Bản án số 314/2026/DS-PT ngày 11/06/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 314/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 314/2026/DS-PT ngày 11/06/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 314/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: y án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 314/2026/DS-PT Bản án số 314/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 314/2026/DS-PT Bản án số 314/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐẮK LẮK Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 314/2026/DS-PT
Ngày: 11 - 6 - 2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị My My
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hải Âu và ông Phạm Cao Gia
- Thư phiên toà: Ông Hoàng n Nam - Thư Toà án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk: Trương Thị Thu Thủy
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 11 tháng năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 70/2026/TLPT-DS ngày 19 tháng 3
năm 2026 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số: 32/2025/DSST ngày 31/12/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 5 - Đắk Lắk bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra t xử phúc thẩm số: 240/2026/QĐ-PT ngày
21 tháng 4 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số: 296/2026/QĐ-PT ngày
11/5/2026; Thông báo “V/v chuyển lịch xét xử vụ án n sự phúc thẩm số
29/2026/TB-TA ngày 01/6/2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh M, sinh năm 1996. Có mặt
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh M1, sinh
năm 1960. Có mặt
Cùng địa chỉ: Số nhà A xóm C, thôn H- E, xã E, tỉnh Đắk Lắk.
2. Bị đơn: Ông Hoàng Phạm V, sinh năm 1996 (Có mặt), Nguyễn Thị
Thu N, sinh năm 1996 (Vắng mặt); địa chỉ: Số nhà A, xóm C, thôn H-E, xã E, tỉnh
Đắk Lắk.
Người đại diện theo ủy quyền của N: Vương Thị L, sinh năm 1966;
địa chỉ: Số nhà A, xóm B, thôn H- E, xã E, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thanh M1, sinh năm
1960; địa chỉ: Số nhà A xóm C, thôn H- E, xã E, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh M
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn ông
Nguyễn Thanh M1 trình bày:
Nguồn gốc thửa đất số 431a, tờ bản đồ 14a, diện tích 380 m
2
tại E, huyện
K, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk) do hộ ông Nguyễn Thanh M1 để thừa
kế cho ông Nguyễn Thanh M, được đăng biến động thay đổi chủ sở hữu vào
ngày 01/7/2020.
Trước đây thửa đất này nguồn gốc năm 1991 ông Nguyễn Thanh M1 làm
đơn xin của nông trường 3, thuộc nghiệp L3 phê. Sau khi xin đất thì đất chưa
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, năm 1994 ông M1 đã xây ncấp 4
trên thửa đất nhưng không xây hết đất, vào năm 2000 thửa đất trên đã bị ông Phạm
L1 lấn chiếm. Sau khi ông Phạm Luyến L2 đất của ông M1 vào năm 2000 thì ông
L1 không xây nhà chuyển nhượng lại cho ông Phạm Ngọc S Nguyễn Thị
Phương T. Sau khi ông S T nhận chuyển nhượng đất của ông L1 thì xây
nhà cấp 4 vào năm 2000 đã xây lên phần diện tích đất của ông M1 khoảng 20
m
2
(theo kết quả đo là 21,83 m
2
), thời điểm năm 2000 thì ông M1 có nhiều lần làm
đơn ra nghiệp phê Ủy ban nhân dân huyện K để giải quyết tranh chấp
nhưng không được giải quyết (nhưng ông M1 không khởi kiện ra tòa án), đến ngày
16/8/2002 đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 380 m
2
.
Đến cuối năm 2024 thì ông Phạm Ngọc S Nguyễn Thị Phương T đã
chuyển nhượng thửa đất cho ông Hoàng Phạm V Nguyễn Thị Thu N hiện
nay được biết ông Phạm Ngọc S và bà Nguyễn Thị Phương T đã sang Mỹ định cư,
địa chỉ cụ thể thì không biết, còn ông Phạm L1 sau khi chuyển nhượng đất cho ông
Phạm Ngọc SNguyễn Thị Phương T thì ông Phạm L1 đã chết vào năm 2022
và đã được gia đình đưa về quê mai táng.
Lúc vợ chồng nhà ông Hoàng Phạm V bà Nguyễn Thị Thu N nhận chuyển
nhượng đất, thì trên đất đã 01 căn nhà cấp 4 1 khúc tường rào đuôi nhà
ông M o dài đến hết đất. Khúc tường rào này một đoạn nhxây dựng lấn
sang đất nhà ông M. Nhà tường rào do ông S T xây dựng vào năm 2000
lấn chiếm đất 21,83 m
2
. Sau khi vợ chồng ông V, N nhận chuyển nhượng đất
của ông S, bà T xong thì đã phá bỏ nhà cấp 4 vào cuối năm 2024, nhưng ông V, bà
N lại xây căn nhà mới trên nền móng nhà cấp 4 do ông S, bà T xây dựng từ năm
2000 mà không chịu trả lại phần diện tích đất mà trước đấy chủ cũ là ông Phạm L1
đã lấn đất.
Do vậy, ông Nguyễn Thanh M yêu cầu ông Hoàng Phạm V và bà Nguyễn Thị
Thu N phải trả lại diện tích đất theo kết quả đo của Công ty TNHH T1 21,83 m
2
tứ cận như sau: Phía Đông giáp đất ông Nguyễn Thanh M dài 2,28 mét; Phía
Tây giáp đất ông Hoàng Phạm V và bà Nguyễn Thị Thu N dài 1,10 mét; Phía Nam
giáp ông Nguyễn Thanh M dài 13,31 mét; Phía Bắc giáp ông Hoàng Phạm V
Nguyễn Thị Thu N dài 12.90 mét mà trước đây ông Phạm L1 đã lấn đất từ năm
2000, sau đó chuyển nhượng cho ông S T, ông S T chuyển nhượng cho
ông V, bà N.
* Bị đơn ông Hoàng Phạm V, bà Nguyễn Thị Thu N trình bày:
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, ông Phạm Ngọc S Nguyễn Thị Phương T
đã chuyển nhượng thửa đất số 260 tờ bản đồ số 58 tại xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk
(nay E, tỉnh Đắk Lắk) cho vợ chồng ông Hoàng Phạm V Nguyễn Thị
3
Thu N. Khi nhận chuyển nhượng, trên đất đã 01 căn nhà cấp 4 hàng rào bao
quanh. Ông V hỏi ông Phạm Ngọc S Nguyễn Thị Phương T tđược biết
căn nhà cấp 4 này đã được xây từ năm 2000. Tổng diện tích đất chuyển nhượng
340m
2
trong đó 230m
2
đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
110m
2
diện tích đất tăng thêm. Khi nhận chuyển nhượng đất giáp ranh các
bên không tranh chấp. Các hộ gia đình liền kề (trong đó ông Nguyễn
Thanh M) không có ý kiến gì về hiện trạng ranh giới tại thời điểm ký giáp ranh.
Hiện nay, ông Phạm Ngọc S Nguyễn Thị Phương T đã sang Mỹ định
cư, địa chỉ cụ thể thì không biết, còn ông Phạm L1 sau khi chuyển nhượng đất cho
ông Phạm Ngọc S Nguyễn Thị Phương T thì ông Phạm L1 đã chết vào năm
2022 và đã được gia đình đưa về quê mai táng.
Ngày 16/10/2024, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K đã cấp Giấy
chứng nhận quyền sở hữu đất đối với thửa đất số 260 tờ bản đồ số 58 tại E,
huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay E, tỉnh Đắk Lắk) cho ông Hoàng Phạm V
Nguyễn Thị Thu N.
Đối với phần diện tích tăng thêm giáp ranh với nhà ông Nguyễn Thanh M
thì không ai có tranh chấp gì. Ngày 01/10/2025, ông Hoàng Phạm VNguyễn
Thị Thu N đập bỏ nhà cấp 4 để xây nhà mới trên móng nhà thì nhà ông
Nguyễn Thanh M phát sinh tranh chấp cho rằng phần diện tích đất này ông Phạm
L1 chủ đã lấn đất của ông M1, sau đó chuyển nhượng cho ông S, T, rồi
ông S bà T chuyển nhượng cho ông Hoàng Phạm V Nguyễn Thị Thu N, thì
ông bà không đồng ý trả lại diện tích đất 21,83 m
2
ông Nguyễn Thanh M yêu
cầu. Vì khi mua đất, phần đất nói trên đã có nhà và tường xây từ năm 2000.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 32/2025/DSST ngày 31/12/2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 5 - Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản
1 Điều 157; khoản 1 Điều 158; khoản 1 Điều 165; khoản 1 Điều 166; Điều 266;
Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số
85/2025/QH15, ngày 25/6/2025 của Quốc hội về Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành
niên, Luật phá sản Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Căn cứ Điều 175 Bộ luật
dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 4, khoản 1, khoản 10 Điều 11, Điều 26, Điều 31
của Luật đất đai năm 2024; Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH-14 ngày
30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh M, đối với yêu
cầu buộc ông Hoàng Phạm V và bà Nguyễn Thị Thu N phải trả lại diện tích đất lấn
chiếm theo kết quả đo của Công ty TNHH T1 21,83 m
2
tứ cận như sau: Phía
Đông giáp đất ông Nguyễn Thanh M dài 2,28 mét; Phía Tây giáp đất ông Hoàng
Phạm VNguyễn Thị Thu N dài 1,10 mét; Phía Nam giáp ông Nguyễn Thanh
M dài 13,31 mét; Phía Bắc giáp ông Hoàng Phạm V Nguyễn Thị Thu N dài
12,90 mét.
4
Các đương squyền nghĩa vụ liên hệ với quan nhà nước thẩm quyền
để điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đúng với hiện trạng và
diện tích đất đang sử dụng thực tế.
Ngoài ra, Tòa án cấp thẩm còn tuyên về chi ptố tụng, về án phí
quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 08/01/2026 nguyên đơn ông Nguyễn Thanh M kháng cáo toàn bộ bản
án sơ thẩm.
Tại phiên tòa nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện nội dung kháng
cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan
điểm về vụ án:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét
xử, Thư ký, các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh M không
căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2015 - Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án dân
sự thẩm số 32/2025/DSST ngày 31/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 -
Đắk Lắk.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa,
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên sở xem xét đầy đcác tài liệu
chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét
xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh M nộp đơn kháng
cáo trong hạn luật định và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem xét
theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lại diện
tích đất theo kết quả đo đạc là 21,83m2, Hội đồng xét xử, xét thấy:
Phần diện tích đất nguyên đơn cho rằng bị lấn chiếm nguồn gốc do
ông Phạm L1 sử dụng từ trước năm 2000, sau đó chuyển nhượng cho vợ chồng
ông S, bà T. Năm 2000, ông S, bà T đã xây dựng nhà cấp 4 và tường rào kiên cố sử
dụng ổn định đến ngày 30/9/2024, thì chuyển nhượng cho bị đơn. Khi nhận chuyển
nhượng, hiện trạng đất ntường rào bao quanh, không phát sinh tranh
chấp. Ngày 16/10/2024, ông V, bà N được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đối với thửa đất số 260, tờ bản đồ số 58. Ngày 01/10/2025, ông V, bà N phá bỏ nhà
cũ, xây nhà mới trên nền móng cũ thì mới phát sinh tranh chấp (hiện trạng hiện nay
nền móng nhà cũ đang còn tồn tại).
Tại phiên tòa nguyên đơn cho rằng, diện tích đất tranh chấp của nguyên
đơn nhưng khi xây nhà không xây dựng hết đất. Tuy nhiên, năm 2002 khi khai
để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại không khai phần diện tích này.
Ngày 16/8/2002 ông M1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa
đất s431a với diện ch 380 m
2
nhưng không ý kiến đối với quyền sử dụng
5
đất được cấp nên lời trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa không sở để
chấp nhận. Hiện nay, nguyên đơn đang sử dụng diện tích đất thực tế (507,49m
2
)
lớn hơn rất nhiều diện tích đất được cấp Giấy CNQSD đất (380m
2
). Theo kết quả
đo vẽ xác định diện tích đất tranh chấp 21,83 m
2
không thuộc thửa đất số 431a,
của nguyên đơn thửa đất s260, của bị đơn. Nhưng đã được bị đơn kế thừa
quyền sử dụng đất liên tục từ những chủ sủ dụng đất trước đây sử dụng ổn định
không hành vi lấn chiếm đất. Do đó, nguyên đơn ông M cho rằng, bị đơn vợ
chồng ông V, N lấn chiếm đất yêu cầu bị đơn phải trả lại diện tích đất theo
kết quả đo đạc là 21,83m
2
là không có căn cứ để chấp nhận. Bản án sơ thẩm đã bác
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp.
[3] Từ những phan tích nhận định trên, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1
Điều 308 B luật t tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của
nguyên đơn ông Nguyễn Thanh M, giữ nguyên bản án dân sự thẩm số
32/2025/DSST ngày 31/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đắk Lắk.
[4] Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Thanh M phải chịu án phí dân sự
phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
[1] Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh M
Giữ nguyên bản án dân sự thẩm số 32/2025/DSST ngày 31/12/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 5 - Đắk Lắk.
[2] Về án phí n sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Thanh M phải chịu 300.000
đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ vào số tiền
300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số
0000666 ngày 19/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
[3] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, không bị
kháng o, kháng nghị hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo
kháng nghị.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Đắk Lắk; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND khu vực 5-Đắk Lắk;
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- Phòng THADS khu vực 5; (Đã ký)
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Thị My My
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 314/2026/DS-PT Bản án số 314/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 314/2026/DS-PT Bản án số 314/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất