Bản án số 83/2026/DSPT ngày 05/05/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 83/2026/DSPT

Tên Bản án: Bản án số 83/2026/DSPT ngày 05/05/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Ngãi
Số hiệu: 83/2026/DSPT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TNH QUNG NGÃI
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 83/2026/DS-PT
Ngày: 05-5-2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thành.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Hải Nam và bà Trịnh Thị Thu Lan.
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Quảng Ninh Thư Tòa án, Tòa án nhân
dân tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên
tòa: Bà Nguyễn Thị Yến - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 23/4/2026 ngày 05/5/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân
tỉnh Quảng Ngãi mở phiên tòa xét x phúc thẩm công khai vụ án thụ số
01/2026/TLPT- DS ngày 12 tháng 01 năm 2026 về việc “Tranh chấp quyền sử
dụng đất”.
Do bản án Dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 07/10/2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 4 - Quảng Ngãi bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
phúc thẩm số 54/2026/QĐ-PT ngày 11/3/2026, Quyết định hoãn phiên tòa số
73/2026/QĐ-PT ngày 26/3/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Kim O; địa chỉ: Thôn Đ, M, tỉnh Quảng
Ngãi;
Người đại diện theo y quyền của nguyên đơn: Ông Phan Văn V; địa chỉ:
Số G đường P, phường C, tỉnh Quảng Ngãi ông Công C; Địa chỉ: Phường
M, quận S (nay là Phường S), Thành phố Đà Nẵng;
- Bị đơn: Ông Phan Trắc B và bà Trần Thị Đ; cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã M,
tỉnh Quảng Ngãi;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ủy ban nhân dân xã M, tỉnh Quảng Ngãi;
Người đại diện theo pháp luật: Chủ tịch
Địa chỉ: Xã M, tỉnh Quảng Ngãi;
2
2/ n phòng C4.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Thanh B1 Trưởng Văn phòng.
3/ Ông Phan Đức N;
4/ Bà Phan Thị Đ1;
5/ Anh Phan Hồng N1;
6/ Ông Huỳnh H;
7/ Ông Nguyễn Tấn D;
8/ Ông Nguyễn Thiên T;
Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã M, tỉnh Quảng Ngãi.
9/ Chị Nguyễn Thị Hồng V1;
10/ Chị Nguyễn Thị Hồng V2;
11/ Chị Nguyễn Thị Thu C1;
12/ Chị Nguyễn Thị Hồng Ngọc V3;
13/ Chị Nguyễn Thị Hồng Ngọc V4;
14/ Anh Nguyễn Duy K;
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố C, xã C, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủy quyền của chị V1, chị C1, chị V2, chị V3, chị V4,
anh K: Bà Nguyễn Thị Kim O; địa chỉ: Thôn Đ, xã M, tỉnh Quảng Ngãi.
15/ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Q.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Trọng P Giám đốc.
Địa chỉ: A H, Phường N, Tỉnh Quảng Ngãi.
Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Kim O là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn ngày 12/5/2020, đơn khi kiện bổ sung
ngày 24/9/2020, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa,
nguyên đơn trình bày:
Cha mẹ của nguyên đơn 02 người con Nguyễn Thị Kim O
Nguyễn Thị Hồng L. L chết năm 2019, L chồng nhưng chồng L
chết năm 2020. Vợ chồng L các con chung gồm Nguyễn Thị Hồng V1,
Nguyễn Thị Hồng V2, Nguyễn Thị Hồng Ngọc V3, Nguyễn Thị Hồng Ngọc V4
Nguyễn Duy K. Khi còn sống, cha mnguyên đơn được ông bà để lại một số
tài sản gồm:
- Thửa đất 317, tờ bản đồ số 02, thị trấn M (bản đồ đo vẽ năm 2014) được
hình thành từ hai thửa 1717 và 1718 theo bản đĐại Nam Trung Kỳ Chánh P1.
- Thửa đất 305, tờ bản đồ số 02, thị trấn M (bản đồ đo vẽ năm 2014) nguồn
3
gốc từ thửa 636, tờ bản đồ số 02, bản đồ 299/TTg năm 1983 diện tích 02 sào 05
thước.
Trên thửa đất 305 03 ngôi mộ nhưng đã được di dời vào khoảng năm
2018, hiện trên đất không còn ngôi mộ nào.
Thửa đất 305 trước đây diện tích 02 sào 05 thước. Tuy nhiên, trong quá
trình quản lý, sử dụng bị Nhà nước thu hồi và có biến động nên thửa đất 305 còn
lại diện tích 807m
2
. Vào thời điểm ông Nguyễn C2 còn sống thì đã bán 690m
2
diện tích đất cho vợ chồng ông B. Còn lại 117m
2
, đây phần đất cha m
nguyên đơn không chuyển nhượng cho ông B, Đ. Do đó nguyên đơn yêu cầu
bị đơn phải trả lại phần diện tích đất này cho nguyên đơn; Không yêu cầu chia
phần cụ thể cho nguyên đơn những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
(con bà Nguyễn Thị Hồng L).
Ngoài ra, thửa đất số 317, tờ bản đồ số 2, thị Trấn M của cha nguyên đơn
nhưng vợ chồng ông Phan Trắc B, Trần Thị Đ đã chuyển nhượng cho ông
Huỳnh Hoàng T1 đất này, sau đó ông H tách thành thửa 1717 và 1718, tờ bản đồ
số 2, thị trấn M, vì vậy nguyên đơn yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa ông B, bà Đ với ông H vô hiệu. Buộc ông Huỳnh H phải
trả lại nguyên thửa đất 317 nêu trên cho nguyên đơn, không yêu cầu Tòa án chia
phần cụ thể cho nguyên đơn và những người con của bà Nguyễn Thị Hồng L.
Trong thời gian Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức giải quyết vụ án, ông
Phan Trắc B tách thửa đối với thửa đất đang tranh chấp (thửa 305) tặng cho con
trai là Phan Đức N, sau đó ông Phan Đức N lại chuyển nhượng thửa đất cho ông
Nguyễn Tấn D rồi ông D xây dựng công trình trên thửa đất đang tranh chấp
không đúng quy định pháp luật, nên nguyên đơn tiếp tục yêu cầu Tòa án buộc
ông Nguyễn Tấn D phải tháo dỡ công trình xây dựng trên đất để trả lại hiện
trạng ban đầu cho nguyên đơn. Đồng thời yêu cầu Tòa án Hủy GCNQSDĐ đối
với thửa 1671 do Sở TNMT cấp cho ông Phan Đức N và Hủy chỉnh trang 3
của GCN sang tên ông Nguyễn Tấn D.
* Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn ông Phan Trắc
B, bà Trần Thị Đ có ý kiến như sau:
Nguồn gốc thửa đất mà bà Nguyễn Thị Kim O tranh chấp với ông bà (thửa
305 tờ bản đồ số 02 thị trấn M) nguồn gốc của ông Nguyễn C2 đã bán
(chuyển nhượng) cho vchồng ông vào năm 1993. Lúc đó, ông C2 bán nguyên
thửa đất trên đất 01 căn nhà đã đổ sập, khi hai bên giao kết hợp đồng, hai
bên không đo đạc thửa đất diện tích bao nhiêu mét vuông, thửa đất đã
giới cận ràng, sau khi mua bán xong, vợ chồng ông sử dụng ổn định mãi đến
nay. Lúc vợ chồng ông mua thửa đất này thì trên đất 02 ngôi mlớn và 01
ngôi mộ nhỏ (mả thai nhi), diện tích của 03 ngôi mộ khoảng 40m
2
, nhưng Nhà
nước đã cho di dời phía O đã bốc mộ chuyển nơi khác chôn cất, hiện nay
vợ chồng ông không còn nhớ vị trí các ngôi mộ này. Vì những ngôi mộ chôn cất
trên đất của vợ chồng ông từ trước, nên sau khi di dời mộ xong thì vợ chồng ông
đổ đất để san lấp mặt bằng, sử dụng cho đến nay. Việc Nguyễn Thị Kim O
4
yêu cầu vợ chồng ông phải trả lại diện tích chênh lệch giữa giấy bán đất mà ông
Nguyễn C2 đã bán cho vợ chồng ông, so với diện tích được Nhà nước cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông thì ông không đồng ý. Bởi
diện tích tăng so với giấy tờ lúc mua, bán do đo đạc, hơn nữa vợ chồng ông
khai phá hàng rào và bờ ruộng lúa nước nên diện tích đã tăng thêm, hơn nữa khi
làm giấy ttặng cho con trai tên Phan Đức N và chuyển nhượng đất cho ông
Huỳnh H thì vợ chồng ông đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Hoàng C3 ý kiến:
Ông nhận chuyển nhượng đất của vợ chồng ông B, Đ vào năm 2017.
Tuy nhiên, do đánh máy sai sót chỗ thửa đất 317 thành thửa đất số 3171, tờ bản
đồ số 2 tại thị trấn M, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Khi chuyển nhượng lập
hợp đồng công chứng theo quy định của pháp luật, tiền ông nhận chuyển
nhượng đất tiền riêng của nhân ông, không phải tiền chung với ai khác.
Việc chuyển nhượng giữa các bên hoàn toàn tự nguyện. Nay Nguyễn Thị
Kim O yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyển sử dụng đất trên
hiệu thì ông không đồng ý. Sau khi ông nhận chuyển nhượng thửa đất 317 nêu
trên, ông đã tách thành 02 thửa 1717 1718 được Nhà nước cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhân ông. Chính vậy Nguyễn
Thị Kim O yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
ông với vợ chồng ông B bà Đ hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp
cho ông thì ông không đồng ý, vì đất ông nhận chuyển nhượng của ông B, Đ
đúng theo quy định của pháp luật.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Đức N, Phan Thị
Đ1 và A Phan Hồng N1 không đồng ý theo yêu cầu nguyên đơn.
* Người quyền lợi, nghĩa vliên quan ông Nguyễn Tấn D ý kiến:
Vào ngày 07 tháng 9 năm 2019, ông dùng tiền riêng của nhân ông mua đất
(nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Phan Trắc B) thửa đất 1671,
diện tích 126,6 m
2
, nhưng đến tháng 01 năm 2022 thì thửa đất (vị tđất ông
mua từ ông Phan Trắc B) mới được tách thửa cho ông Phan Đức N. Sau khi ông
N được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì nhân ông với ông Phan
Đức N mới tiến hành lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy
định của Pháp luật, chính vậy ngày 12/4/2022 Văn phòng đăng đất đai
tỉnh Q - Chi nhánh huyện M đã làm thủ tục sang tên chỉnh trang 3 của
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông. Sau khi tên trong Giấy chứng
nhận quyền sdụng đất, ông đã xây tường rào và cổng ngõ đối với thửa đất đã
nhận chuyển nhượng từ ông Phan Đức N. Ông xây dựng tường rào để xác định
ranh giới, mốc giới để giữ đất khỏi b lấn chiếm chứ ông chưa bán hay
chuyển nhượng cho ai khác. Việc Nguyễn Thị Kim O khởi kiện vợ chồng
ông Phan Trắc B, bà Trần Thị Đ hay ai khác thì cũng không liên quan đến quyền
lợi hay nghĩa vụ của ông. Ông là người được Nhà nước công nhận quyền sử
dụng đối với thửa đất s1671 tbản đồ số 2, diện tích 126,6m
2
tại thị trấn M
5
nên thửa đất này là của cá nhân ông, ông có quyền quyết định những vấn đề liên
quan đến thửa đất này.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thiên T khai: ông
mua thửa đất của ông D vào cuối năm 2019, chỉ viết giấy tay chứ chưa thực hiện
công chứng hay chứng thực theo quy định của pháp luật. Tường rào trên đất
do ông xây dựng vào cuối năm 2023.
* Ủy ban nhân dân thị trấn M có ý kiến: thời điểm ông T xây dựng trên đất
đang tranh chấp, chính quyền lập biên bản ông Nguyễn Tấn D cam kết với
địa phương; ông D chưa làm thủ tục chuyển nhượng cho ông T.
- Thửa 305 do ông B đăng ký theo quy định, sử dụng hợp pháp đến nay
- Phần đất nguyên đơn cho đất mmả, năm 2017 Nhà nước mở đường,
các ngôi mộ đã di dời xong, sau khi di dời thì còn lại 39.9m
2
thuộc quyền quản
lý Nhà nước.
- Thửa 317 đất lúa, năm 2018 ông B chuyển nhượng cho Huỳnh H. Ông
H quản lý hợp pháp.
* Ông Trần Thanh B1 Trưởng n phòng C4 ý kiến: Vào ngày
08/01/2018, tại Trụ sở Văn phòng C4, thị trấn M, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi,
ông là Công chứng viên Văn phòng C4 đã chứng nhận Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất được giao kết giữa ông Phan Trắn B2, Trần Thị
Đ, anh Phan Đức N, chị Phan Thị Đ1, anh Phan Hồng N1 với anh Huỳnh H. Các
bên đều trú tại thị trấn M, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Tại thời điểm các bên
thỏa thuận giao kết hợp đồng, các bên đầy đủ năng lực, đủ nhận thức ông
chứng nhận trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên hoàn
toàn đúng quy định của Pháp luật. Chính vì vậy, việc bà Nguyễn Thị Kim O yêu
cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08/01/2018
hiệu thì đó là việc của Nguyễn Thị Kim O, còn bản thân là Công chứng viên,
ông thấy việc làm của mình là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật nên không
đồng ý.
* Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Q đã ban hành văn bản số
4196/SNNMT-VPĐvề việc trình bày ý kiến cung cấp tài liệu theo nội
dung đề nghị tại Thông báo số 06A/TB-TLVA, ngày 27/5/2025 của Tòa án nhân
dân huyện Mộ Đức liên quan đến đơn khởi kiện của Nguyễn Thị Kim O. Tại
văn bản này, Sở T (nay là sở N) giải quyết hồ đăng biến động đất đai
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 07/01/2022 cho ông Phan Đức N
đối với thửa đất số 1671, tbản đồ số 2, thị trấn M đảm bảo theo quy định.
Do đó, việc bà Nguyễn Thị Kim O yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đối với thửa đất nêu trên là không có cơ sở.
* Người đại diện theo ủy quyền nguyên đơn trình bày lời bảo vệ cho
nguyên đơn đưa ra lập luận đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
6
Bản án Dân sự sơ thẩm số 02/2025/DSST ngày 07/10/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 4 - Quảng Ngãi đã tuyên xử:
Căn cứ vào khoản 3, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, ckhoản 1
Điều 39, khoản 1, 4 Điều 91, các Điều 147, 157, 158, 271 273 Bộ luật Tố
tụng Dân sự; Điều 122 của Bộ luật dân sự 2005; Điều 166, 500, 501, 502, 503
Bộ luật dân sự 2015; Điều 166, 167 Luật đất đai 2013. các Điều 26, 27, 28, 134,
141, 152 Luật Đất đai năm 2024; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về
quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án,
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà O về việc yêu cầu ông B2
Đ phải trả lại 117m
2
, giới cận Đông giáp đường đi, Tây giáp thửa 306, Nam
giáp đất NTT, Bắc giáp thửa đất còn lại thửa 305.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của O về việc yêu cầu tuyên bố
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 14/7/2015 giữa ông Phan Trắc B, bà
Trần Thị Đ tặng cho Phan Đức N là vô hiệu.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của O về tuyên hủy Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sdụng đất ngày 08/01/2018 giữa ông B Đ với anh
Huỳnh H; Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của O về việc Hủy Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 1687, tờ bản đồ số 02, diện tích 298 m
2
,
số phát hành CU 963021, số vào sổ cấp GCN CS 01593 cấp ngày 26/3/2020 cho
ông Huỳnh H Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 1688, tờ bản
đồ số 02, diện tích 437 m
2
, phát hành CU 963022, số vào sổ cấp GCN CS 01594
cấp ngày 26/3/2020 cho ông Huỳnh H.
4. Không chấp nhận yêu cầu của O về việc Buộc ông Nguyễn Tấn D
phải tháo dỡ tường rào lưới B40 đã xây trên thửa đất 1671, TBĐ số 2, thị trấn M
(nay là xã M) tỉnh Quảng Ngãi.
5. Không chấp nhận yêu cầu của O về việc huỷ giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số DD 578621 thửa số 1671, tờ bản đồ số 2, do Sở tài nguyên môi
trường tỉnh Q cấp ngày 07/01/2022 cho ông Phan Đức N; Địa chỉ hiện nay
M, tỉnh Quảng Ngãi.
6. Không chấp nhận yêu cầu của O về việc Huỷ chỉnh lý trang 3, thửa
đất số 1671, tờ bản đồ số 2, thị trấn M, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi đã chỉnh
sang tên ông Nguyễn Tấn D ngày 12/4/2022.
Ngoài ra, bản án thẩm n tuyên về phần án phí quyền kháng cáo
theo luật định.
- Ngày 14/10/2025, bà Nguyễn Thị Kim O là nguyên đơn có đơn kháng cáo
đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Sửa toàn bộ bản án dân sự thẩm số
02/2025/DS-ST ngày 07 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 -
Quảng Ngãi theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
7
Tại phiên tòa Nguyễn Thị Kim O người đại diện theo ủy quyền của
O, ông Phan Văn V trình bày bổ sung nội dung kháng cáo đề nghị tuyên hủy
toàn bộ bản án dân sự thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 07 tháng 10 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Quảng Ngãi do cấp thẩm đã vi phạm
nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phát biểu
ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa kể từ khi Tòa án cấp phúc thẩm
thụ vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện
đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Sau khi phân tích các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án và diễn
biến công khai tại phiên toà trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ. đại
diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đnghị Hội đồng xét xử chấp nhận
một phần kháng cáo của Nguyễn Thị Kim O. Humột phần bản án dân sự
thẩm số 02/2025/DSST ngày 07/10/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Quảng
Ngãi.
Về án phí các chi phí tố tụng khác đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết
theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được thẩm
tra tại phiên toà; kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội
đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của Nguyễn Thị Kim O, trong thời hạn luật định
hợp pháp nên được thụ xem xét theo thủ tục phúc thẩm quy định tại Điều
272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm Ủy ban nhân dân
xã M, Phòng C5, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Q vắng mặt và có đơn xin
xét xử vắng mặt; ông Phan Đức N, Phan Thị Đ1, anh Phan Hồng N1, ông
Huỳnh H, ông Nguyễn Tấn D, ông Nguyễn Thiên T đã được Tòa án triệu tập
hợp llần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ Khoản 3 Điều 296 của Bộ luật
Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người trên.
[1.3] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn đòi lại quyền sử dụng đối với
các thửa đất 305 317 tờ bản đồ số 02 tại M, tỉnh Quảng Ngãi đây tranh
chấp quyền sử dụng đất (viết tắt QSDĐ) được quy định tại khoản 9 điều 26
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các yêu cầu khác của nguyên đơn về yêu cầu
huỷ hợp đồng tặng cho, hợp đồng chuyển nhượng, buộc tháo dỡ tài sản trên đất
huỷ các Giấy chứng nhận QSDĐ chỉ một phần của quan hệ tranh chấp
QSDĐ nên HĐXX phúc thẩm sửa lại quan hệ pháp luật được giải quyết
Tranh chấp quyền sử dụng đất
8
[2] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim O:
[2.1] Đối với tranh chấp tại thửa đất 305:
Nguyên đơn và bị đơn xác nhận nguồn gốc thửa đất 305 bị đơn đang quản
hiện nay là của ông Nguyễn C2 (là cha đẻ của Nguyễn Thị Kim O) đã
chuyển nhượng cho vợ chồng bị đơn vào năm 1993, nhưng giấy bán nhà
chuyển nhượng đất vườn thì ghi ngày 19/6/1994; diện tích ông C2 bán được ghi
trong giấy toàn bộ khoảnh vườn (690m
2
). Tuy nhiên, Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất Nhà nước cấp cho bị đơn ngày 16/12/2014 diện tích 807m
2
, tăng
117m
2
. vậy, nguyên đơn khởi kiện buộc bị đơn phải trả lại diện tích đất tăng
thêm là 117m
2
.
Quá trình giải quyết v án, nguyên đơn không đưa ra được chứng cứ
chứng minh ông Nguyễn C2 chỉ chuyển nhượng một phần thửa đất cho ông
Phan Trắc B cũng như diện ch đất còn lại vị trí nào của mảnh vườn; mặt
khác, tại giấy bán nhà chuyển nhượng đất vườn ghi ngày 19/6/1994, ông
Nguyễn C2 ghi bán toàn bộ mảnh vườn. Sau khi nhận chuyển nhượng từ ông
C2, bị đơn sử dụng ổn định mãi đến năm 2014 không tranh chấp với các hộ
liền kề, phù hợp với quy hoạch không vi phạm pháp luật về đất đai nên được
Nhà nước công nhận QSDĐ theo Giấy chứng nhận quyền sdụng đất số BY
283037, thửa đất số 305, tờ bản đồ số 2, diện tích 807 m
2
, số vào sổ cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất CH 00582 do Ủy ban nhân dân huyện M cấp
ngày 16/12/2014.
Do đó, cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
về việc buộc ông Phan Trắc B, Trần Thị Đ phải trả lại cho O các con
của bà L (Nguyễn Thị Hồng V1, Nguyễn Thị Hồng V2, Nguyễn Thị Hồng Ngọc
V3, Nguyễn Thị Hồng Ngọc V4 Nguyễn Duy K) diện tích 117m
2
thuộc một
phần thửa đất số 305, tờ bản đồ số 02 là đúng quy định của pháp luật.
Yêu cầu về tranh chấp quyền sử dụng đối với 117m
2
thửa 305 không được
chấp nhận do đó, không căn cứ để chấp nhận yêu cầu của Nguyễn Thị
Kim O về việc hủy hợp đồng tặng cho QSDĐ yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số BY 283037, số vào sCH 00582 đối với thửa đất số 305,
tờ bản đồ số 2, diện tích 807m
2
, do y ban nhân dân huyện M cấp ngày
16/12/2014 cho ông Phan Trắc B và bà Trần Thị Đ được Văn phòng đăng ký đất
đai tỉnh Q chi nhánh huyện M chỉnh lý biến động tại trang 3, nội dung chỉnh lý
biến động: Ngày 27/7/2015, tặng cho quyền sử dụng đất cho ông Phan Đức N,
sinh m 1982; CMND: 212184053, thường trú tại thị trấn M, huyện M, tỉnh
Quảng Ngãi”; không chấp nhận yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất hủy chỉnh trang 3, thửa đất số 1671, tờ bản đồ số 2, thị trấn M, huyện
M, tỉnh Quảng Ngãi đã chỉnh sang tên ông Nguyễn Tấn D ngày 12/4/2022;
không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc ông Nguyễn Tấn D phải tháo dỡ
tường rào lưới B40 đã xây trên thửa đất 1671, tờ bản đồ số 2, thị trấn M (nay là
xã M, tỉnh Quảng Ngãi)
[2.2] Đối với tranh chấp QSDĐ tại thửa đất số 317:
9
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu buộc vợ chồng ông B, Đ phải trả lại
quyền sdụng đất thửa đất số 317, tờ bản đồ số 02, yêu cầu huỷ Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08/01/2018 giữa ông B Đ với anh
Huỳnh H; yêu cầu Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 1687, tờ
bản đồ số 02, diện tích 298 m
2
, số phát hành CU 963021, số vào sổ cấp GCN CS
01593 cấp ngày 26/3/2020 Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số
1688, tờ bản đồ số 02, diện tích 437 m
2
, phát hành CU 963022, số vào sổ cấp
GCN CS 01594 cấp ngày 26/3/2020 cho ông Huỳnh Hoàng H1 phúc thẩm thấy
rằng:
Bản án thẩm mới chỉ giải quyết: Không chấp nhận đối với các yêu cầu
tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất ngày 08/01/2018 giữa vợ
chồng ông B, Đ, ông N, Đ1, N1 với ông Huỳnh Hoàng H2, yêu cầu
huỷ các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CU 963021, số vào sổ
cấp GCN CS 01593 đối với thửa đất số 1687, tờ bản đồ số 02, diện tích 298m
2
,
Giấy chứng nhận quyền sdụng đất số phát hành CU 963022, số vào sổ cấp
GCN CS 01594 thửa số 1688, tờ bản đồ số 02, diện tích 437m
2
được cấp cho
ông Huỳnh Hoàng L1 mới chỉ giải quyết một phần trong việc tranh chấp đối với
thửa đất 317 chưa xem xét, giải quyết yêu cầu của nguyên đơn và những
người quyền lợi nghĩa vliên quan buộc bị đơn trả lại thửa đất 317 chưa
giải quyết đầy đủ các tranh chấp của vụ án, do đó thấy cần huỷ một phần vụ án
để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm đối với yêu cầu này.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận một phần
nên các đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm.
[4] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội
đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim O. Huỷ một phần bản
án dân sthẩm s02/2025/DSST ngày 07/10/2025 của Tòa án nhân dân khu
vực 4 - Quảng Ngãi.
Áp dụng: Điều 122 của Bộ luật dân sự 2005; Điều 166, 500, 501, 502, 503
Bộ luật dân sự 2015; Điều 166, 167 Luật đất đai 2013. các Điều 26, 27, 28, 134,
141, 152 Luật Đất đai năm 2024; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về
quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án,
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị Kim O về việc
yêu cầu ông Phan Trắc B và bà Trần Thị Đ phải trả lại 117m
2
, có giới cận Đông
10
giáp đường đi, Tây giáp thửa 306, Nam giáp đất NTT, Bắc giáp thửa đất còn lại
thửa 305.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị Kim O yêu cầu
huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 283037, số vào sCH 00582
đối với thửa đất số 305, tờ bản đồ số 2, diện tích 807m
2
, do Ủy ban nhân dân
huyện M cấp ngày 16/12/2014 cho ông Phan Trắc B và bà Trần Thị Đ.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim O về việc yêu
cầu tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 14/7/2015 giữa ông
Phan Trắc B, bà Trần Thị Đ tặng cho Phan Đức N là vô hiệu.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim O về việc huỷ
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 578621 thửa số 1671, tờ bản đồ số 2,
do Sở tài nguyên môi trường tỉnh Q cấp ngày 07/01/2022 cho ông Phan Đức N;
Địa chỉ hiện nay là xã M, tỉnh Quảng Ngãi.
Không chấp nhận yêu cầu của O về việc Huỷ chỉnh trang 3, thửa đất
số 1671, tờ bản đồ số 2, thị trấn M, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi đã chỉnh sang
tên ông Nguyễn Tấn D ngày 12/4/2022.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị Kim O vviệc
buộc ông Nguyễn Tấn D phải tháo dỡ tường rào lưới B40 đã xây trên thửa đất
1671, TBĐ số 2, thị trấn M (nay là xã M) tỉnh Quảng Ngãi.
2. Chấp nhận một phần kháng cáo của Nguyễn Thị Kim O: Huỷ một
phần bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DSST ngày 07/10/2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 4 - Quảng Ngãi đối với tranh chấp quyền sử dụng đất đối với thửa
đất 317 tờ bản đồ số 2 thị Trấn M (nay là xã M) và các nội dung liên quan.
3. Giao hồ để Toà án nhân dân khu vực 4 Quảng Ngãi xét xlại yêu
cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim O đối với thửa đất 317, tờ bản đồ số 2 thị
Trấn M (nay là xã M) tỉnh Quảng Ngãi các vấn đề liên quan.
4. Về án phí dân sự chi phí tố tụng: Án phí dân sự thẩm chi phí
tố tụng được giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí dân
sự phúc thẩm.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Quảng Ngãi; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- TAND khu vực 4 – Quảng Ngãi;
- Thi hành án Dân sự tỉnh Quảng Ngãi;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, Toà Dân sự.
Nguyễn Minh Thành
11
Tải về
Bản án số 83/2026/DSPT Bản án số 83/2026/DSPT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 83/2026/DSPT Bản án số 83/2026/DSPT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất