Bản án số 164/2026/DS-PT ngày 23/06/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 164/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 164/2026/DS-PT ngày 23/06/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 164/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp giữa Nguyễn Duy T và bà Đỗ Thị H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 164/2026/DS-PT Bản án số 164/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 164/2026/DS-PT Bản án số 164/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PTHỌ
Bản án số: 164/2026/DS-PT
Ngày 23 - 6 - 2026
“V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
và yêu cầu tháo dỡ tài sản trên đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NN DÂN TỈNH P THỌ
- Thành phần Hội đng xét xphúc thm gồm :
Thm phán - Chủ toạ phn toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Các Thm phán: Ông Nguyễn Duy Sơn và bà Nguyễn Thị M Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị La - Thư ký a án nhân dân tỉnh Phú Th
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Th tham gia phiên toà: Ông Trần
Xuân Hùng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở a án nhân dân tỉnh Phú Th
xét xphúc thẩm công khai v án th lý số: 43/2026/TLPT-DS ny 09 tháng 02
năm 2026 vviệcTranh chấp quyền sử dng đất và yêu cầu tháo dtài sản trên
đất".
Do bản án dân sự thẩm số 32/2025/DS-ST ny 29 tháng 12 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vc 8 Phú Th bị kháng cáo theo Quyết định đưa v
án ra xét xử số: 129/2025/QĐ-DS ngày 09 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Duy T, sinh năm 1980, đa chỉ: Thôn H, xã X,
tỉnh Phú Th.
Người đi diện theo y quyền của ông T ông Trần Quc H, sinh năm
1963; đa chỉ: Tổ dân ph C, phường V, tỉnh Phú Th, (Văn bản y quyền ny
15 tháng 12 năm 2025), mặt”.
2. Bị đơn: Bà Đỗ Thị H1, sinh năm 1968, địa chỉ: Thôn Q, xã B, tỉnh Phú
Thọ, “có mặt”.
3. Người quyền lợi nghĩa vụ ln quan:
3.1.Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc.
Đơn vị kế tha quyền và nghĩa v:
Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh P. Địa chỉ trụ sở: S nhà A, Đại L
H, phường V, tỉnh Phú Th. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Huy N,
chức v: Giám đc.
2
Người đại diện theoy quyền của ông N: Ông Trần Xuân M, chức v: Giám
đc Chi nhánh n phòng Đ (Văn bản y quyền ngày 12 tháng 9 năm 2025) ),
vắng mặt”.
3.2. Bà Lương Th Minh T1, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn H, xã X, tỉnh
Phú Th. vắng mặt”.
4. Người làm chứng:
4.1. Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1985, vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn Đ, X, tỉnh Phú Th.
4.2. Ông Kim Văn K, sinh năm 1962, vắng mặt”.
Địa chỉ: Thôn H, B, tỉnh Phú Th.
4.3. Ông Đn H3, sinh năm 1961, vắng mặt”.
4.4. Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1966, vắng mặt”.
4.5. Bà Đ Thị T2, sinh năm 1964, vắng mặt”.
4.6. Bà Lê ThL, sinh năm 1961, vắng mặt”.
4.7. Bà Tạ ThL1, sinh năm 1969, vắng mặt”.
Cùng địa chỉ: Thôn Q, B, tỉnh Phú Th.
Người khángo: Bà Đ Thị H1.
NỘI DUNG VÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 29 tháng 10 năm 2024 các lời khai tiếp theo
ông Nguyễn Duy T người đi diện theo y quyền của nguyên đơn là ông Trần
Quc H trình bày:
Ông Nguyễn Duy T và bà Lương ThMinh T1 được nhà nước công nhận
và cấp Giấy chng nhận quyền sử dng diện ch đất, quyền sở hu nhà và i
sản gắn liền với đất đi với diệnch 250,5m
2
thửa đất số 555, tờ bản đ số 40
và diện ch 96,5m
2
, thửa đất số 554, tờ bản đ số 40; tổng diện ch của hai
thửa là 346,5m
2
tại Thôn Q, T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, nay là Thôn Q, B,
tỉnh Phú Th, do Sở Tài Ngun và Môi trường tỉnh V cấp ny 31 tháng 10 năm
2018, nguồn gc diện tích đất này là do ông T và vchng ông Nguyễn Đức H4,
bà Nguyễn ThH2 nhận chuyển nhượng từ ông Kim Văn K và Phùng Thị L
H5 (bà H5 đã chết) từ năm 2016; diện tích ban đầu nhận chuyển nhượng có thông
tin thửa đất số 437, tờ bản đ số 40, diện tích nhận chuyển nhượng ban đầu
1.083.4m
2
, ngoài ra ông T nhận chuyển nhượng diện ch 257.5m
2
đất, ngoài
Giấy chứng nhận quyền sử dng đất; sau khi nhận chuyển nhượng của ông K, bà
H5 thì đến ngày 09 tháng 6 năm 2016, Sở Tài ngun và Môi trường tỉnh V đã
cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất do ông T
3
m đại diện cho các đng sử dng là bà H2, ông H4, bà T1 và cùng nhau sử dng
toàn b thửa đất trên; đến tháng 8 năm 2016, vchng ông T và vchng ông
H4, bà H2 thống nhất tách đôi diện ch đất này, trong đó vchng ông H4, bà
H2 được tách diện tích 543,4m
2
, vchng ông T, bà T1 được phân định diện
ch là 540m
2
(trong đó 75m
2
đất và 465m
2
đất trng y lâu năm); đến ngày
23 tháng 6 năm 2016, vợ chng ông T được cấp GCNQSDĐ, quyền sở hu nhà
và tài sản khác gắn liền với đất đi với toàn b diệnch đất 540m
2
.
Tháng 9 năm 2018, vchồng ông T, bà T1 làm thủ tc chuyển đi mục
đích sử dng đi với 465m
2
đất trồng y lâu năm và diện tích đất trước
75m
2
, sau khi chuyển đi vchồng ông T diện ch đất 180m
2
và 360m
2
đất trồng cây lâu năm, để tiện cho việc sử dng nên vchồng ông T đã tách thành
04 tha đất bao gồm:
Thửa đất số 552, tờ bản đ số 40, diện tích96,5m
2
, trong đó 50m
2
đất
và 46,5m
2
đất trồng cây u năm, sau đó vchồng ông T chuyển nhượng diện
ch đất này cho ông Nguyễn Văn T3 và bà Nguyễn ThL2, ông T đã chuyển
nhượng xong.
Thửa đất số 553, tờ bản đ số 40, diện tích96,5m
2
, trong đó 50m
2
đất
và 46,5m
2
đất trồng cây u năm, sau đó vchồng ông T chuyển nhượng diện
ch đất này cho ông Nguyễn Hng V và Nguyễn Th L3, ông T đã chuyển
nhượng xong.
Thửa đất số 554, tờ bản đ số 40, diện tích96,5m
2
, trong đó 50m
2
đất
ở và 46,5m
2
đất trồng cây u năm, diện tích này đng tên vợ chng ông Nguyễn
Duy T, bà Lương Thị Minh T1.
Thửa đất số 555, tờ bản đ số 40, diện ch 250,5m
2
, trong đó 30m
2
đất và 220,5m
2
đất trồng cây lâu năm, diện ch này đứng tên vchồng ông
Nguyễn Duy T và bà Lương Thị Minh T1.
Ktừ khi vchồng ông T nhận chuyển nhượng của ông Kim n K đến
nay và khi được cấp GCNQSDĐ, quyền sở hu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất đến nay, ng như khi làm thủ tục quan nhà nước không ai khiếu nại,
thắc mắc gì.
Đến năm 2019, bà Đ ThH1 ngang nhiên chiếm dng đất của vchng ông T,
bà T1 đứng tên, năm 2021 bà H1 trồng y, đến năm 2024 bà H1 y dựng ờng
bao loan xung quanh tha đất, lúc bà H1 xây ờng, ông T đã có văn bản báo cáo
UBND xã T, huyện B và Công an xã T xong không được giải quyết.
Do diện tích đất này ông T nhận chuyển nhượng và đã được cấp GCNQSDĐ,
quyền sở hữu nhà và i sản khác gắn liền với đất là do ông T nhận chuyển
nhượng đkinh doanh, vchồng ông T đã đất nơi khác nên chưa sử dng
4
đến và chưa xây ờng nên vẫn đđất trống và trồng cây ngắn ny, sau đó ông
T thuê nời đ đất cao hơn mặt bẳng cho khi chũng thấp, như hiện trạng ngày
nay.
Việc xây dựng công trình trên đất của bà H1 là xâm phạm đến quyền và lợi
ích hợp pháp của ông T và bà Lương Thị Minh T1. Tại đơn khởi kiện ông T đề
nghị Tòa án giải quyết buc bà Đỗ ThH1, anh Đặng n H6 phải trả lại cho v
chồng ông T diện ch đất đã chiếm dng hai thửa đất, tha đất số 555, tờ bản
đ số 40 có diện ch yêu cầu phải trả là 250,5m
2
và thửa đất số 554, tờ bản đ số
40, có diện ch là 96,5m
2
, tổng diệnch của hai tha là 346,5m
2
tại thôn Q, xã T,
huyện B, tỉnhnh Phúc (cũ), đng thời dỡ b tài sản trên đất, trả lại diệnch đất
cho ông T.
Nay ông T sự thay đi yêu cầu khởi kiện, căn cứ vào kết quxem xét,
thẩm đnh tại chỗ ny 18 tháng 6 năm 2025, ông T đề nghị Tòa án giải quyết
buc bà Đ Thị H1 phải trlại cho ông diện ch đất đã chiếm dnghai thửa đất
thửa số 555, tờ bản đ số 40 có diện ch yêu cầu phải trả là 137.0m
2
và thửa số
554, tờ bản đ số 40, diện tích phải tr 59.2m
2
, (Tổng diện ch của hai tha
196.2m
2
) tại Thôn Q, T, huyện B, tỉnhnh Phúc, nay là Thôn Q, xã B, tỉnh
Phú Th và yêu cầu db tài sản trên đất bao gồm 03 đoạn ờng bao loan xây
gạch xi măng, bao gồm: 01 đoạn ờng t điểm 2- 3 - 4, chiều dài 9.46m,
cao3.2m; 01 đoạn từng từ điểm 2-9-10 dài 22.43m, cao 3.2m; 01 đoạn ờng t
điểm 5-10, dài 8.38m, cao 3.2m trên diện tích đất của ông Nguyễn Duy T bà
Lương Thị Minh T1
Riêng đi với diện ch đất 9.9m
2
và diện ch đất 18.0m
2
, do việc làm đường
giao tng lấn vào diện ch đất của ông T, tuy nhn ông T không yêu cầu Tòa án
giải quyết, ông T sẽ đề nghị chính quyền địa phương giải quyết sau.
Do ban đầu ông T cho rằng anh H6 bđơn vì anh H6 con của bà H1,
nay ông T xác định anh H6 không liên quan đến v án này, bức tường bao
quanh thửa đất là do bà H1 xây dựng lên nên ông T chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết
đi với bà H1.
Về chi phí tố tụng: Ông T xin tự nguyện np và không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Bị đơn là bà Đỗ Thị H1 trình bày: Không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của
ông T, vớido:
Vnguồn gốc diện tích đất đang tranh chấp thửa đất số 554 và thửa đất
số 555, đều ở tờ bản đ số 40, tại Thôn Q, xã B, tỉnh Phú Th được cấp GCNQSD
đất cho ông T và bà T1 là của bà H1, do bà H1 khai hoang, phc a từ những
năm 1990 đến nay, bà H1 không mua bán, chuyển nhượng với ai, tuy nhiên do
anh trai bà H1 ông Đn H3 đng tên trên sổ mục kê, bản đ địa chính của
5
xã quản lý, do tại thời điểm nhà nước xác lập bản đ, thực hiện việc kê khai và
cấp GCNQSDĐ thì bà H1 đang đi m ăn, sinh sống tại Hà Ni nên không mặt
nhà đm thủ tục kê khai, đứng n, xong bà H1 vẫn canh c từ đó đến nay;
đến năm 2004 thì ông Đ Văn H3 chuyển nhượng mt phần diện ch đất
1080m
2
của gia đình ông H3 cho ông Kim Văn K, trong đó gia đình ông H3 chỉ
chuyển nhượng cho ông K phần đất của gia đình ông H3, không chuyển nhượng
đến phần đất gia đình bà H1 vhoang; đến năm 2016, ông K chuyển nhượng toàn
b diện tích đất này cho ông T, tuy nhiên khi chuyển nhượng nhà nước chưa làm
đường giao thông, chưa làm, can vẽ, đo đạc bản đ VN 2000 nên chưa hình thành
con đường xung quanh tha đất, sau khi ông K đã chuyển nhượng cho ông T thì
các bên đã b ra mt phần đất làm đường giao thông nên khôngn đ diện tích
đất 1080m
2
như ông T nhận chuyển nhượng của ông H3 na, sau đó ông T và bà
H2, ông H4 chia nhau diệnch đất này m hai phần thì gia đình bà H2 đã chuyển
nhượng cho ông Nguyễn n T4 xây dãy nhà trọ, (phần không tranh chấp), ông
T đã chuyển nhượng hai xuất đất; do diện tích đất của ông T brút ra, không còn
đ, khôngn nữa nên nhà nước không thcấp GCNQSDĐ đ cho ông T được,
phần đấtn lại sau khi trừ đi, t ra diện tích đất phần làm đường giao thông của
diệnch đất làm đường, nằm trong tng diệnch đất 1080m
2
nên ông T được cấp
GCNQSDĐ đi với diện tích đất thửa 554 và tha đất số 555, đều tờ bản đ
số 40 không đúng, diệnch đất ông T được cấp GCNQSDĐ, quyền sở hu nhà
ở và i sản gắn liền với đất hiện nay chính diện ch đất của bà H1 khai hoang
và do ông Đ Văn H3 cho tặng, y quyền cho bà sử dng; do đó bà H1 không
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T và đnghị a án xem t vnh pháp
lý, h sơ cấp GCNQSDĐ cấp cho ông T, bà T1.
Diện tích đất này chỉ của bà H1, việc xây dựng công trình trên đất do
bà H1 thực hiện, không ln quan đến anh H6 con trai bà H1, khi bà H1 khai
hoang, anh H6 chưa được sinh ra nên không quyền lợi liên quan. Khi bà
canh tác ch trng rau màu, không xây dựng, kiến thiết , khi ông H3 đứng n
trên sổ mục kê, bản đ địa chính, phần đất do bà H1 khai hoang, bà H1 ng
không ý kiến gì vì là anh em trong gia đình. Do đó bà không nhất trí với yêu
cầu khởi kiện của ông T.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lương ThMinh T1 trình bày:
Bà là vcủa ông T và tài sản chung là quyền sử dụng đối với 02 tha
đất, thửa số 555, diện tích 250,5m
2
và thửa đất số 554, diện tích
96,5m
2
, (tổng diện tích của hai thửa 346,5m
2
), tại tờ bản đ số 40, Thôn Q,
xã B, tỉnh Phú Th, đã được Sở Tài Ngun và Môi trường tỉnh V cấp GCNQSDĐ
quyền sở hữu nhà và i sản khác gắn liền với đất ny 31 tháng 10 năm 2018;
ngun gốc diện ch đất này do vợ chồng ông bà và vợ chồng ông Nguyễn Đức
H4, bà Nguyễn Thị H2 nhận chuyển nhượng từ ông Kim Văn K; diện ch đất của
6
bà và ông T bĐ Thị H1 lấn chiếm và xây dng công trình trên đất, bà H1 lấn
chiếm ở thửa số 555, tờ bản đ số 40 diện ch lấn chiếm là 137.0m
2
và lấn chiếm
ở thửa số 554, tờ bản đ số 40; diện tích lấn chiếm là 59.2m
2
, (Tổng diện ch của
hai thửa là 196.2m
2
); nay ông T khởi kiện buc bà H1 phải trả lại diệnch đất lấn
chiếm và yêu cầu tháo di sản trên diện ch đất lấn chiếm, bà nhất trí với yêu
cầu khởi kiện của ông T, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy đnh của pháp luật.
Người quyền lợi, nghĩa vụ ln quan là STài nguyên i trường
tỉnh P, đơn vị kế tha quyền nghĩa vụ của Sở Tài nguyên i tờng tỉnh
V; đi diện theo y quyền là ông Trần Xuân M, Giám đốc Chi nhánh n phòng
Đ trình bày:
Ngày 30 tháng 5 năm 2016, Văn phòng Đ chi nhánh B tiếp nhận hđăng
ký biến đng do việc chuyển nhượng quyền sử dng đất 1083,4m
2
, thửa đất
số 437, tờ bản đồ số 40, (Trong đó 150m
2
đất và 933,4m
2
đất trồng cây lâu
năm) tại Thôn Q, (n của thôn Q) T, huyện B, tỉnhnh Phúc của h ông
Kim Văn K, chuyển nhượng cho ông Nguyễn Duy T, bà Lương Thị Minh T1 và
ông Nguyễn Đức H4, bà Nguyễn ThH2, do ông T làm đại diện đứng tên; tại thời
điểm này thì trên diệnch đất đã có đường giao thông về hai mặt của thửa đất và
GCNQSDĐ của ông K đã được chuyển thành hệ tọa đ VN B.
Sau khi tiếp nhận và thẩm định h n phòng Đ chi nhánh B thực hiện
luôn chuyển thông tin địa chính sang Chi cục thuế huyện B để xác định nghĩa v
i chính, sau đó Chi cục thuế huyện B, (nay Đi thuế liên ngành P) ban hành
thông báo lệ phí trước bạ và thông báo thuế thu nhập cá nhân đi với thửa đất nêu
trên; đến ny 08 tháng 6 năm 2016 chủ sử dng đất đã hoàn thành nghĩa v tài
chính theo thông báo của cơ quan thuế.
Ngày 09 tháng 6 năm 2016 Sở Tài ngun và Môi trường tỉnh V (cũ) cấp
GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà tài sàn gắn liền với đất cho các thành phần
nhận chuyển nhượng trên do ông Nguyễn Duy T làm đại diện.
Trong tổng số diện ch đất 1083,4m
2
, thửa đất số 437, tờ bản đ số 40
mà các bên nhận chuyển nhượng, thì đến ngày 23 tháng 9 năm 2016 thì do sự
thỏa thuận gia ông Nguyễn Duy T, bà Lương Thị Minh T1 với ông Nguyễn Đức
H4, bà Nguyễn ThH2 thì diện ch đất này được ch thành 02 tha; thửa đất
số 457, tờ bản đ số 40, diện ch 543,4m
2
đng tên ông H4 bà H2; thửa đất số
458, tờ bản đ số 40, diện tích 540m
2
đứng n ông T bà T1; lúc này ông H4, bà
H2 không liên quan đến diện ch đất tha đất số 458, tờ bản đ số 40 của ông
T, bà T1 nữa và sau đó bà H2, ông H4 chuyển nhượng diệnch đất này cho người
khác.
Do diện tích đất 540m
2
, ở thửa đất số 458, tờ bản đ số 40 đứng tên ông T,
bà T1 chỉ có 75m
2
diện tích đất là đất ở và 465m
2
diện tích đất là đất trồng cây lâu
7
năm nên ông T, bà T1 đã m đơn, np tiền sử dụng và xin chuyển đi mục đích
sử dụng đất; theo đó ông T xin chuyển đi mục đích sử dng đất, từ tng diện ch
đất trồng y lâu năm 465m
2
, ông T xin chuyển đi diện tích 105m
2
thành đất
ở”, ông T đã np tiền sử dng đất và được UBND huyện B phê duyệt cho
phép chuyển đi đất trồng y lâu năm thành đất ở; sau khi được chuyển đi thì
diệnch đất 540m
2
, ở thửa đất số 458, tờ bản đ số 40 của ông T có 180m
2
đất
và 360m
2
đất trồng cây lâu năm;
Đến ngày 15 tháng 10 năm 2018, ông T, bà T1 làm đơn xin ch thửa đất
đi với diệnch đất ở tha đất số 458, tờ bản đ số 40, thành 4 thửa đất và được
Văn phòng đăng ký đất đai c nhận, ký duyệt bản đ địa chính đối với 4 thửa đất
sau khi tách thửa; theo đó, diện tích đất 540m
2
, ở thửa đất số 458, tờ bản đ số 40
của ông T, bà T1, (180m
2
đất và 360m
2
đất trồng cây u năm), cụ thể, thửa
đất số 458 được tách thành:
Thửa đất số 552, tờ bản đ số 40, diện ch 96,5m
2
, (trong đó 50m
2
đất
và 46,5m
2
đất trồng cây lâu năm), vợ chng ông T, bà T1 chuyển nhượng diện
ch đất này cho ông Nguyễn n T3 bà Nguyễn Thị L2, ông T, bà T1 đã
chuyển nhượng xong.
Thửa đất số 553, tờ bản đ số 40, diện tích là 96,5m
2
, (trong đó 50m
2
đất
và 46,5m
2
đất trồng y lâu năm), vchồng ông T, bà T1 chuyển nhượng cho ông
Nguyễn Hng V và bà Nguyễn ThL3, ông đã chuyển nhượng xong.
Đối với 02 thửa đất còn lại là thửa đất số 554, tờ bản đ số 40, diện ch
96,5m
2
, (trong đó 50m
2
đất ở và 46,5m
2
đất trồng y lâu năm) thửa đất số 555,
tờ bản đ số 40, diệnch là 250,5m
2
, (Trong đó 30m
2
đất và 220,5m
2
đất trồng
cây u năm), hai diện ch này đứng tên vợ chồng ông T và bà T1.
Đại diện SNông nghiệp và Môi trường tỉnh P khẳng định: Việc chuyển
nhượng quyền sử dng đất giữa ông Kim Văn K cho ông Nguyễn Duy T, bà
Lương Thị Minh T1 ông Nguyễn Đức H4, Nguyễn ThH2 vào năm 2016
đúng quy đnh của pháp luật, do diệnch đất đủ điều kiện chuyển nhượng, h
sơ đã đầy đủđảm bảo vđiều kiện chuyển nhượng; việc chuyển nhượng và sau
đó cấp GCNQSDĐ, quyền sở hu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông
Nguyễn Duy T (đại diện cho các thành viên khác) đúng quy định của Luật Đất
đai; đi với h ch thửa đất của ông T, bà T1 với ông H4, bà H2 và h ch
thửa đất của ông T bà T1 thành 04 thửa đấtng đã đảm bảo đầy đ về điều kiện
thủ tục tách thửa chuyển đổi mục đích sử dng đất; ktừ khi ông T, bà Thu
nhận chuyển nhượng của ông K diện tích đất diện ch đất liên quan đến nay
thì Sở Nông nghiệp và Môi trường ng như Văn phòng Đ không nhận được bất
k khiếu nại liên quan đến việc cấp GCNQSDĐ, quyền sở hu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất cho ông T và bà T1; nay bà Nguyễn Thị H7 đề nghị xem t
8
g trị pháp và việc cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà và i sản khác gắn
liền với đất cấp cho ông T và bà T1, đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh
P đề nghị Tòa án xem t, giải quyết theo pháp luật.
Người làm chứng là ông Đn H3 (tức Đ Đức H8) trình bày: Bà H7
em gái ông; ông không biết T, bà T1, từ trước đến nay không có gì mâu thuẫn; v
ngun gốc diện ch đất ông T đang khởi kiện bà H7 của gia đình ông, do
b mẹ ông để lại từ những năm 1975 - 1976, sau đó cho gia đình ông sử dng từ
năm 1986, diệnch ban đầu của gia đình ông sử dng khoảng trên dưới 5 đến
6 sào Bắc b; đến 1993 gia đình ông được cấp GCNQSDĐ, (bìa đ) xong ông
không nhdiện ch chính xác, chỉ nhớ là 5 đến 6 sào, trong đó 300m
2
đất th
, vì không mun nh thuế, khi phải nộp nhiều nên gia đình chỉ kê khai 5-6
sào, xong thc tế thì diện ch này rộng hơn. Đến năm 2004 thì gia đình ông
chuyển nhượng cho ông Kim n K một phần diện ch đất của gia đình là khoảng
3 sào Bắc bộ, ơng đương với 360m
2
/1 sào, nh ra diện ch 1080m
2
, sau đó
gia đình ông K được cấp GCNQSDĐ, trong đó 150m
2
đất ở và 930m
2
đất vườn
ất trồng cây lâu năm); ktkhi cấp GCNQSDĐ cho ông K thì không ai thắc
mắc, khởi kiện, khiếu nại gì; khi gia đình ông K nhận chuyển nhượng của gia đình
ông xong thì chưa sử dụng đến, y cối mọc dại nhiều, không nhà máy xí
nghiệp nào xung quanh, cũng không ờng bao loan, hai bên chỉ chỉ tay cho
nhau, tại thời điểm gia đình ông chuyển nhượng cho ông K thì H7 đã đi y
dng gia đình, lấy chồng, bên cạnh, bà H7 khai hoang diện ch đất bên cạnh
diện ch đất gia đình ông chuyển nhượng cho ông K; khi gia đình ông chuyển
nhượng cho gia đình ông K thì chưa đường giao thông, đến khoảng năm 2011
đến năm 2012 thì theo chủ trương khuyến khích, mở đường giao thông nông thôn,
do chính quyền địa phương vận đng thì gia đình ông và gia đình ông K cùng
nhau hiến đất của gia đình để mở đường, mỗi bên hiến mt nửa để làm đường;
tuy nhiên ông không biết, không gia đình ông hiến bao nhu, gia đình ông
K hiến bao nhiêu và ông không tài liệu đchng minh; bản thân đình ông
không mâu thuẫn với mốc giới của gia đình ông K; đến năm 2016 gia đình
ông K được cấp đi GCNQSDĐ thì ông không biết đã được cấp đi; ông ng
không biết thời điểm ông K chuyển nhượng đất cho ông T vì gia đình ông khi đã
chuyển nhượng xong cho ông K thì không liên quan gì đi với diện tích đất này
na, xong ông cũng được biết từ năm 2016 đã thấy ông T ng một số người đến
sử dng, trồng cây ngắn ny trên diện ch đất này, ông nghe nói ông T đã
nhận chuyển nhượng của ông K; tại thời điểm năm 2016 thì bà H7 vẫn quê, bà
H7 đã lấy chng ng thônĐặng Văn V1, xong ông V1 đã chết vì tai nạn giao
thông; đến năm 2022 đến 2023 khi ông T đến xây dựng tường bao, đ đất thì xảy
ra tranh chấp với bà H7, bà H7 đã xây dựng tường bao loan, bằng gạch đá xi măng
xung quanh thửa đất; ông khẳng định diện tích đất gia đình ông đã bán chuyển
nhượng cho gia đình ông K mt phần vtrí đất hiện nay gia đình ông Nguyễn
9
Văn T4 (Mng)y nhà tr do gia đình ông T4 nhận chuyển nhượng của gia đình
bà H2, ông H4; phầnn lại gia đình ông T đã chuyển nhượng cho ai nữa thì ông
không biết, trên phần đấtn lại gia đình bà H7 đã xây tường bao loan, ông cũng
không biết vị trí đất gia đình bà H7 vhoang vtrí nào, diện tích đất vhoang
bao nhiêu, chỉ nhlà ở khoảng nơi vị trí tranh chấp, ôngng không biết việc
bà H7 xâyờng xung quanh đất thì vị trí này có phải là vị trí đất bà H7 vhoang
hay không; nay ông T khởi kiện bà H7 ông đnghị a án giải quyết theo pháp
luật.
Người làm chứng là ông Kim n K trình bày: Ông không anh em, h
hàng gì với ông T, T1, bà H7, ông H8, từ trước đến nay không mâu thuẫn,
ông vợ là bà Phùng Thị NH9, xong đã ly hôn và hiện bà H9 cũng đã chết;
Về một phần diện tích đất đang tranh chấp giữa ông T, bà T1 với bà H7,
ngun gốc tnăm 2004, ông nhận chuyển nhượng t ông Đ n H3 (tức Đ
Đức H8) bà Nguyễn ThN1 (vông H8), diện ch đất ông nhận chuyển nhượng
diện ch 1080m
2
, thửa đất số 25.1, tờ bản đồ số 03, đến ngày 30 tháng 6
năm 2004 ông được UBND huyện B, tỉnh nh Phúc cấp GCNQSDĐ đng tên
ôngchủ h, trong đó 150m
2
đất và 930m
2
đất trồng cây u năm; khi ông
nhận chuyển nhượng đã đường giao thông, là đường n đi lại của con,
xung quanh tha đất, trên đất đã có mt số cây ăn quả, cây trồng u năm và có
đt gạch thủ ng của gia đình ông H8, ông không biết và không thấy bà H7 xuất
hiện, làm ăn canh tác trên đất, đến năm 2008 2009 khi UBND huyện B
chính sách thu hút công nghiệp, mở rng địa bàn công nghiệp, ch trương mở
đường giao thông và có lấy diện ch đất của tập thể đmở đường, xong không
thu hi vào đất của gia đình ông, kể từ khi ông nhận chuyển nhượng và diện ch
đất nhận chuyển nhượng đã được cấp GCNQSD đất, không ai khiếu nại, thắc mắc
gì; đến năm 2016, do không có nhu cầu sử dng ông đã thỏa thuận chuyển nhượng
toàn b diện tích đất trên cho ông Nguyễn Duy T ng ba nời nhận chuyển
nhượng khác, do ông T m đại diện, trước khi làm th tục chuyển nhượng chính
thức thì diện ch đất ca ông đã được cấp đi lại GCNQSDĐ, đã được chuyển
sang hệ tọa đ V2; lúc này diệnch đất của ông thể hiện ở tha đất số 437, tờ bản
đ số 40, diện tích đo hiện trạng là 1.083,4m
2
, (Cao hơn so với lúc nhận chuyển
nhượng của hộ ông H8 3,4m
2
) và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V
cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất ngày 18 tháng 5
năm 2016; tại GCNQSDĐ, quyền sở hu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cấp cho
ông đã thể hiện rõđ, vtrí, htọa đ tha đất và đã đường giao thông chính
bao quanh thửa đất; đến ngày 06 tháng 6 năm 2016 gia đình ông đã kết hợp
đng chuyển nhượng toàn b diện tích đất này cho ông Nguyễn Duy T, bà Lương
Thị Minh T1, ông Nguyễn Đức H4 và bà Nguyễn ThH2, sau đó bên nhận chuyển
nhượng cũng đã được cấp GCNQSDĐ, quyền sở hu nhà ở và tài sản gắn liền với
10
đất ngày 09 tháng 6 năm 2016 đi với toàn b diện tích đất nhận chuyển nhượng,
không ai khiếu nại, thắc mắc ; ktừ đó gia đình ông không liên quan đến diện
ch này nữa; mặc đã chuyển nhượng xong, tuy nhn ông vẫn thường xuyên
qua lại diện ch đất này, ông biết diện ch đất ông chuyển nhượng cho ông T
chính một phần diện tích đất đang tranh chấp với bà H7 và vẫn đường
giao thông như ngày trước ông chuyển nhượng, ông khẳng định diện tích đất này
không phải diện tích đất vhoang của bà H7, nay các bên tranh chấp, ông đề
nghị Tòa án giải quyết theo quy đnh của pháp luật.
Người làm chứng là bà Nguyễn Thị N1 trình bày:
Bà là vông Đ Đức H8, (tức Đ n H3), bà H7 em gái chng bà, đi
với ông T, bà T1 bà không biết, từ trước đến nay, không có gì mâu thuẫn. Bà xác
nhận vthông tin diện ch đất, ngun gc đất, quá trình sử dng đất, quá trình
chuyển nhượng diện tích đất như ông H3 trình bày là đúng; khi gia đình bà chuyển
nhượng cho gia đình ông K thì chưa đường giao thông, đến khoảng năm 2011
đến năm 2012 thì theo ch trương khuyến khích, mở đường giao thông nông thôn
thì chính quyền đa phương vận đng gia đình mđường thì gia đình bà gia
đình ông K ng nhau hiến đất của gia đình đmở đường, mỗi bên hiến một
na đmở rộng đường, xong bà không biết, không gia đình hiến bao
nhu, gia đình ông K hiến bao nhu; bà cũng c nhận gia đình bà không có mâu
thuẫn với mốc giới của gia đình ông K; khi đã chuyển nhượng xong cho ông K
thì gia đình bà không ln quan gì đi với diện tích đất này nữa, tại thời điểm
chuyển nhượng năm 2016 thì bà H7 vẫn sinh sống, trú quê; đến năm 2022
đến 2023 khi ông T đến y dng tường bao, đ đất thì xảy ra tranh chấp với bà
H7; bà H7 nời xây dựng ờng bao loan, bằng gạch đá xi măng xung quanh
thửa đất, anh H6 không liên quan, diện tích đất gia đình bà chuyển nhượng cho
ông Kim n K một phần v trí đất hiện nay gia đình ông Nguyễn Văn T4
(Mng) xây nhà trọ do gia đình ông T4 nhận chuyển nhượng của gia đình bà H2,
ông H4, phần còn lại gia đình ông T đã chuyển nhượng cho ai na thì bà không
biết, phần đất còn lại bà H7 đã xây ờng bao loan, bà cũng không biết vtrí đất
gia đình bà H7 vỡ hoang ở chỗ nào, diện ch là bao nhiêu, chỉ biết là khoảng ch
đó; nay ông T tranh chấp với H7, bà đnghị a án giải quyết theo quy định
của pháp luật.
Những người làm chứng là bà Đỗ ThT2, bà Lê Thị L, bà T ThL1 trình
bày: c bà một phần quan hh hàng với bà H7 và hàng xóm, sống xung
quanh thửa đất đang tranh chấp. Vnguồn gốc diện ch đất, ông T khởi kiện bà
H7 là do bà H7 khai hoang từ nhng năm 1990, do gia đình các bà cũng có rung
canh tác tại đó nên biết diện ch đất này do bà H7 khai hoang, do gia đình ông
H3 ng đất thổ cư, đất vườn cạnh đất của bà H7 và của các bà nên mt phần
đất khai hoang của gia đình các bà đã đi cho gia đình ông H3, xong thời điểm
11
đi các bà không rõ, bà H7 khai hoang diện ch đất này đtrồng Đ, trồng Lạc;
đi với diện ch đất các bà khai hoang ng như diện tích đất bà H7 đang tranh
chấp, không có văn bản giấy tờ gì, không có số ô, số tha, tờ bản đ nào, diện ch
bà H7 các bà cũng không biết số ô, số thửa, bao nhiêu mét vuông; trước khi bà
H7 xây ờng bao loan, thì ông H3, gia đình ông H3 sử dng, sau đó gia đình ông
H3 chuyển nhượng cho gia đình ông K - H9 H, sau đó ai sử dng nữa thì các
bà không biết, gia đình bà H7 đã khai hoang, canh c đi với tha đất bên cạnh
thửa đất của gia đình ông H3, do thời gian, thực tế sự thay đi nên các bà không
nhớ; quá trình sinh sống, canh tác cạnh thửa đất tranh chấp thì trước đó con
đường nh, đi nhờ trên đất ông H3 để ra ch khai hoang mà không đường như
ngày nay, các bà không biết mở đường tkhi nào. Nay ông T khởi kiện u cầu
bà H7 trả diện tích đất và yêu cầu dỡ b i sản trên đất các bà đề nghị Tòa án giải
quyết theo quy định của pháp luật.
Với ni dung trên, tại Bản án dân sự thẩm số: 32/2025/DS-ST ngày 29
tháng 12 năm 2025 của a án nhân dân khu vực 8 - Phú Th đã quyết định:
n cứ vào các Điều 26, 31 Điều 235, và Điều 236 của Luật Đất đai năm
2024; Điều 166 và Điều 175, 176 và Điều 189 của B luật Dân sự; Điều 147,
khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 165 của B luật tố tụng Dân sự; Nghquyết
326/2016/UBTVQH14 ny 30 tháng 12 năm 2016 của y ban Thường v Quc
hi quy định về mc thu, miễn, giảm, np, quản và sử dng án phí, lệ phí a
án,
Xử:
Chấp nhậnu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Duy T.
Buộc bà Đ Thị H1 phải trcho ông Nguyễn Duy T, bà Lương Thị Minh
T1 diện ch đất 137.0m
2
thửa đất số 555, tờ bản đ số 40; diện tích đất 59.2m
2
,
ở thửa đất số 554, tờ bản đ số 40, tại Thôn Q, B, tỉnh Phú Th và tháo dcác
i sản trên đất là 03 đoạn tường bao loan, xây bằng gạch xi măng, bao gm: 01
đoạn ờng từ điểm 2- 3 - 4, có chiều dài 9.46m, cao 3.2m; 01 đoạn ờng tđiểm
2-9-10 dài 22.43m, cao 3.2m; 01 đoạn ờng từ điểm 5-10, dài 8.38m, cao 3.2m,
(Diện ch đất phải trả và tài sản trên đất sơ đ chi tiết kèm theo).
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, tun quyền kháng
cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 09 tháng 01 năm 2026 bà Đỗ ThH1 kháng
cáo không đng ý với quyết định của Tòa án cấp thẩm đnghị Tòa án cấp phúc
thẩm sửa Bản án thẩm theo hướng bác toàn b yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Đỗ Th H1 gi nguyên ni dung kháng cáo.
12
Tại phiên a, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đnghị Hội
đng xét xử áp dng khoản 2 Điều 308 B luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa Bản
án dân sự thẩm số: 32/2025/DS-ST ny 29 tháng 12 năm 2025 ca a án
nhân dân khu vc 8 - Phú Th.
NHN ĐỊNH CA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hv án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết qutranh tụng tại phn toà, Hi đng xét xử nhận định:
[1] Vhình thức: Đơn kháng o của Đỗ ThH1 trong thời hạn luật
định, hợp lệ được Hi đồng xét xphúc thẩm xem xét, giải quyết.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Duy T và yêu cầu kháng cáo của
bà Đ Thị H1, Hi đng xét xthấy:
Vnguồn gc và hiện trạng diện tích đất tranh chấp: Nguồn gốc tha đất
được xác lậpthửa đất số 25, tờ bản đ số 03 (bản đ 299) đã được UBND huyện
T, tỉnh nh Phú (cũ) cấp GCNQSDĐ ny 27 tháng 11 năm 1993 cho hộ gia
đình ông Đ Đức H8; đến ngày 17 tháng 6 năm 2004, ông Đ Đức H8, bà Nguyễn
Thị Ngc K1 hợp đng chuyển nhượng quyền sử dng đất chuyển nhượng cho
ông Kim n K và bà Phùng Thị Lệ H5 diệnch chuyển nhượng 1080m
2
(trong
đó 150m
2
đất 930m
2
đất trồng cây lâu năm) hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dng đất được UBND T xác nhận ngày 17 tháng 6 năm 2004 và
UBND huyện B, tỉnh nh Phúc xác nhận ny 28 tháng 6 năm 2004, đến ngày
30 tháng 6 năm 2004, ông Kim Văn K được cấp GCNQSDĐ theo Quyết định số
767/QĐ-UB của UBND huyện B, số GCNQSDĐ W135314, sổ vào sổ cấp
GCNQSDĐ số T00206…QSDĐ/767/QĐ-UB, k từ khi ông K nhận chuyển
nhượng và được cấp GCNQSDĐ đến nay, không ai ý kiến, khiếu nại, thắc mắc
gì và gia đình ông K đã sử dng ổn định từ khi mua bán, chuyển nhượng với ông
H8. Điều đó chứng tỏ việc bị đơn cho rằng, diện ch đất nàydiện ch đất khai
hoang, canh c không đúng, không phù hợp, không cơ sở để xem xét.
Về quá trình sử dng đất: Ngày 06/6/2016, h gia đnh ông Kim n K
kết hợp đng chuyển nhượng toàn b diện ch đất đã nhận chuyển nhượng của
ông H8, cho vchng ông T, bà T1, vợ chồng ông Nguyễn Đức H4, bà Nguyễn
Thị H2, trước khi ký hợp đng chuyển nhượng thì h ông Kim Văn K đã làm thủ
tục đăng ký biến đng quyền sử dng đất, cấp đi sang GCNQSDĐ, quyền sở hữu
nhà và i sản gắn liền với đất, diện tích đất đã được đăng ký biến đng, được
chuyển đi sang hta đ bản đ mới htọa độ VN 2000 đã được Sở Tài
Ngun và i trường tỉnh V cấp giấy chng nhận. Tại GCNQSDĐ cấp cho h
ông Kim Văn K quan quản đã thhiện hình thửa của diện ch đất, c
chiều, các cạnh của thửa đất và thể hiện rõ trên diện ch đất đã đường giao
thông, đường nquy hoạch và vẫn đ diện ch đất 1080m
2
, diện ch đo hiện
13
trạng là 1083,4m
2
và lúc này do Sở Tài ngun và Môi trường tỉnh V (cũ) cấp
GCNQSDĐ cho ông K theo htọa đ VN 2000 nên thông tin vtha đất
thửa số 437, tờ bản đ số 40, (Trong đó 150m
2
đất ở 933,4m
2
đất trng cây
u năm) tại Thôn Q, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (); đến ngày 08 tháng 6
năm 2016 ch sử dng đất đã hoàn thành nghĩa v i chính theo thông báo của
cơ quan thuế và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V (cũ) cấp GCNQSDĐ, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho các thành phần nhận chuyển nhượng
trên do ông Nguyễn Duy T m đại diện.
[4] Ngày 23/9/ 2016; trong tổng số diện ch đất 1083,4m
2
đã nhận chuyển
nhượng thì do sự tha thuận giữa ông T, bà T1 với ông H4, bà H2 thì diện tích
đất này được tách thành 02 thửa; thửa đất số 457, tờ bản đ số 40 diện ch
543,4m
2
đứng tên ông H4 bà H2; thửa đất số 458, tờ bản đ số 40, diện ch
540m
2
đứng tên ông T bà T1, lúc này ông H4, bà H2 không liên quan đến diện
ch đất ở thửa đất số 458, tờ bản đ số 40 của ông T, bà T1 nữa và sau đó bà H2,
ông H4 chuyển nhượng diện ch đất này cho nời khác.
Do diện tích đất 540m
2
, ở thửa đất số 458, tờ bản đ số 40 đứng tên ông T,
bà T1 chỉ có 75m
2
đất ở và 465m
2
đất trồng cây u năm nên ông T, bà T1 đã m
đơn, np tiền sử dụng và xin chuyển đi mục đích sử dng đất; theo đó ông T xin
chuyển đi mục đích sử dng đất, từ tng diện tích đất trồng câyu năm là 465m
2
đó ông T xin chuyển đi 105m
2
thành đất , ông T đã np tiền sử dụng đất và
được UBND huyện B phê duyệt cho phép chuyển đi đất trồng cây lâu năm
thành đất ở; sau khi được chuyển đi thì diện tích đất 540m
2
, thửa đất số 458,
tờ bản đ số 40 của ông T 180m
2
đất và 360m
2
đất trồng cây u năm;
Ngày 15/10/ 2018, ông T, bà T1 làm đơn xin ch thửa đất đi với diện ch
đất ở tha đất số 458, tờ bản đ số 40, thành 4 thửa đất và được n phòng đăng
ký đất đai xác nhận, ký duyệt bản đ địa chính đi với 4 thửa đất, sau khi tách
thửa; theo đó, diện ch đất 540m
2
, thửa đất số 458, tờ bản đ số 40 của ông T,
bà T1 được tách thành bn tha đất, cụ thể, thửa đất số 458 được tách thành thửa
đất số 552, tờ bản đ số 40, diện ch 96,5m
2
, (trong đó 50m
2
đất và 46,5m
2
đất trồng y lâu năm), sau đó vchng ông T, bà T1 chuyển nhượng diện ch
đất này cho ông Nguyễn Văn T3 và bà Nguyễn Thị L2, ông T đã chuyển nhượng
xong; thửa đất số 553, tờ bản đ số 40, diện tích 96,5m
2
, (trong đó 50m
2
đất
và 46,5m
2
đất trồng y lâu năm), vchồng ông T, bà T1 chuyển nhượng cho ông
Nguyễn Hng V và bà Nguyễn Thị L3, ông T đã chuyển nhượng xong; đi với 02
thửa đất còn lại là thửa đất số 554, tờ bản đ số 40, diện tích96,5m
2
, (trong đó
50m
2
đất và 46,5m
2
đất trng y lâu năm) và thửa đất số 555, tờ bản đ số 40,
diện ch 250,5m
2
, (Trong đó 30m
2
đất và 220,5m
2
đất trồng cây lâu năm),
hai diện tích này đứng tên vợ chồng ông T và bà T1.
14
Như vậy về những ni dung vnguồn gốc diện tích đất, quá trình sử dng
đất, cũng như thực hiện c th tục hành chính vdiện ch đất ông T nhận
chuyển nhượng của h ông Kim Văn K trong quá trình giải quyết v ánng như
kết quả xem xét, thẩm định tại ch của Tòa án tại thực địa, có sự tham gia của đại
diện Văn phòng Đ Chi nhánh B đều khẳng định rằng: Việc chuyển nhượng quyền
sử dụng đất giữa h ông K cho ông T, bà T1 và ông H4, bà H2 vào năm 2016
đúng quy định của pháp luật, do diệnch đất đủ điều kiện chuyển nhượng, h
đã đầy đ và đảm bảo vđiều kiện chuyển nhượng; việc chuyển nhượng sau
đó cấp GCNQSDĐ cho ông T (đại diện cho các thành viên khác) là đúng quy định
của Luật Đất đai; đi với h sơ tách thửa đất của ông T, bà T1 với ông H4, bà H2
và h sơ tách thửa đất của ông T bà T1 thành 04 thửa đấtng đã đảm bảo đầy đ
về điều kiện th tục tách thửa và chuyển đi mục đích sử dng đất; kể từ khi ông
T, bà Thu nhận chuyển nhượng của ông K diệnch đất và diện ch đất liên quan
đến nay thì UBND T, huyện B (cũ), UBND xã B hiện nay, Sở Nông nghiệp và
Môi trường tỉnh V (cũ), Sở Nông nghiệp Môi trường tỉnh P hiện nayng như
Văn phòng Đ không nhận được bất kỳ khiếu nại gì liên quan đến việc cấp
GCNQSDĐ cho ông T và bà T1.
Do đó khẳng định việc sử dng đất và việc cấp GCNQSDĐ của ông T, bà
T1 hợp pháp, được pháp luật bảo vệ, điều đó ng bác b quan điểm ý kiến của
bà Đ ThH1 đnghị Tòa án xem xét tính chất pháp của GCNQSDĐ cấp cho
ông T, bà T1 có vi phạm pháp luật vcấp GCNQSDĐ không đúng diện ch,
không đúng, không có sở để xem xét.
[5] Về ni dung bà H1 cho rằng sau khi mở đường giao thông thì diện ch
đất của ông T không còn đ diện ch như được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dng đất, nên việc cấp Giấy chng nhận đã lấn sang phần đất của H1, Hi đng
xét xử thấy rằng: Quá trình chuẩn bị xét xthẩm và tại phiên tòa bị đơn bà H1
không bất k tài liệu chứng cứ nào hợp pháp đchứng minh diện ch đất
H1 đang sử dng đứng tên bà H1 trong h sơ địa chính của xã T (cũ) và của xã B
hiện nay, mặt khác Tòa án ng đã tiến hành xác minh tại UBND xã nơi diện
ch đất tranh chấpng không tài liệu chng minh diện ch đất này của bà
H1 là khai hoang; lời khai của những người m chứng do bà H1 cung cấp và đưa
đến a án không đảm bảo nh khách quan vì những người m chứng đa số
mối quan hệ anh em, hàng xóm, láng giềng với bà H1; mặt khác ràng khi ông
T đại diện cho c đng sử dng đất khác khi nhận chuyển nhượng đất của ông K
đã hình thành đường giao thông trên hai chiều ca diện tích đất nhận chuyển
nhượng, tức đã , đã hình thành đường giao thông trước khi ông T nhận chuyển
nhượng đất, kết quthu thập chứng cứ của Tòa án tại bn bản xác minh của a
án tại UBND xã B, n phòng Đ, lời khai của ông H8, ông K, bà H2, bà N1 ng
thể hiện việc hình thành đường giao thông xung quanh thửa đất đã được diễn ra
15
từ năm 2012 – 2013, trước khi ông T nhận chuyển nhượng đất từ h ông Kim Văn
K và việc đường giao thông do các h tự hiến đất, tự mở rộng đường và t
công c xã hi hóa khi vận đng các doanh nghiệp đóng góp bê tông để đ bê
tông làm đường không phải do nhà nước thu hi mở rng hay phương án
giải phóng mặt bằng, bi thường cho người có đất bị thu hi; hơn na lời khai của
ông Kim Văn K khẳng đnh khi mở rộng đường không lấn vào đất của gia đình
ông, diện ch đất gia đình ông chuyển nhượng cho ông T nguyên vẹn như trước
đó đã nhận chuyển nhượng của h ông Đỗ n H3, do đó ý kiến của bị đơn là
không sở, không được Tòa án chấp nhận.
[6] Đối với Giấy cho tặng đất” ngày 01/01/2009 và Giấy y quyềnngày
07/5/2025 do bà H1 xuất trình, cấp sơ thẩm đã đánh giá đây không phải là tài liệu
m phát sinh, chuyển dịch quyền sử dng đất theo quy định của pháp luật đất đai,
không bảo đảm về hình thc và điều kiện hiệu lực của giao dịch liên quan đến
quyền sử dng đất. Tại cấp phúc thẩm, bà H1 ng không cung cấp thêm i liệu
nào khác làm thay đi bản chất v án. vậy, Hi đng xét xkhông căn cứ
chấp nhận các tài liệu này m sở xác lập quyền sử dng đất cho bà H1.
Mặt khác, kết quxem xét, thẩm định tại chỗ ca Tòa án thể hiện: Diện ch
đất bị đơn đang lấn chiếm của nguyên đơn ở hai thửa đất, hai diện ch đất, cụ thể:
Diện tích đất thửa đất số 555, tờ bản đ số 40 bị đơn lấn chiếm diện ch đất
137.0m
2
; diện tích đất ở thửa đất số 554, tờ bản đ số 40 diện tích đất 59.2m
2
, tại
Thôn Q, xã B, tỉnh Phú Th; trên đất có 03 đoạn ờng bao loany bằng gạch xi
măng, bao gồm: 01 đoạnờng từ điểm 2- 3 - 4, có chiều dài 9.46m, cao 3.2m; 01
đoạn ờng tđiểm 2-9-10 dài 22.43m, cao 3.2m; 01 đoạn ờng từ điểm 5-10,
dài 8.38m, cao 3.2m, y dựng trên diện ch đất của ông T bà T1, của bà H1 và
các tài sản, cây cối khác (nếu), do gia đình bà H1 xây dựng lên, do đó cần buc
bị đơn phải tháo dỡ tài sản,ng trình trên đất và các tài sản, cây cối, lâm lộc khác
của gia đình bà H1 trên đất, tại thời điểm thi hành án cho ông T, bà T1 là phù
hợp.
Hiện nay, trên phần đất nhà nước đã cấp GCNQSĐ, quyền sở hữu nhà
ở và i sản gắn liền với đất cho ông T, bà T1 thì thửa đất số 554, tờ bản đ số
40, diện tích đường giao thông đang lấn vào 9.9m, thể hiện các cạnh 7-8-9-
10; thửa đất 555, tờ bản đ số 40, diện ch đường giao thông đã lấn vào 18m
2
, thể
hiện c cạnh 5-6-7-10, tuy nhn ông T không yêu cầu a án xem t, giải
quyết đi với phần đất bị đường giao thông lấn vào này nên Hội đn
g xét xkhông xem xét, giải quyết.
Từ những phân ch như trên Hi đng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Tòa án cấp
thẩm căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong h sơ v án được thu thập khách
quan, đúng pháp luật chấp nhận u cầu khởi kiện của ông Nguyễn Duy T
căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật. Do vậy kháng o của bà Đ Thị H1 đ
16
nghị Hi đng xét xử sửa Bản án dân sự sơ thẩm của a án nhân dân khu vực 8
- Phú Th theo hướng không chấp nhận u cầu khởi kiện của ngun đơn
không n cứ nên không được Hi đng xét xử chấp nhận.
[7] Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm
người đại diện theo y quyền của nguyên đơn có đề nghị a án cho phép nguyên
đơn được tự nguyện thanh toán bằng tiền theo giá trị đã được Hi đng đnh g
g trị toàn b 03 bức ờng bị đơn đã y dựng trên diện ch của gia đình
ngun đơn (theo đ đo đạc toàn b bức ờng: 01 đoạnờng tđiểm 2- 3 -
4, chiều dài 9.46m, cao 3.2m; 01 đoạn ờng t điểm 2-9-10 dài 22.43m, cao
3.2m; 01 đoạn ờng tđiểm 5-10, dài 8.38m, cao 3.2m). t thấy đđảm bảo
đảm bảo giá trị i sản và tạo điều kiện để thi hành án bản án được thuận lợi nhanh
chóng, Hi đng t xthấy rằng việc nguyên đơn tự nguyện thanh toán bằng tiền
g trị toàn b 03 bức tường cho bị đơn mà không buc b đơn phải tháo dtoàn
b 03 bức ờng trên vẫn phù hợp với quy định của pháp luật nên Hi đng xét
xphúc thẩm sẽ xem xét và sửa bản án thẩm theo hướng trên vì có nh tiết
mới tại cấp phúc thẩm. Tại Biên bản đnh g do cấp thẩm tiến hành toàn b 3
bc ờng giá trị 14.562.000 đng, như vậy nguyên đơn phải thanh toán số
tiền 14.562.000 đng ơng đương với gtrị toàn b 03 đoạn bức tường trên cho
bị đơn.
[8] Đxuất của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Th n cứ được
chấp nhận.
[9] Về án phí:
Về phần án phí thẩm: V ánquan hệ pháp luậttranh chấp quyền sử dng
đất nêna án cấp sơ thẩm buc b đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo giá ngạch
chưa phù hợp nên Hi đng xét xử điều chỉnh buc bị đơn chịu án phí sơ thẩm
không g ngạch đphù hợp vi quy định của pháp luật.
Án phí phúc thẩm: Yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bà Đ ThH1
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì c lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
n cứ khoản 2 Điều 308 B luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Đ Thị H1; Sửa bản án dân sự sơ thẩm
số 32/2025/DS-ST ngày 29 tháng 12 năm 2025 của a án nhân dân khu vực 8
Phú Th.
n cứ vào các Điều 26, 31 Điều 235, và Điều 236 của Luật Đất đai năm
2024; Điều 166 và Điều 175, 176 và Điều 189 của B luật Dân sự; Điều 147,
khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 165 của B luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết
17
326/2016/UBTVQH14 ny 30 tháng 12 năm 2016 của y ban Thường v Quc
hi quy định về mc thu, miễn, giảm, np, quản và sử dng án phí, lệ phí a
án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Duy T.
- Buc bà Đ Thị H1 phải trcho ông Nguyễn Duy T, bà Lương ThMinh
T1 diện ch đất 137.0m
2
thửa đất số 555, tờ bản đ số 40; diện tích đất 59.2m
2
,
ở thửa đất số 554, tờ bản đ số 40, tại Thôn Q, xã B, tỉnh Phú Th.
- Ghi nhận việc tự nguyện của ông Nguyễn Duy T và bà Lương ThMinh
T1 thanh toán số tiền 14.562.000 đng cho bà Đ ThH1 (tương đương với giá
trị toàn b 3 bức tường xây trên diện ch đất tranh chấp) gồm: 03 bức tường bao
loan, xây bằng gạch xi măng, bao gm: 01 đoạn ờng từ điểm 2- 3 - 4, chiều
dài 9.46m, cao 3.2m; 01 đoạn tường từ điểm 2-9-10 dài 22.43m, cao 3.2m; 01
đoạn ờng tđiểm 5-10, dài 8.38m, cao 3.2m. Ông Nguyễn Duy T và bà Lương
Thị Minh T1 được sử dụng toàn b3 bức tường nêu trên.
(Diện ch đất phải trả và tài sản trên đất sơ đ chi tiết kèm theo)
2. Ván phí:
- Án phí thẩm: Ông Nguyễn Duy T không phải chịu án phí dân sự
thẩm; hoàn trả cho ông Nguyễn Duy T số tiền 19.000.000 đng (Mười chín triệu
đng) theo bn lai thu tiền tạm ng án phí, lệ phí a án số 0002525, ngày 06
tháng 11 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Xun, tỉnh Vĩnh
Phúc, (nay là Phòng Thi hành án Khu vc 8- Phú Th). Bà Đ Thị H1 phải chịu
300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
-Án phí phúc thẩm: Bà Đ ThH1 phải chịu 300.000 đng án phí dân sự
phúc thẩm. Xác nhận bà Đ Thị H1 đã np đ 300.000 đng án phí dân sự phúc
thẩm theo Biên lai thu tạm ng án phí, lệ phí Tòa án số 000117 ngày 08 tháng 01
năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Th.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án n sự, nời được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b
ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành
án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án Dân sự
c quyết đnh khác của bản án thẩm không b kháng o, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
18
Nơi nhận:
- VKSND tnh Phú Thọ;
- TAND khu vực 8 – Phú Thọ;
- Phòng THADS khu vực 8– Phú Thọ;
- Các đương sự;
- Lưu HSVA; HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyn Thị Thu Hin
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 164/2026/DS-PT Bản án số 164/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 164/2026/DS-PT Bản án số 164/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất