Bản án số 411/2026/DS-PT ngày 10/06/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 411/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 411/2026/DS-PT ngày 10/06/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 411/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: ông Đinh văn b khởi kiện tranh chấp HĐCNQSDD bà Trần Thị B1
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 411/2026/DS-PT Bản án số 411/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 411/2026/DS-PT Bản án số 411/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 411/2026/DS-PT
Ngày: 10-6-2026
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất;
Tranh chấp hợp đồng CNQSDĐ
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nhung
Các Thẩm phán: Bà Đinh Thị Quý Chi
Bà Phạm Thị Xuân Đào
Thư phiên tòa: Nguyễn Thanh Minh - Thư Tòa án nhân dân
Thành phố Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Nai tham gia phiên
tòa: Bà Vũ Hồng Uyên - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2026, tại Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Nai xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 802/2025/TLPT-DS ngày 24 tháng 12
năm 2025 về việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất; tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án sơ thẩm số: 253/2025/DS-ST ngày 15-9-2025 của Tòa án nhân
dân Khu vực 1- Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 185/2026/QĐ-PT
ngày 03 tháng 3 năm 2026 Thông báo mở lại phiên tòa số 91/TB-TA ngày
28/5/2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Đinh Xuân B, sinh năm 1994;
Địa chỉ: Số D, khu A, ấp T, xã B, huyện V, tỉnh Đồng Nai (nay là phường
T, Thành phố Đ).
Người đại diện hợp pháp: Ông Hồ Văn N, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Số E N, phường T, Thành phố Đ là người đại diện theo ủy quyền.
2. Bị đơn: Bà Trần Thị B1, sinh năm 1950.
Người đại diện hợp pháp: Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1967.
Cùng địa chỉ: Số C, tổ A, ấp Đ, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai
(nay là Khu phố Đ, phường B, Thành phố Đ) là người đại diện theo ủy quyền.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Phan Đình
Bảo T - Đoàn Luật sư Thành phố Đ.
2
Địa chỉ: Số B, đường C, phường T, Thành phố Đ.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Đinh Văn T1, sinh năm 1963.
Địa chỉ: Khu T, phường H, tỉnh Bắc Ninh.
Người đại diện hợp pháp: Bà Lê Thị Hồng H1, sinh năm 1972.
Địa chỉ: K, khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là
Khu phố B, phường B, Thành phố Đ).
3.2. Ông Đinh Văn T2, sinh năm 1978;
3.3. Bà Đinh Thị T3, sinh năm 1962;
Cùng địa chỉ: Khu phố B, phường B, Thành phố Đ.
Người đại diện hợp pháp của ông T2, bà T3: Ông Ngọc H2, sinh năm
1977 là người đại diện theo ủy quyền.
Địa chỉ: Số I, tổ A, khu phố F, phường T, Thành phố Đ.
3.4. Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1960;
3.5. Ông Nguyễn Văn H3, sinh năm 1992;
Cùng địa chỉ: Khu phố B, phường B, Thành phố Đ.
(Địa chỉ cũ: K, khu phố B, phường B, thành phố B).
3.6. Bà Đỗ Thị Ánh H4, sinh năm 1963;
Địa chỉ: Khu phố B, phường B, Thành phố Đ.
(Địa chỉ cũ: K3/25, khu phố C, phường B, thành phố B).
3.7. Ông Đỗ Văn G, sinh năm 1966;
Địa chỉ: Khu phố B, phường B, Thành phố Đ.
(Địa chỉ cũ: K1/16A, khu phố C, phường B, thành phố B).
3.8. Bà Đỗ Thị N1, sinh năm 1974;
Địa chỉ: Khu phố B, phường B, Thành phố Đ.
(Địa chỉ cũ: K1/16A, khu phố C, phường B, thành phố B).
3.9. Ông Đỗ Văn L, sinh năm 1976;
Địa chỉ: Khu phố B, phường B, Thành phố Đ.
(Địa chỉ cũ: K1/16A, khu phố C, phường B, thành phố B).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn Đinh Xuân B người đại diện theo ủy quyền ông Hồ
Văn N trình bày:
Cha mcủa ông Đinh Xuân B ông Đinh Văn T1 Đỗ Thị L1 khai
phá được một phần diện tích đất tại phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Năm
1998, mẹ của ông sang nhượng cho Trần Thị B1 diện tích đất 525m
2
, thửa
đất số 112 (số 228), tbản đồ số 03
với giá 60 chỉ vàng 24K. B1 đã trả
trước 40 chỉ vàng 24k và 3.000.000 đồng. Việc chuyển nhượng thực hiện bằng
3
giấy tmua bán tay, không được công chứng, chứng thực bởi quan thẩm
quyền nên không thể thực hiện sang tên theo quy định pháp luật.
Năm 2003, bà Trần Thị B1 khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố
Biên Hòa giải quyết tranh chấp “Hợp đồng mua bán nhà”, khi vụ án đang được
giải quyết thì mẹ của ông chết vào ngày 06/10/2004. Năm 2005, B1 tiếp tục
khởi kiện yêu cầu những người thừa kế của mẹ ông tiếp tục thực hiện hợp đồng
theo quy định. Ngày 01/9/2005, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đưa vụ án
ra xét xử ra bản án số: 376/2005/DS-ST tuyên xử: Bác yêu cầu khởi kiện của
Trần Thị B1. Hủy hợp đồng mua bán nhà giữa Đỗ Thị L1 với Trần Thị
B1 được ký kết ngày 06/9/1998...”.
Không đồng ý với bản án thẩm, B1 kháng cáo. Nhưng sau đó
Trần ThB1 t đơn kháng cáo rút đơn khởi kiện, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng
Nai ra quyết định hủy đình chỉ giải quyết vụ án. Hiện nay, thửa đất đang tranh
chấp vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Một phần thửa đất
Trần Thị B1 đang quản lý cho thuê, phần còn lại do ông Đinh Văn T2 quản lý,
sử dụng.
Hiện nay hàng thừa kế thứ nhất của mẹ ông chỉ còn ông và cha ông là ông
Đinh Văn T1. Ông ngoại ông ông Đỗ Văn B2 đã chết năm 2012, ngoại ông
Nguyễn Thị H5 chết năm 1989, ngoài những người thừa kế trên mẹ ông
không còn người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất nào khác.
Ông Đinh Xuân B khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất giữa Đỗ Thị L1 Trần Thị B1 vào ngày 06/9/1998, đối với
diện tích đất 525m
2
, thửa số 112 (số 228), tờ bản đồ số 03, tại phường B, với
giá 40 chỉ vàng 24K 3.000.000 đồng. B1 trả lại cho ông B quyền sử dụng
diện tích đất trên ông B strả lại cho B1 40 chỉ vàng 24K 3.000.000
đồng.
Buộc Trần Thị B1 tháo dỡ công trình xây dựng trên đất, để trả lại đất
cho ông Đinh Xuân B.
* Bị đơn Trần Thị B1 người đại diện theo ủy quyền Nguyễn Thị
Kim H trình bày:
Ngày 06/09/1998 B1 nhận chuyển nhượng nhà đất của Đỗ Thị
L1, sinh năm 1970, địa chỉ: K, ấp T, phường B, thành phố B thuộc thửa đất số
228 (cũ), tờ bản đồ 2, phường B, với giá trị 40 chỉ vàng (24K), giấy chuyển
nhượng nhà đất, được Ủy ban nhân dân phường B chứng thực; cụ thể như sau:
Căn nhà cấp 4 diện tích xây dựng 54m
2
(ngang 10m, sâu 5,4m) nằm
trên đất có tổng diện tích 525m
2
(ngang 15m, dài 30m).
Sau khi nhận chuyển nhượng từ Đỗ Thị L1 tB1 trực tiếp quản lý,
đổ đất, nâng nền để sử dụng như hiện trạng hiện nay.
4
Sau đó B1 liên hệ Ủy ban nhân dân phường B đđăng khai
đối với phần diện tích đất này nhưng được Ủy ban nhân dân phường T5 giấy tờ
mua bán chuyển nhượng đã được Ủy ban nhân dân phường C chưa có chủ trương
cho đăng khai nên chờ đợt thì đăng luôn. Hằng năm B1 đóng
thuế cho Nhà nước.
Việc chuyển nhượng giữa bà B1 Đỗ Thị L1 hoàn toàn tự nguyện,
không bị ép buộc, lừa dối, bà B1 cũng đã thanh toán 40 chỉ vàng 3.000.000
đồng (tương đương 10 chỉ vàng). Hai bên cũng đã tiến hành bàn giao thửa đất, bà
B1 đã quản lý, sử dụng hàng năm có đóng thuế cho Nhà nước.
Trần Thị B1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Xuân
B và không đồng ý với yêu cầu độc lập của ông Đinh Văn T2, bà Đinh Thị T3.
Trần Thị B1 khởi kiện phản tố yêu cầu:
1. Yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
06/09/1998 giữa bà Đỗ Thị L1Trần Thị B1.
2. Yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất thửa đất 112, tờ bản đồ số 3,
phường B, thành phố B, nay phường B, Thành phố Đ diện tích 525m
2
cho
B1.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Văn T1 do Thị
Hồng H1 đại diện ủy quyền trình bày:
Cha mcủa ông Đinh Xuân B ông Đinh Văn T1 Đỗ Thị L1 khai
phá được một phần diện tích đất tại phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Năm
1993, sau khi bà L1 sinh con được 02 tháng thì ông T1 bỏ nhà ra đi, không biết đi
đâu. Do con còn nhỏ L1 bệnh đau khớp nên cuộc sống rất khó khăn,
vậy L1 đã mượn tiền của Trần Thị B1. Sau đó không tiền đtrả cho
B1 nên L1 đã sang nhượng cho bà B1 diện tích đất 525m
2
, thuộc thửa số
112 (thửa cũ là 228), tờ bản đồ số 03 với giá 60 chỉ vàng 24k. Bà B1 đã đưa trước
40 chỉ vàng 24k 3.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận khi nào xong thủ tục mua
bán thì B1 sẽ giao tiếp phần còn lại nhưng việc mua bán không thành. Việc
chuyển nhượng bằng giấy tay, không có công chứng, chứng thực bởi cơ quan Nhà
nước thẩm quyền nên không ththực hiện chuyển quyền, sang tên theo quy
định pháp luật.
Năm 2003, bà Trần Thị B1 đã khởi kiện bà Đỗ Thị L1 tại Tòa án nhân dân
thành phố Biên Hòa. Khi vụ án đang được giải quyết thì bà L1 chết. Năm 2005,
B1 tiếp tục khởi kiện, yêu cầu những người thừa kế của L1 phải tiếp tục
thực hiện Hợp đồng mua bán theo quy định. Ngày 01/9/2005 Tòa án nhân dân
thành phố Biên Hòa đã đưa vụ án ra xét xử ra Bản án số: 376/2005/DS-ST.
Theo nội dung bản án, Tòa án đã không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của B1,
hủy hợp đồng mua bán nhà giữa bà Đỗ Thị L1 và bà Trần Thị B1.
H1 đại diện ông Đinh Văn T1 yêu cầu: Ông Đinh Văn T1 đồng ý với
yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Xuân B, yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa Đỗ Thị L1 Trần Thị B1 vào ngày 06/9/1998 đối
5
với diện tích 525m
2
, thửa số 112 (số cũ 228), tờ bản đồ số 03, tại phường B, thành
phố B, tỉnh Đồng Nai với giá 60 chỉ vàng 24k. Ông Đinh Xuân B sẽ trả lại cho bà
B1 40 chỉ vàng 24k và số tiền 3.000.000 đồng. Ông T1 không đồng ý với yêu cầu
phản tố của bà Trần Thị B1; không đồng ý với yêu cầu độc lập của ông Đinh Văn
T2, bà Đinh Thị T3.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Văn T2, Đinh Thị
T3 có đơn khởi kiện độc lập do ông Vũ Ngọc H2 đại diện theo ủy quyền trình bày:
Nguồn gốc toàn bộ thửa số 112 (số 228), tờ bản đồ số 03, phường B,
thành phố B, nay phường B, tỉnh Đồng Nai diện tích 794,5m
2
thuộc
quyền sdụng của ông Đinh n S được anh ông Nguyễn Đình Q cho; ông S
đã xin phép thông qua tờ trình số 103/UB/TT ngày 19/7/2021 của UBND phường
B. Sau khi được cho đất ông S đã quản lý sử dụng ổn định, đã đi đăng khai
xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc ông Đinh Văn T1, Đỗ Thị
L1 ttrên đất do ông S cho nhờ trên đất vào năm 1991; ông T1, L1
xây căn nhà diện tích 60m
2
. Năm 1993 ông T1, L1 đã bỏ đi nơi khác. Năm 1998
Đỗ Thị L1 lập giấy sang nhượng đất cho bà B1. Trần Thị B1 lấn chiếm đất
từ năm 2013.
Ông Đinh Văn T2, Đinh Thị T3 đồng ý với một phần yêu cầu của ông
Đinh Xuân B về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
Đỗ Thị L1 và bà Trần Thị B1 vào ngày 06/9/1998.
Ông Đinh Văn T2, Đinh Thị T3 không đồng ý với yêu cầu phản tố của
Trần Thị B1.
Ngày 18/9/2015, ông Đinh Văn T2 Đinh Thị T3 đơn khởi kiện
yêu cầu độc lập yêu cầu:
Công nhận phần diện tích đất 525m
2
, thửa số 112 (số 228), tbản đồ
số 03, tại phường B, thành phố B; nay phường B, Thành phố Đ là thuộc quyền
sử dụng của gia đình ông T2, bà T3.
Yêu cầu tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất giữa
Đỗ Thị L1 Trần Thị B1, buộc Trần Thị B1 phải trả lại đất cho gia đình
ông Đinh Văn T2, bà Đinh Thị T3.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T4, ông
Nguyễn Văn H3 trình bày:
Đồng ý với yêu cầu của ông Đinh Xuân B, yêu cầu Tòa án giải quyết hủy
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Đỗ Thị L1 và Trần Thị
B1 vào ngày 06/9/1998, đối với diện tích 525m
2
, thửa số 112 (số 228), tbản
đồ s03, tại phường B, thành phố B (nay phường B, Thành phố Đ) với giá 60
chỉ vàng 24k. Ông Đinh Xuân B sẽ trả lại cho B1 40 chỉ vàng 24K số tiền
3.000.000 đồng.
Đề nghị Tòa án công nhận phần diện tích đất 525m
2
, thửa số 112 (số
228), tờ bản đồ số 03, tại phường B, thành phố B; nay là phường B, Thành phố Đ
thuộc quyền sử dụng của gia đình ông T2, T3. Yêu cầu tuyên hủy hợp đồng
6
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Đỗ Thị L1Trần Thị B1, buộc bà
Trần Thị B1 phải trả lại đất cho gia đình bà Đinh Thị T3 và ông Đinh Văn T2.
* Những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đỗ Thị Ánh H4, ông
Đỗ Văn G, Đỗ Thị N1 thống nhất trình bày: Phần diện tích các bên đang
tranh chấp có nguồn gốc là của bà Đỗ Thị L1 và ông Đinh Văn T1 khai phá. Năm
1998, L1 sang nhượng một phần diện tích đất cho B1. Tuy nhiên, đến
nay bà B1 vẫn chưa thanh toán hết tiền cho gia đình bà L1. Việc ký kết hợp đồng
giữa các bên không được công chứng, chứng thực. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của ông Đinh Xuân B, tuyên hợp đồng chuyển nhượng giữa Đỗ
Thị L1 và bà Trần Thị B1 là vô hiệu, yêu cầu bà B1 trả lại đất cho gia đình bà L1.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn L không ý kiến
trình bày.
Tại Bản án số: 253/2025/DS-ST ngày 15-9-2025 của Tòa án nhân dân
Khu vực 1- Đồng Nai đã căn cứ các Điều 116, 117, 119, 122, 123, 131, 357, 468,
688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 30 Luật Đất đai năm 1993; Điều 202
Luật Đất đai năm 2013; Điều 235 Luật Đất đai năm 2024; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 về
án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Xuân B về việc tranh chấp
hợp đồng chuyển nhượng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà Trần Thị B1.
Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Đinh Văn T2, Đinh Thị
T3.
Tuyên bố Giấy sang nhượng nhà đất ngày 06/9/1998 giữa Đỗ Thị L1
và bà Trần Thị B1 vô hiệu.
Buộc bà Trần Thị B1 phải trả lại cho ông Đinh Xuân B diện ch đất
476,8m
2
giới hạn bởi các mốc 17,18,19,20,1,21,22,23,4,24,25,26,27,17 thuộc thửa
112, tờ bản đồ số 3, phường B, thành phố B (nay là phường B, tỉnh Đồng Nai) tại
Trích lục bản đồ hiện trạng khu đất ngày 17/6/2025 của Văn phòng Đăng đất
đai tỉnh Đ Chi nhánh B3 01 nhà (đã hỏng, không còn sdụng), theo
Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 31/8/2025 của Tòa án.
Buộc bà Trần Thị B1 phải tháo dỡ công trình xây dựng trên đất nhà
kết cấu mái tôn, vách tôn, cột sắt, cửa sắt, nền bê tông diện tích xây dựng
407.54m
2
theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 31/8/2025 bản vẽ
hiện trạng nhà ngày 15/9/2015 của Văn phòng Đăng đất đai tỉnh Đ Chi
nhánh B3.
Ông Đinh Xuân B phải thanh toán, hỗ trợ cho bà Trần Thị B1 tổng số tiền
835.0000.000 đồng.
7
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Trần Thị B1 về việc tranh
chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tranh chấp quyền sử dụng
đất với ông Đinh Xuân B.
3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện độc lập của ông Đinh Văn T2, Đinh Thị
T3 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Đinh Xuân B, bà Trần Thị B1.
Ngoài ra, bn án còn tuyên v chi phí t tng, án phí, quyn kháng cáo
của các đương sự.
Ngày 15/9/2025, b đơn Trần Thị B1 kháng cáo đ ngh Tòa án cp
phúc thm sửa án thẩm theo hướng chp nhn yêu cu phn t ca b đơn,
không chp nhn yêu cu khi kin của nguyên đơn.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị:
Tại phiên tòa các đương sđã thỏa thuận với nhau vviệc giải quyết vụ
án nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
*Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Nai tham
gia phiên tòa phúc thẩm:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy
định của pháp luật từ khi thụ đến khi xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
đúng thành phần, đảm bảo vô tư khách quan, trình tự phiên tòa được Hội đồng xét
xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Thư ký thực hiện đúng
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Các
đương sự đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp
luật.
Về đề xuất đường lối giải quyết vụ án: Tại phiên tòa người đại diện theo
ủy quyền của nguyên đơn ông Đinh Xuân B, người đại diện theo y quyền của
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Văn T1 bà Thị Hồng H1
người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Trần Thị B1 thỏa thuận với nhau
về việc giải quyết vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận thỏa thuận của
nguyên đơn và bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được
xem xét tại phiên tòa kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của b đơn Trần Thị B1 làm
trong thời hạn luật định, B1 được miễn tiền tạm ứng án phí theo quy định nên
được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Đinh Xuân B xin rút yêu
cầu khởi kiện về việc yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất
ngày 06/9/1998 giữa Đỗ Thị L1 với Trần Thị B1 đối với diện tích đất
525m
2
, thửa số 112 (số cũ 228), tờ bản đồ số 91(số cũ 03), phường B, thành phố
B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường B, Thành phố Đ). Người đại diện theo ủy
8
quyền của bđơn Trần Thị B1 đồng ý với việc rút yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn. Xét thấy, việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn việc bị đơn
đồng ý việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn hoàn toàn tự nguyện, không
ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Do vậy Hội đồng xét xử
hủy một phần bản án dân sự thẩm số đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn, đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đinh
Xuân B.
[3] Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn Trần Thị B1, tại phiên tòa
phúc thẩm, bà B1 thay đổi yêu cầu khởi kiện, bà B1 đề nghị công nhận một phần
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 06/9/1998, B1 được quyền
quản lý, sử dụng đối với diện tích đất 173,4m
2
(trong đó diện tích 60m
2
đất
thổ cư; 113,4m
2
đất trồng cây lâu năm), thuộc một phần thửa số 112 (số cũ 228),
tờ bản đồ số 91 (số 03), phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là
phường B, Thành phố Đ) phần đất được giới hạn bởi các điểm
(19,20,37,26,13,19).
B1 đồng ý trả lại cho ông Đinh Xuân B và ông Đinh Văn T1 phần đất
diện tích 254,6m
2
được giới hạn bởi các điểm (20,
27,28,29,17,16,15,22,14,37,20) thuộc một phần thửa số 112 (số 228), tờ bản
đồ số 91(số 03), phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay phường B,
Thành phố Đ) B1 tự nguyện tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trên đất.
Theo Trích lục bản đồ hiện trạng khu đất số: 737/2026 ngày 22/5/2026 của Văn
phòng Đăng ký đất đai Thành phố Đ.
Người đại diện theo ủy quyền của ông B ông T1 đồng ý với đề nghị
trên của người đại diện theo ủy quyền của bà B1. Ông B đồng ý thanh toán cho
B1 số tiền 30.000.000 đồng, ngoài khoản tiền 30.000.000 đồng trên, các
đương sự không phải thanh toán khoản tiền nào khác cho nhau.
Xét thấy, việc thỏa thuận của ông B, ông T1 với bà B1 hoàn toàn tự
nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên
ghi nhận:
[4] Đối với yêu cầu độc lập vtranh chấp quyền sử dụng đất của ông
Đinh Văn T2, Đinh Thị T3: Ông T2, T3 tranh chấp cho rằng thửa số 112
(số 228), tờ bản đồ số 03, phường B, thành phố B đất của gia đình mình,
yêu cầu công nhận quyền sdụng đất, buộc B1 phải trả đất. Như vậy, tranh
chấp này tranh chấp ai người quyền sử dụng đất, trước khi khởi kiện
phải tiến hành hòa giải ở địa phương theo quy định của Luật Đất đai. Trong giai
đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã 02 lần văn bản yêu cầu ông T2,
T3 thực hiện việc hòa giải tại UBND cấp nơi đất tranh chấp tuy nhiên
ông T2, T3 không thực hiện. Do vậy a án cấp thẩm đình chỉ giải quyết
đối với yêu cầu độc lập của ông T2, bà T3 do chưa đủ điều kiện khởi kiện
đúng quy định. Đối với yêu cầu độc lập của ông T2, bà T3 về việc hủy giấy sang
nhượng đất ngày 06/8/1998 giữa L1 với B1. Xét, yêu cầu độc lập này của
ông T2, bà T3 đã được nguyên đơn yêu cầu khởi kiện Tòa án cấp sơ thẩm đã thụ
lý, nhưng lại thụ tiếp yêu cầu độc lập trên của ông T2, bà T3 trùng lập
không cần thiết nên cần rút kinh nghiệm.
9
[5] Về chi phí tố tụng: Các bên thống nhất, ông Đinh Xuân B tự chịu chi
phí tố tụng số tiền 14.034.465 đồng, ông B đã nộp xong; B1 tự chịu chi tố
tụng số tiền 4.227.208 đồng, bà B1 đã thực hiện xong.
[6] Về án phí dân sự thẩm: Trần Thị B1 người cao tuổi, đã
đơn xin miễn án phí; nên được miễn án phí theo quy định.
Nguyên đơn ông Đinh Xuân B phải chịu án phí giá ngạch trên số tiền
ông B phải thanh toán cho B1 30.000.000 đồng x5% = 1.500.000 đồng
Hoàn trả cho ông Đinh Văn T2, Đinh Thị T3 số tiền tạm ng án phí
đã nộp 400.000 đồng theo Biên lai số 003381, 003382 cùng ngày 26/11/2015
của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, nay Phòng thi hành án
dân sự Khu vực 1-Đồng Nai.
[7] Án phí dân s phúc thm: B1 người cao tuổi đơn miễn án phí
dân s nên không x lý án phí phúc thm.
[8] Từ những nhận định trên, hủy một phần bản án sơ, thẩm đình chỉ giải
quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; sửa một phần bản án thẩm
đối với yêu cầu phản tố của bị đơn do các đương sự tự thỏa thuận với nhau.
[9] Đề ngh của người bo v quyn li ích hp pháp ca b đơn phù
hp vi nhận định ca Hội đồng xét x nên được chp nhn.
[10] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phù hợp với
một phần nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2, khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Hủy đình chỉ giải quyết một phần Bản án dân sự thẩm số:
253/2025/DS-ST ngày 15-9-2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1- Đồng Nai đối
với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đinh Xuân B v vic hủy hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 06/9/1998 giữa bà Đỗ Thị L1 với bà Trần
Thị B1.
Sửa một phần Bản án dân sự thẩm số: 253/2025/DS-ST ngày 15-9-
2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1- Đồng Nai đối với yêu cầu phản tố của bị
đơn bà Trần Thị B1.
1. Ghi nhận sự thỏa thuận giữa Trần Thị B1 với ông Đinh Xuân B
ông Đinh Văn T1 c th như sau:
2. Công nhận một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
ngày 06/9/1998, giữa bà Đỗ Thị L1 với bà Trần Thị B1 có hiệu lực. Bà Trần Thị
B1 được quyền quản lý, sử dụng đối với diện tích đất 173,4m
2
(trong đó diện
tích 60m
2
đất thổ cư; 113,4m
2
đất trồng cây lâu năm), thuộc một phần thửa đất
số 112 (số 228), tờ bản đồ số 91 (số 03), phường B, thành phố B, tỉnh
Đồng Nai (nay là phường B, Thành phố Đ) phần đất được giới hạn bởi các điểm
(19,20,37,26,13,19).
10
Trần Thị B1 đồng ý trả lại cho ông Đinh Xuân B và ông Đinh Văn T1
phần đất diện tích 254,6m
2
được giới hạn bởi các điểm (20,
27,28,29,17,16,15,22,14,37,20) thuộc một phần thửa đất số 112 (số 228), tờ
bản đồ số 91 (số 03), phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay phường
B, Thành phố Đ) và bà Bảy tự tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trên đất.
Theo Trích lục bản đồ hiện trạng khu đất số: 737/2026 ngày 22/5/2026
của Văn phòng Đăng ký đất đai Thành phố Đ.
Ông Đinh Xuân B đồng ý thanh toán cho bà Trần Thị B1 số tiền
30.000.000 đồng, ngoài ra các đương sự không phải thanh toán khoản tiền nào
khác cho nhau.
4. Đương sự được liên hệ với quan Nhà nước thẩm quyền để làm
thủ tục đăng đất đai, nhà và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của
pháp luật.
5. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của ông Đinh Văn T2
Đinh Thị T3.
6. Về chi phí tố tụng: Ông Đinh Xuân B tự chịu chi phí tố tụng số tiền là
14.034.465 đồng, ông B đã nộp xong; Trần Thị B1 tự chịu chi phí tố tụng số
tiền là 4.227.208 đồng, bà B1 đã thực hiện xong.
7. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí dân sự thẩm cho Trần
Thị B1; nguyên đơn ông Đinh Xuân B phải chịu án phí số tiền 1.500.000 đồng.
Hoàn trả cho ông Đinh Văn T2, Đinh Thị T3 số tiền tạm ng án phí
đã nộp 400.000 đồng theo Biên lai số 003381, 003382 cùng ngày 26/11/2015
của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, (nay Phòng thi hành án
dân sự Khu vực 1-Đồng Nai).
8. Án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Trn
Th B1.
9. Về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vthi hành án: Kể tngày
đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án
xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự
năm 2015.
10. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định
tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
11. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND TP. Đồng Nai;
- TAND Khu vực 1-ĐN;
- Phòng THADS Khu vực 1- ĐN;
- Các đương sự;
. TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
11
- Lưu: VT; hồ sơ vụ án.
Đỗ Thị Nhung
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 411/2026/DS-PT Bản án số 411/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 411/2026/DS-PT Bản án số 411/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất