định căn cứ nên Hội đồng
xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
n cứ khoản 3 Điều 308, 310 Bộ luật T tụng dân sự; Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Hủy Bản án dân sự thẩm số:78/2025/DS - ST ngày 30 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 8 Cà Mau.
Giao hồ về Tòa án nhân dân khu vực 8 Mau giải quyết lại theo thủ
tục chung.
Chi phí tố tụng án phí thẩm sẽ được giải quyết khi Tòa án thụ giải
quyết lại vụ án
Án phí phúc thẩm: ông Phạm Tấn A không phải chịu.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 8 - Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đinh Cẩm Đào
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 396/2026/DS-PT Bản án số 396/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 396/2026/DS-PT Bản án số 396/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất