Bản án số 162/2026/DS-PT ngày 05/05/2026 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 162/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 162/2026/DS-PT ngày 05/05/2026 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bắc Ninh
Số hiệu: 162/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Đoàn Thị T - Anh Trần Văn V tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC NINH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 162/2026/DS- PT
Ngày: 05/5/2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ toạ phiên t: Ông Nguyễn Ngọc Chung.
Các thẩm phán: Ông Phạm Văn Tú
Ông Nguyễn Việt Hùng
Thư phiên toà: Nguyễn Thị Yến Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh: Nguyễn Thị Thúy
Kiểm sát viên.
Ngày 05/5/2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm
công khai vụ án thụ số 38/2026/TLPT-DS ngày 03 tháng 3 năm 2026 về việc
Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự thẩm số 04/2026/DS-ST ngày 22/01/2026 của Toà án
nhân dân khu vực 2-Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 140/2026/QĐ-PT ngày
17/4/2026; giữa:
* Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị T, sinh năm 1946 (có mt)
Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường N, tỉnh Bắc Ninh.
* B đơn: Anh Trần Văn V, sinh năm 1976 (có mt)
Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường N, tỉnh Bắc Ninh
* Người có quyn li nghĩa v liên quan: Ch Tống Thị V1, sinh năm 1978
(có đơn xin xét xử vng mt)
Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường N, tỉnh Bắc Ninh.
* Người kháng cáo: Bị đơn anh Trần Văn V.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khi kiện bản t khai, biên bản ly li khai tiếp theo tại
phiên tòa nguyên đơn bà Đoàn Thị T trình bày:
Bà và anh Trần Văn V không có mối quan h gì, bà và anh V là hàng xóm của
nhau. Ngày 14/8/2020 cho anh V vay s tiền 150.000.000 đng (một trăm
2
lăm mươi triệu đồng), và anh V viết giy vay tin (giấy mượn tiền), toàn b
ch viết trong giy vay tiền chữ viết ca anh V, giy vay tiền được viết tại nhà
anh V, c viết giấy mượn tiền mặt bà, anh V vợ anh V ch V1, ngoài ra
không ai khác. Sau khi viết giấy mượn tiền xong bà đã đưa đủ s tin
150.000.000 đồng (một trăm lăm mươi triệu đồng) cho anh V, hai bên không viết
thêm giấy t khác.
C th ni dung trong giy vay tiền hai bên thỏa thuận như toàn b trong giy
n tiền đã ghi, giấy mượn tiền hai bên thỏa thuận lãi suất 1%/tháng, thời
hạn hai bên không ấn định thi hn tr tin gốc khi nào bà cần thì bà báo trước anh
V một tháng đ anh V tr bà số tiền đã vay, hai bên ấn định hàng tháng phải tr lãi,
tiền lãi bắt đầu tính từ tháng 09/2020, toàn b là chữ viết, ch “Vỹ, Trần Văn
Vtrong mục người vay tiền ch ký, chữ viết ca anh V, còn chữ viết, ch
“Đoàn Thị T” trong mục người cho vay là chữ ký của bà.
Anh V vay tin mục đích đ làm vốn làm nghề đậu gia đình, số tiền vay này
có liên quan đến v anh V là chị Tng Th V1, sinh năm 1978 cùng địa ch vi anh
V, s tiền vay là làm ăn của gia đình anh V, đ ngh Tòa án đưa vợ anh V o tham
gia t tng trong v án. Số tiền cho anh V vay số tin của nhân không
liên quan đến chồng ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1943 t dân phố H,
phưng N, tnh Bc Ninh, bà và ông T1 đã ly hôn từ lâu khoảng năm 1975.
T khi viết giy vay tiền đề ngày 14/8/2020 thì anh V đã trả cho cụ th
đưc tng s tiền lãi là bao nhiêu thì bà không nh, theo s bà cung cấp thì bà trình
bày như sau:
Ngày 14/9/2020 anh V đã trả lãi 1.500.000 đồng, ngày 14/10/2020 anh V đã
tr lãi 1.500.000 đồng, ngày 14/11/2020 anh V tr tiền lãi 1.500.000 đồng, ngày
14/12/2020 anh V tr tiền lãi 1.500.000 đồng, ngày 14/01 ngày 14/02/2021 tr
cho tiền lãi được 3.000.000 đồng. Ngày 14/3 và ngày 14/4/2021 tr tiền lãi
3.000.000 đồng, ngày 14/5/2021 trả tiền lãi 1.500.000 đồng, ngày 14/6/2021 trả
tiền lãi 1.500.000 đồng, ngày 22/8/2022 trả tiền lãi 1.500.000 đồng, tháng
09/2022 đã tr tiền lãi 1.500.000 đồng, tháng 10/2022 đã trả tiền lãi
1.500.000 đồng, tháng 11/2022 đã tr tiền lãi 1.500.000 đồng, tháng 12/2022 đã
tr tiền lãi 1.500.000 đng, tháng 01/2024 (trong sổ ghi 30/1/2023 nhưng thc
tế là trả lãi tháng 01/2024) vợ anh V ch V1 đã trả bà tiền lãi 2.000.000 đồng, tháng
02/2023 đã tr tiền lãi 1.500.000 đồng, tháng 03/2023 đã trả tiền lãi
1.500.000 đồng. Ngày 30/8/2023 dương lịch tức ngày 15/7/2023 âm lịch ghi
chốt lãi T là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), sau đó anh V tr bà tiền lãi
1.000.000 đồng còn lại n 9.000.000 đồng tiền lãi. Ngày 01/6/2024 trả bà tiền lãi
1.500.000 đồng. Toàn bộ các lần tr lãi đều chữ của anh V, ch V1 xác
nhn tr bên dưới phn tin tr.
T ngày 01/6/2024 cho đến nay anh V không trả được cho s tiền lãi nào
na. S tin gc vay của 150.000.000 đồng cho đến nay anh V chưa trả đưc
cho bà khoản tiền nào. Từ đó cho đến nay bà có đòi anh V liên tục nhiu lần nhưng
anh V vẫn không tr cho được khon tiền nào nữa ngoài khoản tiền lãi đã trả
như bà trình bày ở trên.
3
Nay khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buc anh Trần Văn V chị
Tng Th V1 phi tr cho bà số tin gốc đã vay là 150.000.000 đồng (một trăm lăm
mươi triệu đồng) theo giy vay tin (giấy mượn tiền) đ ngày 14/8/2020 và tiền lãi
1%/tháng kể t ngày vay 14/8/2020 đến ngày xét x thẩm nhưng được tr đi
s tiền lãi anh V đã trả.
Tại phiên tòa sơ thẩm bà Đoàn Thị T có mặt trình bày: Bà vẫn gi nguyên yêu
cu khi kiện, ngoài ra bà không trình bày ý kiến gì khác.
* Ti bn t khai, biên bản ly li khai tiếp theo tại phiên tòa b đơn anh
Trần Văn V trình bày:
Anh và bà Đoàn Thị T không có mi quan h gì, anh và bà T là hàng xóm của
nhau. Ngày 14/8/2020 theo giấy mượn tiền anh vay của T s tin
150.000.000 đng (một trăm lăm mươi triệu đng), anh và bà T viết giấy mượn
tiền, toàn bộ ch viết trong giấy mượn tiền chữ viết ca anh, giấy mượn tin
đưc viết tại nhà anh, lúc viết giấy n tiền mặt anh và T, ngoài ra không
ai khác. Sau khi viết giy vay tiền xong T đưa anh đủ s tin 150.000.000
đồng (một trăm lăm mươi triệu đồng), hai bên không viết thêm giấy t gì khác.
C th toàn bộ nội dung hai bên thỏa thuận như ni dung trong giấy mượn
tiền đã ghi, giấy mượn tiền hai bên có tha thuận lãi suất là 1%/tháng, thời hn hai
bên không ấn định thi hn tr tin gc, ấn định hàng tháng phi tr lãi, tiền lãi bắt
đầu tính t tháng 09/2020, toàn bộ chữ viết, ch Vỹ, Trần Văn V” trong
mục người vay tiền là ch ký, chữ viết ca anh, còn chữ viết, ch ký “Đoàn Thị T
là chữ ký, chữ viết của bà T.
Anh vay tin mục đích để làm nghề đu, s tiền vay này không liên quan
đến v anh chị Tng Th V1, sinh năm 1978 cùng đa ch vi anh, s tiền vay là
làm ăn riêng của anh, không liên quan gì đến v anh, ti thời điểm anh làm đậu ch
V1 phụ giúp anh, đề ngh Tòa án không đưa v anh vào tham gia tố tng trong
v án. Số tiền T cho anh vay là của ai thì anh không biết.
T khi viết giy vay tiền đề ngày 14/8/2020 thì anh đã trả cho T c th
đưc tng s tiền lãi bao nhiêu thì anh không nhớ, theo s T cung cấp thì anh
trình bày như sau:
Ngày 14/9/2020 anh V đã trả lãi 1.500.000 đồng, ngày 14/10/2020 anh V đã
tr lãi 1.500.000 đồng, ngày 14/11/2020 anh V tr tiền lãi 1.500.000 đồng, ngày
14/12/2020 anh V tr tiền lãi 1.500.000 đồng, ngày 14/01 ngày 14/02/2021 tr
cho bà T tiền lãi được 3.000.000 đồng. Ngày 14/3 ngày 14/4/2021 tr bà T tin
lãi 3.000.000 đồng, ngày 14/5/2021 trả T tiền lãi 1.500.000 đồng, ngày
14/6/2021 tr T tin lãi 1.500.000 đồng, ngày 22/8/2022 trả T tiền lãi
1.500.000 đồng, tháng 09/2022 đã tr bà T tiền lãi 1.500.000 đồng, tháng 10/2022
đã trả T tiền lãi 1.500.000 đồng, tháng 11/2022 đã trả T tiền lãi 1.500.000
đồng, tháng 12/2022 đã trả T tiền lãi 1.500.000 đồng, tháng 01/2023 (trong s
ghi 30/1/2023 nhưng thực tế trả lãi tháng 01/2024 do anh ghi nhầm) đã trả T
tiền lãi 2.000.000 đồng, tháng 02/2023 đã tr T tiền lãi 1.500.000 đồng, tháng
3/2023 đã trả T tiền lãi 1.500.000 đồng. Ngày 30/8/2023 dương lch tức ngày
15/7/2023 âm lịch ghi chốt lãi T là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), sau
đó anh trả T tiền lãi 1.000.000 đồng còn li n 9.000.000 đng tiền lãi. Ngày
4
01/6/2024 tr T tiền lãi 1.500.000 đng. Sau thời gian ngày 01/6/2024 cho đến
nay anh không trả được cho T s tiền lãi nào nữa. S tin gốc vay T
150.000.000 đồng cho đến nay anh chưa trả được cho bà T khon tin gốc nào.
Nay bà T khởi kiện yêu cầu đòi anh số tiền nợ gốc là 150.000.000 đồng và lãi
suất 1%/tháng từ khi vay cho đến ngày xét xử. Anh không đồng ý với yêu cầu khởi
kiện của bà T với lý do: Vì hiện tại gia đình anh đang rất khó khăn, anh xác định số
tiền gốc còn nợ T 150.000.000 đồng, anh xin trả dần T số tiền gốc
2.500.000 đồng/tháng đến 3.000.000 đồng/tháng, còn tiền lãi T yêu cầu anh
phải trả thì anh xin trả bà T sau sau khi anh đã trả hết tiền gốc cho bà T.
Tại phiên tòa thẩm ông V mặt trình bày: Anh vn gi nguyên ý kiến đã
trình bày, ngoài ra anh không có ý kiến gì khác.
* Người quyền lợi nghĩa v liên quan chị Tng Th V1 tại biên bản ly li
khai có trình bày:
Ch đã nhận được thông báo thụ của v án, chị vợ ca anh Trần Văn V,
vic anh V chng ch vay của T 150.000.000 đồng thì chị không biết việc này,
sau này T sang nhà đòi tiền thì chị mi biết sự vic, ch không vay nên chị
cũng không tham gia ý kiến khi T sang đòi tiền. Nay quan điểm ca ch vic
vay tiền cá nhân anh V thì đề ngh anh V tr tiền cho bà T ch ch không liên quan,
ngoài ra chị V1 không trình bày nội dung gì khác.
Tại phiên tòa sơ thẩm ch Tng Th V1 có đơn xin xét xử vng mt.
Với nội dung trên, bản án dân sthẩm số 04/2026/DS-ST 22/01/2026 của
Toà án nhân dân khu vực 2 –Bắc Ninh đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39; khoản 3 Điều 144; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271;
khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 463, Điều 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Điều 27; Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Xử:
[1] Về yêu cầu khởi kiện:
Chp nhận yêu cầu khi kin ca bà Đoàn Thị T. Buc anh Trần Văn V, ch
Tng Th V1 phải liên đới tr cho bà Đoàn Thị T tng s tiền 217.900.000 đồng
(hai trăm ời bẩy triệu chín trăm nghìn đồng). Trong đó tiền gốc 150.000.000
đồng (một trăm lăm mươi triệu đồng) và tiền lãi là 67.900.000 đồng (sáu mươi bẩy
triệu chín trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử thẩm cho đến khi thi hành án xong
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với
thời gian chưa thi hành án.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền thi hành án đối
với các đương sự.
5
Sau khi xét xử thẩm, ngày 04/02/2026, bị đơn ông Trần Văn V kháng cáo
một phần bản án dân sự thẩm đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự
thẩm theo hướng tuyên một mình ông trả nợ gốc lãi 217.900.000 và cho ông
trả nợ theo quý 3 tháng/1 lần.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn
giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được về việc giải
quyết nội dung vụ án.
Bị đơn anh Trần Văn V trình bày: Anh vay của bà T số tiền 150.000.000 đồng
để đầu sản xuất làm nghề đậu phụ nhưng do làm ăn thua lỗ nên anh chưa trả
được cho T. Số tiền này do anh vay nhân, không liên quan đến vợ anh.
Anh đề nghị được trả nợ gốc trước, lãi sau, trả 3 tháng/ 1 lần số tiền 6 triệu đến 7
triệu rưỡi. Mỗi tháng trả 2-3 triệu, khoảng 6-7tr rưỡi/ 3 tháng ạ.
Nguyên đơn Đoàn Thị T trình bày: đã 80 tuổi, không tiền lương,
phải nuôi cháu nhỏ ăn học nên không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của anh V
đề nghị anh V trả tiền cho bà như bản án sơ thẩm đã tuyên.
+ Đại diện VKSND tỉnh Bắc Ninh phát biểu:
V t tng: T khi th lý cho đến khi Ngh án, thm phán, Thư khý và HĐXX
thc hin đầy đủ các trình t, th tc t tng đảm bo quy định ca BLTTDS.
V vic chp hành pháp lut ca người tham gia t tng: Đã thc hin đúng
các quyền, nghĩa v được quy định ti Điu 70, 71, 72, 73 BLTTDS.
V ni dung: Đề ngh HĐXX áp dụng khon 1 Điu 308 B lut t tng dân
s, x: Không chp nhn kháng cáo ca anh V, gi nguyên bn án sơ thẩm số
04/2026/DS- ST ngày 22/01/2026 ca Tòa án nhân dân khu vực 2-Bắc Ninh.
Án phí DSPT: Anh Trần Văn V phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Anh Trần Văn V kháng cáo trong thời hạn luật định nên xác định kháng
cáo là hợp lệ.
[1.2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Tống Thị V1 vắng mặt đã
đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án xét xvắng mặt chị V1 đảm bảo quy định tại
Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] V ni dung v án: Căn cứ giấy mượn tiền đề ngày 14/8/2020 thì anh Trần
Văn V vay của Đoàn Thị T stiền gốc 150.000.000 đồng, lãi suất 1%/1
tháng (tương ứng 12%/1 năm), không thỏa thuận thời hạn. Sau đó đến hạn trả nợ
tiền lãi của khoản vay anh V đã thực hiện trả lãi một số lần sau đó anh V không
thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà T.
6
Nay Đoàn Thị T đnghị anh Trần Văn V, chị Tống Thị V1 phải phải
trách nhiệm trả stiền nợ gốc theo giấy mượn tiền tr tiền lãi 01%/tháng k t
ngày 14/8/2020 đến ngày xét x thẩm. Bản án sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn bà Đoàn Thị T. Buộc anh Trần Văn V, ch Tng Th V1
phải liên đới tr cho Đoàn Thị T tng s tiền 217.900.000 đồng (hai trăm
mười bẩy triệu chín trăm nghìn đồng). Trong đó tiền gốc là 150.000.000 đồng (mt
trăm lăm mươi triệu đồng) tiền lãi 67.900.000 đồng (sáu mươi bẩy triệu chín
trăm nghìn đồng).
Sau khi xét xử thẩm, bị đơn anh Trần Văn V nộp đơn kháng cáo đề nghị
Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng tuyên một mình ông trả n
gốc và lãi 217.900.000 và cho ông trả nợ theo quý 3 tháng/1 lần.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử thấy:
Căn cứ tài liệu do phía nguyên đơn cung cấp: Ngày 14/8/2020, anh V vay
của T số tiền 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng), lãi suất
1%/tháng. Hai bên đã lập giấy vay tiền (giấy mượn tiền) tại nhà anh V, toàn bộ nội
dung giấy vay do anh V viết tay, chữ ký của anh V ở phần người vay chữ ký
của T phần người cho vay. Việc này được thể hiện nội dung trong Giấy
mượn tiền bản gốc nguyên đơn xuất trình cho Tòa án. Quá trình làm việc với
Tòa án, bị đơn là anh V cũng xác nhận có vay của bà T số tiền trên, có ký vào Giấy
mượn tiền. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai của anh V, chV1 đều thể
hiện mục đích anh V vay stiền trên của bà V1 để kinh doanh bán đậu phụ.
Việc kinh doanh này chị V1 biết và thường xuyên phụ giúp anh V. Xét thấy,
việc vay mượn tiền của anh V xảy ra trong thời kì hôn nhân. Tuy chị V1 không có
chữ trong mục người vay tiền tại các giấy mượn tiền ngày 14/8/2020 nhưng chị
V1 đã 01 lần trả lãi cho T được T, anh V xác nhận. Anh V xác định việc
vay mượn tiền này không sử dụng vào việc phát triển kinh tế chung của gia đình
tuy nhiên tại phiên tòa anh trình bày tiền làm đậu sử dụng mục đích chung cho gia
đình. Vì vậy có căn cứ để xác định chị V1 phải chịu trách nhiệm liên đới với anh V
đối với các khoản vay này. Do đó, HĐXX thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn, là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Đối với yêu cầu của anh Trần Văn V đề nghị được trả dần theo quý 3 tháng 1
lần, xét thấy, nội dung này không được ghi nhận trong Giấy mượn tiền đề ngày
14/8/2022 giữa anh Trần Văn V và bà Đoàn Thị T. Tại phiên tòa, T không đồng
ý với yêu cầu này của anh V. Do đó, kháng cáo của anh Trần Văn V về nội dung
này là không có căn cứ chấp nhận.
Tại phiên tòa phúc thẩm, phía bị đơn không cung cấp thêm được tài liệu,
chứng cứ nào khác để bảo vệ cho kháng cáo của mình.
7
Từ những đánh giá trên, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Trần Văn
V, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 04/2026/DS-ST ngày 22/01/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh.
[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên anh Trần
Văn V phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội
đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận
kháng cáo của anh Trần Văn V; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 04/2026/DS-
ST ngày 22/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân
sự; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Anh Trần Văn V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng
được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp tại
Biên lai s0001329 ngày 10/02/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh. Xác
nhận anh V đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bn án phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Bắc Ninh;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND khu vực 2-Bắc Ninh;
- THADS tỉnh Bắc Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu HS
Nguyễn Ngọc Chung
Tải về
Bản án số 162/2026/DS-PT Bản án số 162/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 162/2026/DS-PT Bản án số 162/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất