Bản án số 333/2026/DS-PT ngày 30/06/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng thuê tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 333/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 333/2026/DS-PT ngày 30/06/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng thuê tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 333/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông Trần Thanh H khởi kiện đối với ông Hoàng Văn A yêu cầu trả lại tài sản cho thuê và bồi thường thiệt hại.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 333/2026/DS-PT Bản án số 333/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 333/2026/DS-PT Bản án số 333/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 333/2026/DS-PT
Ngày 30 - 6 - 2026
V/v tranh chấp hợp đồng thuê tài sản
và yêu cầu bồi thường thiệt hại
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Công Bình.
Các Thẩm phán: 1. Ông Lý Thơ Hiền;
2. Bà Nguyễn Thị Hải Âu.
- Thư ký phiên toà: Nguyễn Thị Oanh Hương - Thẩm tra viên Tòa án nhân
dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Trương Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét x
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 113/2026/TLPT-DS ngày 05/5/2026 v
việc “Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản yêu cầu bồi thường thiệt hại”. Do Bản
án dân sự thẩm số 02/2026/DSST ngày 27/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực
9 - Đắk Lắk bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 286/2026/QĐXX-
PT ngày 09/6/2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần Thanh H, sinh năm 1992;
Nơi thường trú: Thôn A, E, tỉnh Đắk Lắk; chỗ hiện nay: Tổ dân phố A
(nay là thôn A), xã P, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền ca nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh L, sinh năm
1988 và ông Lê Vĩnh H1, sinh năm 1954 (Văn bản uỷ quyền ngày 19/5/2025); cùng
địa chỉ: Số nhà H, đường G, E, tỉnh Đắk Lắk (Ông L mặt, ông H1 đơn đề
nghị xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Hoàng Văn A, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn D E, E, tỉnh
Đắk Lắk - Có mặt.
Người đại diện ủy quyền của bị đơn: Ông Triệu Phúc T, sinh năm 1997; địa
chỉ: Thôn A, xã E, tỉnh Đắk Lắk (Văn bản uỷ quyền ngày 11/8/2025), có mặt.
3. Người làm chứng:
3.1. Ông Đinh Hoàng L1, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn T, xã E, tỉnh Đắk Lắk,
vắng mặt;
2
3.2. Ông Phan Trọng H2, sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ dân phố A, xã P, tỉnh Đắk
Lắk, vắng mặt;
3.3. Ông Nông Hồng M, sinh năm 2008; địa chỉ: Thôn D E, E, tỉnh Đắk Lắk,
vắng mặt.
4. Người kháng cáo: Bị đơn ông Hoàng Văn A.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*/ Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn
ông Trần Thanh H người đại diện y quyền của nguyên đơn trình bày nội dung
như sau:
Ngày 14/12/2024, ông Trần Thanh H ký hợp đồng với ông Hoàng Văn A để
thuê trang trại chăn nuôi lợn gia công, phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp
tạo ra sản phẩm chăn nuôi chất lượng cao (Nuôi heo giống; Số lượng nuôi dự
kiến: 700 con; Quy -diện tích chăn nuôi: 370m
2
tương đương với 02 dãy chuồng,
bao gồm 06 chuồng úm và 01 kho chứa thức ăn). Thời hạn hợp đồng là 36 tháng, kể
từ ngày 14/12/2024 đến ngày 14/12/2027. Thời gian thuê là 03 năm + - (cộng - trừ)
10% với tổng số tiền thuê 03 năm. Ông H đặt cọc cho ông A số tiền 100.000.000
đồng, kể từ ngàyhợp đồng. Ông H sẽ thanh toán tiền thuê chuồng trại cho ông A
theo từng lứa heo xuất bán ra thị trường, mỗi lứa với tổng chi phí: Bao gồm tiền thuê
chuồng trại, điện nước, tiền thuê 01 nhân công, trang thiết bị chuồng trại là 60.000
đồng/01 con heo xuất bán ra thị trường trong vòng 20 ngày, kể từ ngày nhập vào
chuồng. Ông A phải cung cấp chuồng trại đạt theo yêu cầu của bên ông H (Chuồng
trại đạt chuẩn, bảo đảm về an ninh, hệ thống điện, nước, bể lọc, hệ thống thải, đảm
bảo vệ sinh an toàn sinh học...). Trong thời gian 30 ngày mà ông H không nhập heo
vào chuồng để úm, thì bên ông H phải hỗ trợ cho bên ông A số tiền 15.000.000 đồng
chi phí khấu hao chuồng trong 01 tháng. Đồng thời, các điều, khoản khác của hợp
đồng quy định quyền, nghĩa vụ của các bên; chấm dứt, thanh hợp đồng; bồi
thường, phạt vi phạm; giải quyết tranh chấp.
Trong thời gian thực hiệp hợp đồng, ông H đã đặt cọc tiền chuyển khoản
cho ông A hàng tháng đúng theo thỏa thuận qua tài khoản ông A tại A1. Tuy nhiên,
trong gần 05 tháng thực hiện hợp đồng, ông A đã tự ý xây thêm 01 chuồng trại chăn
nuôi song song, liền kề với trại chăn nuôi đã cho ông H thuê không báo trước
cho ông H biết, làm cho khu trại ông H thuê bị chắn gió, không thoáng mát, dẫn đến
gây ra dịch bệnh, ông H phải báo cáo với Trạm thú y mua thuốc về chữa trị, nhưng
đàn heo ông H đang nuôi trong chuồng cũng không qua khỏi đã chết 109 con heo,
trị giá thiệt hại 120.000.000 đồng. Khi thiệt hại xảy ra, ông H đền gặp ông A để
trao đổi, yêu cầu hủy hợp đồng, trả lại tiền cọc bồi thường thiệt hại cho ông H,
ban đầu ông A đồng ý, nhưng sau đó ông thay đối ý kiến nói không bồi thường
thiệt hại cho ông H.
Nhận thấy ông A sau khi ký kết và thực hiện hợp đồng với ông H là thiếu trách
nhiệm, chỉ biết thu nguồn lợi cho mình không quan tâm đến quyền lợi của đối
tác, gây thiệt hại về kinh tế cho ông H, vi phạm nghiêm trọng trong việc thực hiện
3
hợp đồng. vậy, ông H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông A phải trả
lại số tiền đặt cọc 100.000.000 đồng tiền gây thiệt hại làm 109 con heo ca ông
H bị chết, trị giá 120.000.000 đồng. Về yêu cầu phản tố của ông Hoàng Văn A, thì
ông H hoàn toàn không đồng ý vì không có căn cứ.
*/ Quá trình giải quyết vụ án tại phiên toà, bị đơn ông Hoàng Văn A và
người đại diện ủy quyền trình bày có nội dung như sau:
Ông A thừa nhận nội dung hợp đồng hai bên đã ký kết và sau khi ký hợp đồng,
ông H đã đặt cọc cho ông A số tiền là 100.000.000 đồng, mục đích đặt cọc để đảm
bảo việc thực hiện hợp đồng. Ông A đã thực hiện đầy đcác nghĩa vụ ntrong hợp
đồng, cụ thể: Giao đủ diện tích và cơ sở hạ tầng đúng thỏa thuận; đảm bảo hệ thống
điện, nước, xử chất thải, chuồng trại đạt yêu cầu; bố trí công nn htrợ theo
đúng cam kết. Khi nhận bàn giao chuồng trại, ông H không có ý kiến về hạ tầng
sở của chuồng trại, đồng ý nghiệm thu bàn giao.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông H đã vi phạm nhiều nghĩa vụ quan trọng
trong hợp đồng, như: Vi phạm nghĩa vụ về sốợng heo nhập nuôi - nhập không đ
số lượng heo, gây thiệt hại stiền 61.440.000 đồng; vi phạm nghĩa vụ thanh toán; vi
phạm nghĩa vụ vđảm bảo an toàn dịch bệnh từ con giống; đơn phương chấm dứt
hợp đồng trái pháp luật, gây thiệt hại trực tiếp cho quyền lợi hợp pháp của ông A.
Do đó, ông A không đồng ý nội dung yêu cầu khởi kiện của ông H.
Đồng thời ông A đơn phản tố yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên chấm dứt
Hợp đồng thuê trang trại chăn nuôi ngày 14/12/2024 giữa ông Hoàng Văn A Trần
Thanh H; công nhận việc ông A giữ lại khoản tiền đặt cọc 100.000.000 đồng; bác
bỏ toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Thanh H; buộc ông H bồi thường thiệt
hại phát sinh từ việc vi phạm nghĩa vụ hợp đồng số tiền (tạm nh đến ngày
22/8/2025) là 121.440.000 đồng, bao gồm: Tiền thất thu do không nhập đủ số lượng
heo 61.440.000 đồng; tiền hỗ trợ khấu hao chuồng trại cho 04 tháng, từ 22/4/2025
đến 22/8/2025 theo thỏa thuận hợp đồng 60.000.000 đồng buộc ông H phải tiếp
tục bồi thường khoản tiền khấu hao cho những tháng tiếp theo cho đến khi vụ án
được giải quyết xong và trang trại được cho thuê lại.
*/ Quá trình giải quyết vụ án, người làm chứng ông Đinh Hoàng L1 trình bày
nội dung: Về chuồng trại trước khi ông A bàn giao cho ông H thuê đã đảm bảo
và đạt tiêu chuẩn theo như thỏa thuận; khi con giống nhập về đã được kiểm dịch và
khỏe mạnh. Tuy nhiên trong quá trình chăn nuôi, thì đàn lợn mắc bệnh tai xanh. Còn
nguồn gốc lây lan dịch bệnh từ đâu, thì ông không nắm được không quan
thẩm quyền kiểm dịch kết luận. Ông A xây dựng thêm chuồng trại vào khoảng
thời gian xen kẽ giữa hai đợt ông H nhập heo (khi ông H không nuôi heo).
Tại Bản án dân sự thẩm số 02/2026/DSST ngày 27/01/2026 của Toà án
nhân dân khu vực 9 - Đắk Lắk đã quyết định:
Áp dụng: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
các Điều 147; 157; 165; 227; 235; 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các
Điều 116, 117, 119, 385, 398; các Điều từ 472 - 493 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết
4
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Thanh H về việc buộc ông Hoàng
Văn A trả lại 100.000.000 đồng tiền cọc.
Buộc ông Hoàng Văn A trả cho ông Trần Thanh H số tiền 100.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân
sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Thanh H về việc buộc ông
Hoàng Văn A bồi thường 120.000.000 đồng do thiệt hại.
3. Chấp nhận nội dung khởi kiện ca ông Hoàng Văn A về việc yêu cầu Tòa án
tuyên hủy hợp đồng giải quyết hậu quả của việc tuyên hủy hợp đồng theo quy
định của pháp luật.
Tuyên hủy: Hợp đồng thuê tài sản (Thuê chuồng trại chăn nuôi) ngày
14/12/2024 giữa ông Trần Thanh H với ông Hoàng Văn A.
Hậu quả của việc tuyên hủy hợp đồng: Buộc ông Trần Thanh H trả lại cho ông
Hoàng Văn An toàn B chuồng trại (có đặc điểm như trong hợp đồng mà các bên ký
kết và có đặc điểm như trong biên bản xem xét thẩm định tại chỗ).
4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn A về việc buộc ông
Trần Thanh H bồi thường tiền thất thu do không nhập đủ số lượng heo với số tiền
61.440.000 đồng.
5. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn A về việc buộc
ông Trần Thanh H bồi thường tiền hỗ trợ khấu hao chuồng trại 04 tháng
60.000.000 đồng và thiệt hại phát sinh.
Buộc ông Trần Thanh H trả cho ông Hoàng Văn A số tiền 15.000.000 đồng.
Không buộc ông Trần Thanh H trả cho ông Hoàng Văn A số tiền 45.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân
sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và tuyên
quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 09/02/2026, bị đơn ông Hoàng Văn A đơn
kháng cáo, với nội dung: Kháng cáo toàn bộ bản án, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm
sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông
Trần Thanh H và chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Hoàng Văn A.
5
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ
nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo, đồng thời yêu cầu
phía nguyên đơn ông Trần Thanh H phải trả khoản tiền hỗ trợ khấu hao chuồng trại
kể từ thời điểm ngày 28/4/2025 cho đến ngày xét xử phúc thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa trình bày ý
kiến: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán cũng như tại phiên
tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư và các đương sđã tuân thủ đúng các quy
định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội
đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng
cáo của bị đơn ông Hoàng Văn A; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết
quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng
cứ, lời trình bày của đương sý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận
định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đối với người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Lê Vĩnh H1
vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2
Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Vĩnh H1
phù hợp với quy định của pháp luật.
[1.2] Ông Trần Thanh H khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Hoàng Văn A phải
trả lại số tiền đặt cọc 100.000.000 đồng bồi thường thiệt hại đối với 109 con
heo 120.000.000 đồng, tổng cộng là 220.000.000 đồng. Ông Hoàng Văn A đơn
yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên chấm dứt Hợp đồng thuê trang trại chăn nuôi ngày
14/12/2024 giữa ông Hoàng Văn ATrần Thanh H; công nhận việc ông A giữ lại
khoản tiền đặt cọc; buộc ông H bồi thường thiệt hại phát sinh từ việc vi phạm nghĩa
vụ hợp đồng bao gồm tiền thất thu do không nhập đủ số lượng heo tiền hỗ trợ
khấu hao chuồng trại từ 22/4/2025 đến khi vụ án được giải quyết xong và trang trại
được cho thuê lại (tại phiên tòa phúc thẩm ông A yêu cầu hỗ trợ khấu hao chuồng
trại từ ngày 28/4/2025 đến ngày xét xử phúc thẩm). Như vậy, yêu cầu phản tố của
ông A là yêu cầu chấm dứt hợp đồng, yêu cầu buộc ông H bồi thường thiệt hại phát
sinh từ việc vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. n yêu cầu xử lý tiền đặt cọc ý kiến của
bị đơn. Việc Toà án cấp thẩm xác định toàn bộ yêu cầu của ông A yêu cầu phản
tố là không đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 200 của Bộ luật Dân sự.
[2] Đối với nội dung kháng cáo của bị đơn ông Hoàng Văn A, xét thấy:
[2.1] Xét Hợp đồng thuê trang trại chăn nuôi giữa bên thuê trang trại ông
Trần Thanh H với bên cho thuê trang trại ông Hoàng Văn A được ngày
14/12/2024, thấy rằng:
6
Hợp đồng thuê trang trại chăn nuôi giữa ông Trần Thanh H với ông Hoàng Văn
A ngày 14/12/2024, được ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, các bên có đầy đủ
năng lực hành vi dân sự, nội dung mục đích của hợp đồng không vi phạm điều
cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức hợp đồng phù hợp quy định pháp
luật. Do đó, hợp đồng phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm giao kết theo quy
định tại các Điều 117, 119, 385 và Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông H đã nhận bàn giao chuồng trại, đưa heo
vào chăn nuôi và trực tiếp khai thác sử dụng tài sản thuê. Ông H đã thanh toán cho
ông A tiền khấu hao của tháng 01, tháng 02 năm 2025 và tiền thuê chuồng trại của
02 đợt xuất heo. Đến ngày 22/4/2025, ông H đã ngừng hoạt động chăn nuôi, trả lại
chuồng trại và thông báo việc chấm dứt thực hiện hợp đồng nhưng không được ông
A đồng ý.
Ông H chấm dứt hợp đồng cho rằng ông A đã vi phạm hợp đồng, tự ý xây
thêm 01 chuồng trại chăn nuôi song song, liền kề với trại chăn nuôi đã cho ông H
thuê không báo trước cho ông H biết, làm cho khu trại ông H thuê bị chắn gió,
không thoáng mát, dẫn đến gây ra dịch bệnh. Hội đồng xét xử xét thấy: Ông H không
cung cấp được chứng cứ chứng minh việc xây dựng thêm chuồng trại của ông A là
nguyên nhân trực tiếp dẫn đến đàn heo của ông H bị dịch bệnh. Kết quả xét nghiệm
trong hồ sơ chỉ thể hiện có thời điểm đàn heo ca ông H xuất hiện mầm bệnh, nhưng
không xác định được nguồn lây bệnh cũng nnguyên nhân phát sinh dịch bệnh.
Mặt khác, người làm chứng ông Đinh Hoàng L1 xác nhận việc ông A xây dựng thêm
chuồng trại được thực hiện vào thời điểm giữa hai đợt nhập heo của ông H; ông H
biết việc xây dựng này nhưng không ý kiến phản đối, sau khi công trình hoàn
thành ông H vẫn tiếp tục nhập heo để nuôi. Bên cạnh đó, theo kết quả xem xét thẩm
định tại chỗ thhiện khu chuồng trại cho thuê vẫn bảo đảm diện tích, kết cấu, hệ
thống điện, nước, khu xử chất thải các điều kiện cơ bản theo thỏa thuận. Ông
H cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh ông A giao tài sản thuê không
đúng hiện trạng hoặc không đáp ứng điều kiện sử dụng theo hợp đồng. Do đó, ông
H đã đơn phương chấm dứt hợp đồng không theo quy định tại Điều 8 của Hợp đồng,
nên thuộc trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, ông A đề nghị Toà án huỷ hợp đồng với lý do ông
H thường xuyên thanh toán chậm trễ, không nhập đủ số lượng heo theo thoả thuận.
Xét thấy, tại Điều 1 của Hợp đồng, hai bên thoả thuận số lượng dự kiến là 700 con
không quy định đây mức sản lượng tối thiểu bắt buộc phải duy trì trong suốt
quá trình thực hiện hợp đồng; cũng không quy định chế tài hoặc phương pháp xác
định thiệt hại trong trường hợp bên thuê không đạt số lượng heo dự kiến. Đối với
việc thanh toán tiền của hai bên, hai bên không thoả thuận thời hạn cụ thể để thanh
toán tiền thuê chuồng trại cũng như chi phí khấu hao; đồng thời ông H cũng đã thanh
toán đầy đủ tiền cho ông A từ khi ký kết hợp đồng cho đến ngày 28/4/2025. Do đó,
việc ông A yêu cầu huỷ bỏ hợp đồng là không phù hợp.
Như vậy, đây hợp đồng hiệu lực đã được thực hiện một phần, không
thể xem hợp đồng như chưa từng tồn tại để tuyên hủy bỏ hợp đồng. vậy, có căn
7
cứ xác định hợp đồng thuê tài sản giữa ông H ông Anu H3 không thuộc trường
hợp hủy bỏ hợp đồng thuộc trường hợp chấm dứt thực hiện hợp đồng do một bên
vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, quan hệ hợp đồng thuê tài sản giữa ông H với ông A đã
chấm dứt ktừ thời điểm các bên ngừng thực hiện hợp đồng, ngày 22/4/2025. Do
đó, yêu cầu kháng cáo của ông A về việc tuyên chấm dứt hợp đồng được ký kết giữa
ông Trần Thanh H với ông Hoàng Văn A vào ngày 14/12/2024 căn cứ chấp
nhận.
[2.2] Xét số tiền đặt cọc 100.000.000 đồng:
Tại Điều 3 của Hợp đồng thuê trang trại chăn nuôi giữa bên thuê trang trại ông
Trần Thanh H với bên cho thuê trang trại ông Hoàng Văn A ngày 14/12/2024 nội
dung Bên A (ông H) cọc cho bên B (ông A) 100.000.000 đồng kể từ ngày ký hợp
đồng”. Sau khi ký hợp đồng, ông H đã giao đủ số tiền 100.000.000 đồng cho ông A.
Như vậy, số tiền 100.000.000 đồng số tiền cọc để đảm bảo việc thực hiện hợp
đồng.
Tại khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp
hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc
hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết,
thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt
cọc tchối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt
cọc một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp thỏa
thuận khác.”
Như đã phân tích trên, ông H người đơn phương chấm dứt hợp đồng,
người lỗi dẫn đến hợp đồng không thể tiếp tục thực hiện, do đó số tiền cọc tn
thuộc về ông A. Việc bản án thẩm nhận định rằng các bên không hợp đồng
đặt cọc riêng, không thỏa thuận phạt cọc nên phải trả lại tiền cọc”, để buộc ông A
phải hoàn trả cho ông H số tiền 100.000.000 đồng không căn cứ không đúng.
Bộ luật Dân sự không bắt buộc thỏa thuận đặt cọc phải được lập thành một hợp đồng
độc lập, chỉ cần các bên thỏa thuận ràng về việc giao một khoản tiền để bảo
đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng thì thỏa thuận đó đã phát sinh hiệu lực. Do
đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần sửa theo hướng không chấp nhận yêu cầu của ông
H về việc đòi lại tiền đặt cọc, là phù hợp với quy định của pháp luật.
[2.3] Đối với yêu cầu của ông Hoàng Văn A về việc buộc ông Trần Thanh H
phải bồi thường thiệt hại phát sinh từ việc vi phạm nghĩa vụ hợp đồng số tiền là
121.440.000 đồng (tạm tính đến ngày 22/8/2025), bao gồm: Tiền thất thu do không
nhập đủ số lượng heo 61.440.000 đồng; tiền hỗ trợ khấu hao chuồng trại cho 04
tháng (từ 22/4/2025 đến 22/8/2025) theo thỏa thuận hợp đồng 60.000.000 đồng,
Hội đồng xét xử xét thấy:
- Đối với khoản tiền thất thu do không nhập đủ số lượng heo 61.440.000
đồng, thấy rằng: Trong hợp đồng thuê tài sản ngày 14/12/2024 tại Điều 1 các bên
ghi nhận slượng heo dự kiến đưa vào chăn nuôi khoảng 700 con; Hợp đồng
không quy định đây là mức sản lượng tối thiểu bắt buộc phải duy trì trong suốt quá
trình thực hiện hợp đồng cũng không quy định chế tài hoặc phương pháp xác định
8
thiệt hại trong trường hợp bên thuê không đạt số lượng heo dự kiến. Do đó, bản án
sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Hoàng Văn A đối với khoản tiền
thất thu do không nhập đủ số lượng heo là 61.440.000 đồng là có căn cứ.
- Đối với khoản tiền hỗ trợ khấu hao chuồng trại cho 04 tháng (từ 22/4/2025
đến 22/8/2025) là 60.000.000 đồng (tại phiên tòa phúc thẩm ông Hoàng Văn A yêu
cầu hỗ trợ khấu hao chuồng trại từ ngày 28/4/2025 đến ngày xét xử phúc thẩm):
Tại mục 4 Điều 3 của Hợp đồng thuê tài sản ngày 14/12/2024 quy định:
Trong thời gian 30 ngày bên A không nhập heo vào chuồng để úm thì bên A phải
hỗ trợ cho bên B 15.000.000 đồng/ tháng chi phí khấu hao chuồng trại.
Nội dung quy định này là để bảo đảm quyền lợi của bên cho thuê (ông A) trong
quá trình thực hiện hợp đồng, bởi vì: Ông H sẽ thanh toán tiền thuê chuồng trại cho
ông A theo từng lứa heo xuất ra thị trường, nên nếu ông H không nhập heo vào
chuồng để úm trong thời gian thuê chuồng trại thì sẽ gây thiệt hại cho ông A, do đó
ông H phải có nghĩa vụ hỗ trợ tiền khấu hao chuồng trại cho ông A. Tuy nhiên, như
đã phận tích, nhận định tại mục [2.1] mục [2.2] ở trên, Hợp đồng thuê trang trại
chăn nuôi giữa ông Trần Thanh H với ông Hoàng Văn A đã chấm dứt do ông H là
người đơn phương chấm dứt hợp đồng ông H người lỗi dẫn đến hợp đồng
không thể tiếp tục thực hiện, nên số tiền đặt cọc để đảm bảo việc thực hiện hợp đồng
100.000.000 đồng đã thuộc về ông A. Do đó sẽ không phát sinh nghĩa vụ hỗ trợ
khấu hao chuồng trại yêu cầu của ông A về bồi thường khoản tiền hỗ trợ khấu
hao chuồng trại, là không có căn cứ chấp nhận.
[3] Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy một phần nội dung kháng cáo của bị đơn
ông Hoàng Văn A có cơ sở đchấp nhận, nên cần sửa bản án dân sự thẩm, theo
hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện ca nguyên đơn ông Trần Thanh
H chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Hoàng Văn A, như đã
phân tích và nhận định trên.
[4] Về chi phí tố tụng: Do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
nên nguyên đơn ông Trần Thanh H phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại
chỗ là 2.000.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng chi phí tố tụng ông H đã
nộp (đã thực hiện và chi phí xong).
[5] Về án phí:
[5.1] Án phí dân ssơ thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên áp phí dân sự sơ thẩm
được tính toán lại, cụ thể như sau:
Nguyên đơn ông Trần Thanh H phải chịu án phí dân sự thẩm khônggiá
ngạch đối với yêu cầu phản tố của ông Hoàng Văn A về việc yêu cầu Tòa án tuyên
chấm dứt hợp đồng thuê tài sản ngày 14/12/2024 được chấp nhận 300.000 đồng
phải chịu án phí dân sự thẩm giá ngạch đối với phần yêu cầu khởi kiện
không được chấp nhận là 11.000.000 đồng (220.000.000 đồng x 5%), tổng cộng án
phí ông H phải chịu là 11.300.000 đồng.
9
Bị đơn ông Hoàng Văn A phải chịu án phí dân sthẩm đối với phần yêu cầu
phản tố về bồi thường thiệt hại số tiền 121.440.000 đồng không được chấp nhận, c
thể án phí phải chịu là: 121.440.000 đồng x 5% = 6.072.000 đồng.
[5.2] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên
ông Hoàng Văn A không phải chịu án phí dân sự phúc thẩmđược nhận lại stiền
tạm ứng án phí đã nộp.
[6] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 và Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Hoàng Văn A; sửa Bản án dân
sự thẩm số 02/2026/DS-ST ngày 27/01/2026 của Toà án nhân dân khu vực 9 -
Đắk Lắk.
Áp dụng: Các Điều 117, 119, 328, 385, 401, 422, 428, 472 và 473 của Bộ luật
Dân sự năm 2015; Điều 26 và Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Thanh
H về việc yêu cầu ông Hoàng Văn A hoàn trả số tiền đặt cọc 100.000.000 đồng
yêu cầu ông Hoàng Văn A bồi thường thiệt hại số tiền là 120.000.000 đồng.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Hoàng Văn A.
2.1. Tuyên bố chấm dứt Hợp đồng thuê trang trại chăn nuôi giữa ông Trần
Thanh H và ông Hoàng Văn A ngày 14/12/2024.
Ông Hoàng Văn A được toàn quyền sở hữu đối với số tiền đặt cọc 100.000.000
đồng (một trăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi suất của số tiền
còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật
dân sự năm 2015.
3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Hoàng Văn A đối với yêu cầu
buộc ông Trần Thanh H bồi thường khoản tiền thiệt hại do không nhập đủ số lượng
heo là 61.440.000 đồng và khoản tiền hỗ trợ khấu hao chuồng trại cho 04 tháng (từ
22/4/2025 đến 22/8/2025) 60.000.000 đồng, khoản hỗ trợ phát sinh cho các
tháng tiếp theo cho đến khi vụ án được giải quyết xong.
10
4. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn ông Trần Thanh H phải chịu toàn bộ chi phí
xem xét, thẩm định tại chỗ 2.000.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng chi
phí tố tụng ông H đã nộp là 2.000.000 đồng (đã thực hiện và chi phí xong).
5. Về án phí:
5.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Nguyên đơn ông Trần Thanh H phải chịu số tiền án phí dân sự thẩm là:
11.300.000 đồng (mười một triệu ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền
tạm ứng án pđã nộp là 5.500.000 đồng (năm triệu năm trăm nghìn đồng), theo
Biên lai thu số AA/2023/0002813 ngày 16/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Ea H’leo (nay Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 - Đắk Lắk), ông Trần
Thanh H còn phải tiếp tục nộp số tiền là 5.800.000 đồng (năm triệu tám trăm nghìn
đồng).
- Bị đơn ông Hoàng Văn A phải chịu 6.072.000 đồng (sáu triệu không trăm bảy
mươi hai nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án
phí đã nộp 3.036.000 đồng (ba triệu không trăm ba mươi sáu nghìn đồng) đã nộp
theo Biên lai thu số 0000678 ngày 09/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk,
ông Hoàng Văn A còn phải tiếp tục nộp số tiền 3.036.000 đồng (ba triệu không
trăm ba mươi sáu nghìn đồng).
5.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Hoàng Văn A không phải chịu án
phí dân sự phúc thẩm và được nhận lại stiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000
đồng (ba trăm nghìn đồng), theo Biên lai thu số 0002255 ngày 06/3/2026 của Thi
hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi nh án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b
Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TAND tối cao (Vụ 2); THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND khu vực 9 – Đắk Lắk;
- TAND khu vực 9 – Đắk Lắk;
- THADS tỉnh Đắk Lắk; (Đã ký)
- Các đương sự;
- Cổng thông tin điện tử Tòa án;
- Lưu Hồ sơ vụ án. Trương Công Bình
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 333/2026/DS-PT Bản án số 333/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 333/2026/DS-PT Bản án số 333/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất