Bản án số 360/2026/DS-PT ngày 17/07/2026 của TAND tỉnh An Giang về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 360/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 360/2026/DS-PT ngày 17/07/2026 của TAND tỉnh An Giang về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh An Giang
Số hiệu: 360/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: NĐ tranh chấp đất và yêu cầu công nhận HĐCNQSD đất giữa các bên đã ký vào năm 2001 và thực hiện thủ tục kê khai do BĐ cố tình không thực hiện HĐCN
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 360/2026/DS-PT Bản án số 360/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 360/2026/DS-PT Bản án số 360/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG
____________
Bản án số: 360/2026/DS-PT
Ngày: 17-7-2026
V/v tranh chấp: “ Hợp chuyển nhượng
quyền sử dụng đất; tranh chấp hợp đồng
vay tài sản; yêu cầu tuyên bố hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu;
yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và xử
lý hậu quả khi hợp đồng vô hiệu”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Thúy
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Minh Châu; Ông Lưu Hữu Giàu
- Thư phiên tòa: Trương Phan Yến Ngọc - Thư Tòa án nhân dân
tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang: Ông Trịnh Văn Đương -
Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 17 tháng 7 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang tiến
hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 04/2026/TLPT-DS ngày 08
tháng 01 năm 2026, về việc: Tranh chấp hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất;
tranh chấp hợp đồng vay tài sản; yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất hiệu; yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất xử hậu
quả khi hợp đồng vô hiệu”.
Do, Bản án dân sự thẩm số: 63/2025/DS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 29/2026/QĐXXPT-DS
ngày 14 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1. Bà Nguyễn Kim T, sinh năm 1968 (Có mặt)
1.2. Anh Nguyễn Tuấn K, sinh năm 1989 (Có mặt)
1.3. Anh Nguyễn Tuấn K1, sinh năm 1996 (Vắng mặt)
Cùng địa ch trú: Số nhà A, Bùi Văn D, khóm Đ, phường L, tỉnh An
Giang
2
+ Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Nguyễn Kim T:
Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1982. Nơi thường trú: Số A đường T, khóm E,
phường L, tỉnh An Giang theo Văn bản ủy quyền ngày 12/11/2024 (Có mặt)
2. Bị đơn:
2.1. Bà Lâm Thị Quốc T2, sinh năm 1954 (Có mặt)
2.2. Ông Đặng Công Đ, sinh năm 1953 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
Cùng cư trú địa chỉ hiện nay: Số A L, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh
+ Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: ông Trần Tuấn M, sinh năm
1988. Địa chỉ số F, khóm Đ, phường M, tỉnh An Giang đại diện theo văn bản ủy
quyền ngày 09/7/2024 (Có mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Nguyễn Tấn H, sinh năm 1997 (Có mặt)
3.2. Bà Trương Bá Thanh T3, sinh năm 1997 (Có mặt)
Cùng cư trú: Số B, đường B, khóm Đ, phường L, tỉnh An Giang.
4. Người kháng cáo: Bị đơn bà Lâm Thị Quốc T2, ông Đặng Công Đ
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo hồ sơ án sơ thẩm thể hiện:
* Nguyên đơn Nguyễn Kim T ủy quyền cho Nguyễn Ngọc T1 trình bày
ý kiến: Ngày 21/4/2011, vợ chồng T, ông T7 nhận chuyển nhượng nhà
đất của vợ chồng ông Đ, T2 diện tích ngang 4,3m x dài 4,5m, tổng diện tích
19,35m
2
với giá 347.400.000 đồng. làm tờ thỏa thuận mua bán viết tay ghi
ngày 21/4/2011, vợ chồng ông Đ, T2 ký tên bên bán, vợ chồng bà T ký tên bên
mua, con ông Đ, T2 Đặng Đức T4, Đặng Đức T5 ký tên chứng kiến. Vợ
chồng bà T đã trả đủ tiền cho vợ chồng ông Đ, bà T2.
Sau đó, vợ chồng bà T mua thêm của vợ chồng ông Đ, bà T2 diện tích ngang
2m x dài 4,5m, tổng diện tích 9m
2
, với g170.000.000 đồng, tiếp giáp với
miếng đất trên. Khi mua làm tờ thỏa thuận mua bán viết tay không ghi ngày
tháng năm, không có công chứng, chứng thực. Ông Đ tên bên bán, chồng bà T
tên bên mua, ông Bùi Văn H1 tên người làm chứng. Tổng cộng 2 lần vợ
chồng đã nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Đ T2 28,35m
2
. Khi
nhận chuyển nhượng thì trên đất có nhà với kết cấu nhà vách tường, mái tole, nền
gạch. Sau khi giao nhận tiền một tháng thì gia đình bà T dọn vào ở cho đến nay.
Theo thỏa thuận thì bên bán là ông Đ, bà T2 chịu trách nhiệm làm sổ đỏ sang
tên cho vợ chồng T, nhưng ông Đ và T2 cứ hứa hẹn, không chịu thực hiện.
Năm 2023, ông T7 chết, hiện nay bà T cùng các con K K1 đang làm thủ tục
xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên thì T2 đơn ngăn chặn.
3
Vụ việc tranh chấp đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân phường M vào ngày
07/3/2024 nhưng không thành.
Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 21/4/2011 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất (không ghi ngày tháng năm) giữa bên chuyển nhượng ông Đ, T2 với bên
nhận chuyển nhượng T và những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông
T7 là K, K1.
Hiện nay phần đất này nguyên đơn đã chuyển nhượng cho ông H1 T3
với giá 1,2 tỷ đồng, ông H1 T3 đã trả cho T 800.000.000đ, khi nào
T được cấp giấy sang tên cho ông H1, T3 thì ông H1, T3 sẽ giao số tiền
còn lại. Đối với yêu cầu độc lập của ông H1, bà T3 nguyên đơn đồng ý.
Ngày 21/8/2024, nguyên đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu Tòa án giải quyết:
Trường hợp Tòa án tuyên hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa ông Đ, T2 với T những người thuộc hàng thừa kế thnhất của ông
T7K, K1 thì yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu, cụ thể: Yêu cầu Tòa
án buộc ông Đặng Công Đ Lâm Thị Quốc T2 hoàn trả cho nguyên đơn số
tiền chuyển nhượng là 517.400.000đ; bồi thường thiệt hại số tiền chênh lệch giá là
515.262.450đ.
Ngày 04/12/2024, bà T, anh K và K1 yêu cầu Tòa án công nhận phần đất
diện tích 27,1m
2
cho bà T, anh K và K1.
* Bị đơn Lâm Thị Quốc T2 ủy quyền cho ông Trần Tuấn M trình bày:
Ông Đ T2 quen biết T (L) và ông T7 (T6) nên hỏi vay tiền của
T để nộp lãi Ngân hàng từ năm 2004 tới năm 2011 thì không khả năng trả.
T ông T7 tính lãi chồng lãi buộc ông Đ T2 phải trả nợ hoặc giao nhà
cho bà T để sdụng mặt bằng kinh doanh coi như không tính lãi vay nữa, khi
nào bà T2 trả nợ gốc thì bà T và ông T7 sẽ trả lại nhà đất cho gia đình bà T2.
Lúc đó, gia đình T2 gặp khó khăn buộc phải dời đi nơi khác ở để các con
an toàn học tập và chờ giải quyết các khiếu kiện. T buộc ông Đ T2 phải
làm tờ bán đất mới cho đi, nên ông Đ T2 đành phải viết hợp đồng mua bán
ngày 21/04/2011 với nội dung: bán cho T, ông T7 diện tích đất 4,3m
2
x 4,5m
2
với giá 18.000.000đ/m
2
= 347.400.000đ. Khi hay tin T đăng quyền sử dụng
đất nên ông Đ T2 đã làm đơn ngăn chặn thì T các đồng thừa kế của
ông T7 khởi kiện.
Bị đơn không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T và các con bà T,
bởi các lý do sau đây:
- T2 và ông Đ không bán đất cho T và ông T7.
- Theo Thông báo hòa giải không thành số: 05/TB-UBND ngày 11/03/2024
của UBND phường M thì T xác định TỜ MUA BÁN ĐẤT năm 2006, tới
4
năm 2011 T mới dọn vào nộp thuế năm 2011 (Không cung cấp được
biên lai thuế).
- Theo Đơn khởi kiện của T ngày 25/4/2024 thì T cho rằng mua đất
theo Tờ sang nhượng ngày 21/04/2011 một Tờ sang nhượng không ghi ngày
tháng, với 2 lần mua là: 28,35m
2
và “Khi nhận chuyển nhượng thì trên đất có sẵn
nhà với kết cấu: vách tường, mái tole, nền gạch”.
- Tờ Hợp đồng mua bán ngày 21/4/2011 chỉ là đảm bảo cho bà T không ngăn
cản gia đình T2 dời đi nơi khác lánh nạn nên ghi chung chung, không vị trí
đất, không ghi nhà cửa trên đất.
- Tờ thỏa thuận mua bán không ghi ngày, tháng, năm g tiền
170.000.000đ mà bà T nộp theo Đơn khởi kiện là giả mạo.
Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết các yêu cầu phản tố sau đây:
- Tuyên bố hiệu hợp đồng mua bán ngày 21/4/2011; không yêu cầu Tòa
án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
- Buộc bà T và những người thừa kế của ông T7 có trách nhiệm di dời đồ đạc
nhân giao trả cho T2 căn nhà gắn liền diện ch đất ghi trong hợp đồng:
19,35m
2
và phần tự lấn chiếm 09m
2
, tổng cộng là: 28,35m
2
.
- T2 ông Đ hoàn trả cho T số tiền đã vay (Lãi nhập gốc):
347.400.000đ.
- Đối với yêu cầu độc lập của ông H1 và bà T3, bị đơn có ý kiến yêu cầu Tòa
án không công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa T với H1, T3 T
không có quyền chuyển nhượng.
Ngày 23/6/2025, bà T2 và ông Đ có yêu cầu phản tố bổ sung:
- Tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền s dụng đất ngày
16/10/2023 giữa bên chuyển nhượng T, K, K1 với bên nhận chuyển nhượng
H1T3.
- Buộc T những người thừa kế của ông T7, ông H1, T3 trách
nhiệm di dời đồ đạc cá nhân và giao trả cho ông Đ và bà T2 căn nhà gắn liền diện
tích đất ghi trong hợp đồng 19,35m
2
phần tự lấn chiếm 09m
2
, tổng cộng
28,35m
2
.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tấn H
Trương Bá Thanh T3 trình bày:
Vợ chồng ông H, bà T3 có nhận chuyển nhượng nhà và đất của bà T và hàng
thừa kế thứ nhất của ông T7ông K, ông K1, với diện tích ngang 6,5m dài 4,5m.
Khi nhận chuyển nhượng thì trên đất đã căn ncấp 4, với kết cấu nhà vách
tường, mái tole, nền gạch (Diện tích nhà bằng diện tích đất). Nhà và đất tọa lạc tại
đường B, phường M (N là phường L, tỉnh An Giang). Hai bên thống nhất giá mua
5
bán là 1.200.000.000 đồng. Ông H T3 đã đưa trước cho T, ông K, ông
K1 số tiền 800.000.000 đồng. Hai bên thỏa thuận T, ông K, ông K1 phải
trách nhiệm thực hiện thủ tục sang tên cho ông, theo quy định pháp luật. Khi
nào xong thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông bà sẽ trả đủ số tiền
còn lại. Khi nhận chuyển nhượng ông H T3 lập tờ tthỏa thuận về việc
“cha chết, mẹ và hai con đồng ý bán nhà và đất ở đô thị” đề ngày 16/10/2023. Vợ
chồng tên bên mua, T, ông K, ông K1 tên bên bán, ông Bùi Triệu K2
tên người làm chứng. Ông H T3 đã nhận nhà đất quản sử dụng cho
đến nay.
Khi đang tiến hành các thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
nêu trên thì bà T2 và ông Đ ngăn cản, tranh chấp.
Hiện vụ án tranh chấp giữa T, ông K, ông K1 T2, ông Đ đang do
Tòa án thụ giải quyết. Do phần đất tranh chấp trên hiện tại ông H T3 đã
nhận chuyển nhượng lại của T, ông K, ông K1 đang quản sử dụng nên
ông H T3 yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất ngày 16/10/2023 giữa bên chuyển nhượng T những người thuộc
hàng thừa kế thứ nhất của ông T7 với bên nhận chuyển nhượng ông H, bà T3.
Ngày 14/8/2024, ông H T3 yêu cầu độc lập bổ sung như sau:
Trường hợp Tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng ngày 16/10/2023 giữa
H T3 với T, K K1 thì yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng hiệu, cụ
thể: Yêu cầu Tòa án buộc T, K K1 hoàn trả cho ông H T3 số tiền
chuyển nhượng 800.000.000đ; bồi thường thiệt hại số tiền chênh lệch giá
115.980.765đ.
Đối với số tiền 80.000.000đ ông H T3 hỗ trợ thêm cho T, ông H bà
T3 sẽ thỏa thuận riêng với bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
* Người làm chứng ông Bùi Văn H1 trình bày: Ông người làm công cho
cửa hàng bán vật liệu xây dựng của ông Đ bà T2 từ khoảng năm 1995 đến khi
cửa hàng không còn kinh doanh. Đối với tờ thỏa thuận thuận mua bán giữa ông Đ
T2 với ông T7 T với phần đất diện tích 09m
2
do ông viết theo
yêu cầu của ông Đ T2, ông Đ và T2 xem ông như người nhà, sau khi
viết xong ông H1 có đưa lại cho ông Đ và bà T2 xem nội dung, sau khi thống nhất
nội dung ông Đ T2 kêu ông viết tên thay ông Đ sau đó thì mang đưa
cho ông T7 ký. Ông H1 không chứng kiến việc giao nhận tiền giữa các bên.
* Tại Bản án dân sự thẩm số 63/2025/DS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang, đã quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Kim T, ông
Nguyễn Tuấn K ông Nguyễn Tuấn K1. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 21/4/2011 và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất (không ghi ngày tháng năm) giữa bên chuyển nhượng ông Đặng Công Đ,
6
Lâm Thị Quốc T2 với bên nhận chuyển nhượng Nguyễn Kim T những
người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Thành T7 Nguyễn Tuấn K,
Nguyễn Tuấn K1.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Đặng Công Đ và bà Lâm Quốc
T2 yêu cầu:
- Tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền s dụng đất ngày
16/10/2023 giữa bên chuyển nhượng bà Nguyễn Kim T, Nguyễn Tuấn K,
Nguyễn Tuấn K1 với bên nhận chuyển nhượng Nguyễn Tấn H Trương
Thanh T3.
- Buộc Nguyễn Kim T những người thừa kế của ông T7, ông Nguyễn
Tấn H, Trương Thanh T3 trách nhiệm di dời đồ đạc nhân giao trả
cho ông ĐT2 căn nhà gắn liền diện tích đất ghi trong hợp đồng 19,35m
2
phần tự lấn chiếm 09m
2
, tổng cộng là 28,35m
2
.
3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Tấn H và Trương
Thanh T3.
- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng ngày 16/10/2023 giữa bên chuyển
nhượng Nguyễn Kim T, Nguyễn Tuấn K Nguyễn Tuấn K1 với bên nhận
chuyển nhượng là Nguyễn Tấn H Trương Thanh T3 đối với thửa đất số 06
diện tích 27,1m
2
được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 theo bản
trích đo hiện trạng ngày 04/6/2024 của ng ty TNHH M1.
- Ông Nguyễn Tấn H bà Trương Thanh T3 nghĩa vụ trả cho
Nguyễn Kim T, Nguyễn Tuấn KNguyễn Tuấn K1 số tiền 400.000.000đ.
- Ông Nguyễn Tấn H Trương Thanh T3 được quyền liên hệ các
quan thẩm quyền để xin cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí; quyền kháng cáo;
quyền thi hành án và thời hiệu thi hành án của các bên đương sự.
Ngày 25/8/2025, bà Lâm Thị Quốc T2 và ngày 29/9/2025, ông Đặng Công Đ
kháng cáo đối với Bản án dân sự thẩm số: 63/2025/DS-ST ngày 25 tháng 8
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang, yêu cầu Tòa án cấp phúc
thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
+ Ông Trần Tuấn M người đại diện theo ủy quyền của Lâm Thị Quốc
T2 có ý kiến tranh luận bà Lâm Thị Quốc T2 có yêu cầu kháng cáo ngày
16/3/2026, bà T2 yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét sửa Bản án sơ thẩm
số 63/2025/DS-ST của Toà án nhân dân Khu vực 9 An Giang. Tuyên bố vô hiệu
Hợp đồng mua bán ngày 21/04/2011, giữa ông Đặng Công Đ, Lâm Thị Quốc
T2 với ông Nguyễn Thành T7, Nguyễn Kim T Hợp đồng mua bán 9m
2
không ghi ngày, tháng, năm. Không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp
7
đồng hiệu. Buộc Nguyễn Kim T những người thừa kế của ông Nguyễn
Thành T7, hoặc ông Nguyễn Tấn H, bà Trương Thanh T3 trách nhiệm di
dời đồ đạc, vật kiến trúc, giao trả cho bị đơn đối với diện tích đất 27,1 m
2
(theo sơ
đồ đo đạc ngày 04/6/2024). Bị đơn đồng ý hoàn trả cho nguyên đơn số tiền đã vay
(lãi nhập gốc): 347.400.000đ (Ba trăm bốn mươi bảy triệu bốn trăm nghìn đồng).
Trong trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cấp thẩm vi
phạm thủ tục tố tụng không thể khắc phục thì đề nghị xem xét giải quyết theo quy
định
+ Bà Lâm Thị Quốc T2 có ý kiến tranh luận bổ sung đối với nguồn gốc đất là
của gia đình T2 được cha mẹ tặng cho chị Lâm Ngọc T8 đối với
diện tích đất này, bà cũng có ý kiến đối với bản án sơ thẩm giải quyết là chưa xem
xét đến quyền lợi của bà, đối với giấy chuyển nhượng đối với diện tích đất 9m
2
theo ý kiến trình bày của ông Bùi Văn H1 cho rằng vợ chồng yêu cầu viết
xác nhận nội dung không đúng, đề nghị xem xét tuyên bố các hợp đồng
chuyển nhượng quyền sdụng đất. Đối với thỏa thuận tiền nhận thì bà chịu
trách nhiệm trả lại cho T số tiền 374.400.000 đồng. Gia đình T phải trả lại
cho gia đình bà đối với diện tích đất có nhà của anh H1, chị T3 trên đất.
+ Bà Nguyễn Ngọc T1 là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có ý
kiến tranh luận: Nguyên đơn không đồng ý đối với yêu cầu kháng cáo của bà Lâm
Thị Quốc T2, ông Nguyễn Công Đ1, theo nội dung yêu cầu liên quan đến tiền bồi
thường thiệt hại của ông H1, T3 thì hai bên thống nhất thỏa thuận chuyển
nhượng, gia đình T đã giao nhà đất cho ông H1, T3. Nguyên đơn không
đồng ý đối với yêu cầu phản tố, yêu cầu kháng cáo của bđơn đề nghị tuyên bố
các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu. Trường hợp Hội đồng
xét xử xem xét đối với thoả thuận tại hợp đồng chuyển nhượng diện tích 9 m
2
chưa
phù hợp thì người đang trực tiếp quản lý, sdụng do ông H1, T3 sẽ
trách nhiệm bồi thường đối với số tiền này cho bà T2. Nguyên đơn đề nghị giữ
nguyên đối với bản án sơ thẩm do Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang đã t
xử
+ Nguyễn Kim T ý kiến tranh luận không đồng ý đối với yêu cầu
kháng cáo của bà T2, ông Đ1 do bà T2 đã nhận đủ tiền và bàn giao nhà đất cho
quản sử dụng, bà không đồng ý trả lại tiền cũng như không đồng ý thỏa thuận
với bị đơn. Đề nghị hội đồng xem xét giữ nguyên đối với bản án sơ thẩm của Tòa
án nhân dân khu vực 9 - An Giang.
+ Ông Nguyễn Tấn H, Trương Bá Thanh T3 thống nhất đề nghị Hội đồng
xem xét giữ nguyên đối với bản án thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 9-An
Giang. Trường hợp xác định tuyên bố hợp đồng vô hiệu thì ông bà không yêu cầu
phía gia đình bà T trách nhiệm bồi thường thiệt hại số tiền 115.980.765 đồng,
hai bên tự giải quyết không thỏa thuận được ông sẽ khởi kiện bằng vụ án
8
khác, ông tại phiên tòa rút lại đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại số tiền số
tiền 115.980.765 đồng không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
+ Tại phiên tòa, ông Nguyễn Công Đ1 đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và
giữ yêu cầu kháng cáo, ông Nguyễn Tuấn K1 vắng mặt không tham dự phiên tòa.
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng
xét xử, Thư phiên tòa đã chấp hành đầy đủ quy định của Bộ Luật tố tụng dân
sự tkhi thụ vụ án đến khi xét xử. Các đương sự ng đã chấp hành đúng các
quy định của pháp luật về tố tụng.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2
Điều 308 Bluật Tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận một phần đối với yêu cầu
kháng cáo của bà Lâm Thị Quốc T2 với ông Đặng Công Đ. Sửa Bản án dân sự sơ
thẩm số: 63/2025/DS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực
9 - An Giang:
Tuyên bhiệu đối với các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa ông Nguyễn Thành T7 với Lâm Thị Quốc T2, ông Đặng Công Đ giữa
Nguyễn Kim T, ông Nguyễn Tuấn K, ông Nguyễn Tuấn K1 với ông Nguyễn
Tấn H, bà Trương Bá Thanh T3
Buộc bđơn trách nhiệm trả lại số tiền đã nhận của phía nguyên đơn số
tiền 347.400.000 đồng bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn 378.926.325 đồng,
tổng cộng số tiền 726.326.325 đồng
Buộc nguyên đơn trách nhiệm hoàn trả lại cho ông H, T3 số
800.000.000 đồng.
Ông H, bà T3 có trách nhiệm tháo dỡ di dời vật kiến trúc nhà có trên đất giao
lại diện ch đất 27,1 m
2
cho phía bị đơn. Cho ông H T3 được quyền lưu
theo quy định đình chỉ xét xử đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với số
tiền 115.980.765 đồng tại phiên tòa ông H, bà T3 đã rút lại yêu cầu.
Các đương s trách nhiệm nộp chi phí tố tụng và án phí dân sự theo quy
định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Lâm Thị Quốc T2, ông Đặng Công Đ làm đơn kháng cáo trong thời
hạn luật định. T2, ông Đ người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn nộp
tiền tạm ứng án phí, án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí và lphí tòa án
quy định nên Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm theo
quy định tại Điều 285 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
9
[1.2] Ông Đặng Công Đ đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, yêu cầu xét xử
vắng mặt của ông Đ là hợp lệ, ông Nguyễn Tuấn K1 vắng mặt nhưng có người đại
diện theo ủy quyền tham dphiên tòa nên Hội đồng xét xcăn cứ Điều 296 Bộ
luật Tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Đ, ông K1 theo quy
định.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bà Lâm Thị Quốc T2, ông Đặng Công Đ, Hội
đồng xét xử phúc thẩm t thấy:
[2.1] Nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất vào ngày 21/4/2011, bà Lâm Thị
Quốc T2, ông Đặng Công Đ với ông Nguyễn Thành T7 (đã chết ngày 29/01/2023)
với nhau Tờ sang nhượng với nội dung thỏa thuận chuyển nhượng nhà
đất của ông Đ, bà T2 diện tích ngang 4,3m x dài 4,5m, tổng diện tích 19,35m
2
, với
giá 347.400.000 đồng. T, ông K, ông K1 (con của ông T7, T) xác định sau
khi hai bên thỏa thuận năm 2011 thì gia đình của bà T đã nhận nhà và đất quản lý,
sử dụng
[2.2] Bị đơn bà T2, ông Đ thì cho rằng việc hai bên làm tờ sang nhượng ngày
21/4/2011 nhằm đđảm bảo cho khoản vay tiền của T2, ông Đ vay đóng lãi
cho ngân hàng và không khả năng thanh toán nên buộc lòng phải viết tờ sang
nhượng nhà đất cho gia đình của ông T7, bà T
[2.3] Hội đồng xét thấy đối với thỏa thuận chuyển nhượng đất của các bên có
làm hợp đồng viết tay, giao nhận nhà đất, tài sản xong mặc vào thời điểm viết
Tờ sang nhượng bà T2, ông Đ vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất nhưng địa phương có hòa giải cũng như các đương sự đều xác định nguồn gốc
của gia đình T2, nội dung T2, ông Đ trình bày đây là hợp đồng vay tiền
nhưng không căn cứ thể hiện thỏa thuận ngày 21/4/2011, giữa các bên
hợp đồng vay tài sản nên không có căn cứ để xem xét.
[2.4] Trong quá trình sử dụng bà T trình bày căn nhà cũ bị sập nên có sửa
và làm lại hiện trạng nhà. Sau khi hai bên thỏa thuận chuyển nhượng đất, gia đình
T nhận chuyển nhượng thêm diện tích ngang 2m x dài 4,5m, tổng diện tích
9m
2
, giá chuyển nhượng 170.000.000 đồng, vị trí mua tiếp giáp với miếng đất
diện tích 19,35 m
2
. Khi mua hai bên làm tờ thỏa thuận mua bán viết tay không
ghi ngày tháng năm, không công chứng, chứng thực. Ông Đ tên bên bán,
chồng bà T là ông T7 ký tên bên mua, ông Bùi Văn H1 tên người làm chứng.
[2.5] Đối với giấy thỏa thuận không ghi ngày tháng năm tại kết luận giám
định số 131, ngày 05 tháng 4 năm 2025 của Phòng K3 Công án tỉnh A đã kết luận
xác định đây không phải chữ của ông Đ theo lời khai của người làm
chứng ông Bùi Văn H1 cũng lời khai Đối với tờ thỏa thuận thuận mua bán
giữa ông Đ và bà T2 với ông T7 và bà T với phần đất có diện tích 09m
2
do ông
viết theo yêu cầu của ông Đ T2, ông ĐT2 xem ông như người nhà,
sau khi viết xong ông H1 đưa lại cho ông Đ T2 xem nội dung, sau khi
10
thống nhất nội dung ông Đ và bà T2 kêu ông ký và viết tên thay ông Đ” sau đó thì
mang đưa cho ông T7 ký. Ông H1 không chứng kiến việc giao nhận tiền giữa các
bên. Vì vậy, không sở xác định đây thỏa thuận chuyển nhượng thêm 9m
2
đất giữa bà T2, ông Đ với ông T7 chồng của bà T, trị giá 170.000.000 đồng.
[3] Qua xem xét, thẩm định tại chỗ thì đối với hiện trạng của diện tích đất ch
27,1m
2
tại các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 theo bản trích đo hiện trạng ngày
04/6/2024 của Công ty TNHH M1 nên xác định diện tích tăng thêm so với hợp
đồng chuyển nhượng giữa hai bên 7,75 m
2
. Căn cứ theo chứng thư thẩm định
giá số 313-2024/HĐ.VVAC ngày 10/7/2024 của Công ty CP T10, giá trị tài sản
các đương sự thống nhất theo chứng thư thẩm định, tại phiên tòa các đương sự
đều không yêu cầu định giá lại nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 104 của Bộ
luật ttụng dân sự sử dụng giá tại chứng thư thẩm định để xem xét, giải quyết
theo quy định.
[4] Trong vụ án người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông H1 T3
yêu cầu độc lập yêu cầu đối với với T, ông K và ông K1 công nhận hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trường hợp không công nhận hợp đồng
chuyển nhượng tuyên bốhiệu hợp đồng chuyển nhượng nhà và đất thì yêu cầu
giải quyết hậu quả hợp đồng hiệu, buộc T, K K1 hoàn trả cho ông
Nguyễn Tấn H Trương Thanh T3 số tiền chuyển nhượng là 800.000.000
đồng và bồi thường thiệt hại số tiền chênh lệch giá là 115.980.765 đồng.
[4.1] Nhận thấy, sau khi ông T7 chồng của bà T chết vào năm 2023, thì bà T,
ông K1 và ông K đã lập tthỏa thuận ngày 16/10/2023 chuyển nhượng toàn bộ
phần đất diện tích ngang 6,5m x dài 4,5m, tọa lạc số 114/2 đường B, phường
L, tỉnh An Giang, đã nhận chuyển nhượng trước đó từ bà T2, ông Đ đchuyển
nhượng diện tích đất lại cho ông H T3, giá thỏa thuận là 1.200.000.000
đồng. Phía ông H, T3 đã trả cho gia đình bà T, ông K1 ông K được
800.000.000 đồng, còn lại số tiền 400.000.000 đồng sau khi ông H, T3 được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ trả số tiền còn lại cho bà T, ông K1
ông K.
[4.2] Hiện nay, nhà đất T, ông K1, ông K đã giao cho ông H bà T3
quản lý, sử dụng từ năm 2023 cho đến nay. Cả nguyên đơn ông H, T3 đều
thống nhất tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng. Quá trình giải quyết vụ
án, T, ông K1, ông K đều thống nhất với lời trình bày của ông H T3,
đồng ý với yêu cầu độc lập của ông H, T3 tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển
nhượng giữa các bên.
[5] Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đều không đồng ý thực hiện việc
đo đạc định glại đối hiện trạng khu đất tranh chấp, mặc Hội đồng xét x
đã động viên nên sau khi ngừng phiên tòa Tòa án nhân dân tỉnh An Giang chỉ
thực hiện lập Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 22/5/2026. Tại vị tkhu
đất tranh chấp ghi nhận hiện trạng thay đổi khác so với hiện trạng căn nhà
11
được Tòa án nhân dân Khu vực 9-An Giang được ghi nhận vào năm 2024. Người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông H, bà T3 xác định ông bà có xây dựng thêm,
sửa chữa thay đổi hiện trạng vào thời gian sau khi Tòa án nhân dân- Khu vực 9
vừa tuyên án thì ông H đã thực hiện ngay việc sửa chữa (trong đó phần vách
hiện nay tháo dỡ phần ngăn thửa đất của ông H nhận chuyển nhượng của nguyên
đơn với phần đất của ông Nguyễn Tấn H2 cha của ông H phần đất này cũng
chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, làm thêm phần mái che phía trước vị
trí căn nhà).
[5.1] Tại biên bản xác minh ngày 22/5/2026, ghi nhận nội dung đối với phần
đất tranh chấp trước đây có nguồn gốc của mẹ bà T2, sau khi mẹ bà T2 chết thì bà
T2 với chị em T8 tiếp tục quản lý, phần đất này không nộp thuế, không
thể kiểm tra được người khai. Phần đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất nhưng hiện nay diện tích đất này chỉ 27,1 m
2
chưa đủ hạn mức tối
thiểu được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trường hợp khai phải thực
hiện theo quy định của luật đất đai.
[5.2] Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ thể hiện nguồn gốc đất, diễn biến tại
phiên tòa phúc thẩm, ngoài ghi nhận hiện trạng khu đất tranh chấp tại biên bản
xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 22/5/2026, Tòa án thu thập về nguồn gốc
quá trình sử dụng đất, đối với hiện trạng khu đất. Tại giai đoạn phúc thẩm,
Lâm Thị Quốc T2 cung cấp các tài liệu, chứng cứ liên quan về nguồn gốc đất cho
Tòa án, trong đó Tờ di chúc của ông Nguyễn Thanh V, bà Lâm Ngọc Y là cha
mẹ ruột của T2 để lại thì những người thuộc hàng thừa kế của ông V, Y
ngoài bà Lâm Thị Quốc T2 còn có bà Lâm Ngọc T8 và người con riêng của ông V
là ông Nguyễn Thanh H3, sinh năm 1963 (tại phiên tòa bà T2 trình bày ông H3 đã
chết năm 2025)
[6] Hội đồng xét xử phúc thẩm đánh giá về chứng cứ có trong hồ sơ vụ án:
+ Tờ thỏa thuận mua bán viết tay không ghi ngày tháng năm, không công
chứng, chứng thực. Ông Đ tên bên bán, chồng T tên bên mua, ông Bùi
Văn H1 tên người làm chứng thì diện tích 9m
2
xác định bị đơn không
tên thể hiện tại lời khai của ông H1 là người làm chứng và theo kết quả giám định
chữ cũng đã xác định tờ thỏa thuận này không căn cứ xác định do bị đơn
thỏa thuận chuyển nhượng thêm diện tích đất
+ Tthỏa thuận mua bán viết tay ghi ngày 21/4/2011, giữa T2, ông Đ,
ông T7, T con ông Đ, T2 Đặng Đức T4, Đặng Đức T5 tên
chứng kiến đối với diện tích 19,35m
2
các đương sự đều có thừa nhận nên được
xem chứng cứ phù hợp theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2015.
+ Tờ thỏa thuận mua bán nhà và đất ngày 24/12/2006, thể hiện nội dung thỏa
thuận chuyển nhượng diện tích đất 32m
2
, giá mua bán 500.000.000 đồng
T2, T, ông Đ, ông T7 ông H1 người chứng kiến. Tại phiên tòa, đại diện
theo ủy quyền của nguyên đơn và nguyên đơn T, ông K xác định đây là chứng
12
cứ do phía nguyên đơn tự nhờ người làm thủ tục khai, đăng ký cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất tự ghi tên để hợp thức hóa hồ làm thủ tục. c
đương sự tại phiên tòa, nguyên đơn bị đơn đều xác định năm 2006 thì vào thời
điểm này giữa nguyên đơn với bị đơn chưa thực hiện thỏa thuận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, hai bên chỉ thỏa thuận thực tế vào năm 2011 nên Tờ giấy mua
bán năm 2006 được xác định không phải là tài liệu, chứng cứ chứng minh.
[6.1] Trên thực tế căn nhà được xây dựng sau khi bản vẽ hiện trạng khu
đất việc này chđược ghi nhận trên sở Biên bản xem xét thẩm định ngày
21/11/2024. Liên quan đến tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất nhưng chưa được đo đạc lại đối với hiện trạng căn nhà xây dựng diện tích bao
nhiêu m
2
, chưa định giá nhà chỉ chứng thư định giá về đất. Theo biên bản
xem xét, thẩm định được tòa án lập ngày 22/5/2026, thể hiện cấu trúc căn nhà nền
lát gạch ceramic, khung sắt tiền chế, mái tole, nhà sử dụng nhờ 02 vách của 02 hộ,
vị trí hướng đường B vào, vách nhờ phía tay phải nhìn vào nay không còn vách đã
tháo ra liền với nền nhà của ông Nguyễn Tấn H, vách còn lại nhờ của hộ tên T9
(không rõ họ tên), cửa chính làm bằng cửa kiếng lùa khung nhôm, trần nhà ốp tấm
lam sóng + thạch cao, trang trí nơi các vách mượn gắn các tấm thang tre + lam
sóng + thạch cao. Mái che ở vị trí trước căn nhà cấu trúc cấu trúc cột sắt, bạt kéo.
Nhà đất được ông H sử dụng làm chỗ kinh doanh xe gắn máy Hiền N.
[6.2] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ tại hồ cấp thẩm chưa thu
thập tài liệu, chứng cứ đầy đủ để đánh giá toàn diện đối với nội dung của vụ án và
các tranh chấp cũng như yêu cầu của đương sự trong vụ án nên cần rút kinh
nghiệm chung.
[6.3] Đối với diện tích đất các bên đang tranh chấp xét không đủ điều kiện
chuyển nhượng theo quy định, một trong những điều kiện bắt buộc đngười sử
dụng đất được quyền chuyển nhượng đối với diện tích đất này phải Giấy
chứng nhận, hoặc một trong các loại giấy tờ theo quy định của luật đất đai, T2
vào thời điểm thỏa thuận với ông T7 (đã chết hiện nay là những người thừa kế: bà
T, ông K1, ông K) chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các bên chỉ
thỏa thuận giấy tay là vi phạm về hình thức của hợp đồng không thể thực hiện thủ
tục công chứng, sang tên theo quy định pháp luật.
[6.4] Việc chuyển nhượng một phần diện tích đất nằm dưới hạn mức tối
thiểu cho phép của địa phương tại tỉnh An Giang căn cứ theo Quyết định số
167/QĐ-UBND ngày 01/7/2025 Quyết định s 41/2024/QĐ-UBND ngày
13/10/2024 sẽ không được phép tách thửa. Do đó, hợp đồng này bị coi hiệu
do vi phạm điều cấm của pháp luật về điều kiện tách thửa, cũng như thỏa thuận
chuyển nhượng và hình thức hợp đồng.
[6.5] Thực tế sử dụng thì người tiếp nhận đất, trực tiếp cất nhà, sửa chữa nhà
ông H, T3 bị chính quyền địa phương lập biên bản xử vi phạm hành
chính về xây dựng trái phép đối với phần nhà trên đất vào năm 2023. Căn nhà trên
đất ông H, bà T3 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được phía nguyên đơn
T, ông K1, ông K chuyển nhượng lại. Trong khi phía bị đơn T2, ông Đ làm
13
tờ thỏa thuận chuyển nhượng cho phía ông T7, T chỉ 19,35 m
2
, n phần
diện tích đất theo tờ thoả thuận lần 2 không ghi ngày tháng năm, đối với diện tích
đất đã kết luận giám định xác định không phải chữ của ông Đ cũng như
người làm chứng ông H xác định chữ ký tại tờ mua bán thêm diện tích đất 9 m
2
là
do tự người làm ng của ông Đ, T2 tự nên không phù hợp theo quy định.
Tờ thỏa thuận chuyển nhượng đất còn có con ông Đ, bà T2Đặng Đức T4, Đặng
Đức T5 tên đối với diện tích 19,35m
2
được bị đơn thừa nhận tên xác
định nội dung này là có thật.
[7] Vào thời điểm chuyển nhượng đất nội dung thỏa thuận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa các bên lập bằng văn bản nhưng diện tích nhà đất các bên
thỏa thuận chuyển nhượng về hình thức phải được công chứng, chứng thực
đăng ký vào sổ địa chính theo quy định tại khoản 3 Điều 188 của Luật đất đai năm
2013; hai bên đều không tuân thủ về hình thức hợp đồng chuyển nhượng phải
thông qua công chứng, chứng thực đăng vào sổ địa chính. T, ông K1,
ông K đều chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất nhưng hai bên thỏa thuận lập vi bằng vào thời điểm giữa bà T cùng với bà T2,
ông Đ chưa bản án nào hiệu lực xác định hợp đồng chuyển nhượng có hiệu
lực cũng như T được quyền quản lý, sử dụng nhà đất nên việc thỏa thuận giữa
hai bên hiệu do vi phạm điều cấm theo quy định tại Điều 123 của Bộ luật
dân sự.
[7.1] Xét đối với thỏa thuận xuất phát từ ông Đ, bà T2 cùng với ông T7 (chết
hiện nay do những người thuộc hàng thừa kế của ông T7 khởi kiện) yêu cầu
trường hợp tòa án tuyên hiệu hợp đồng chuyển nhượng thì giải quyết hậu qu
buộc bị đơn trách nhiệm trả số tiền chuyển nhượng 517.400.000đ; bồi
thường thiệt hại số tiền chênh lệch giá 515.262.450đ. Tuy nhiên, đánh giá
chứng cứ thì đối với nội dung yêu cầu của nguyên đơn chỉ chấp nhận một phần
yêu cầu khởi kiện xác định các bên đều lỗi dẫn đến việc làm hiệu đối với
hợp đồng. Còn việc nguyên đơn yêu cầu hòan trả giá trị hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất với số tiền 170.000.000 đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại
số tiền 136.336.125 đồng là không có căn cứ để chấp nhận.
[7.2] Hợp đồng thỏa thuận từ năm 2011 đến nay bị đơn xác định có nhận tiền
trường hợp thiệt hại của nguyên đơn là có nên phía bị đơn phải có bồi thường một
phần thiệt hại cho phía nguyên đơn theo giá trị đất được các bên thống nhất tại giá
chứng thư thẩm định giá số 313-2024/HĐ.VVAC ngày 10/7/2024 của Công ty CP
T10 là 57.400.000/m
2
. Trên phần thực tế T2, ông Đ có ký tên thừa nhận có ghi
giấy hợp đồng với diện tích 19,35 m
2
và đồng ý hoàn trả lại số tiền đã nhận
347.400.000 đồng nên chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị
đơn trách nhiệm bồi thường thiệt hại tính giá trị thực tế hiện nay đối với diện
tích 19,35 m
2
là 1.110.690.000 đồng, tính một phần thiệt hại cho phía nguyên đơn
số tiền 378.926.325 đồng (cách tính thiệt hại đối với số tiền bị đơn có trách nhiệm
bồi thường cho nguyên đơn, cụ thể: Giá trị diện tích 19,35 m
2
đất
14
1.110.690.000 đồng 347.400.000 đồng tiền bị đơn xác nhận đã nhận =
757.852.650 đồng/2 = 378.926.325 đồng).
[7.3] Căn cứ Điều 131 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
“1. Giao dịch dân sự hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt
quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập;
2. Khi giao dịch dân shiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban
đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận”
Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại của bên nhận chuyển nhượng ông H, bà
T3 thì Hội đồng xét xử nhận thấy vào thời điểm đang phát sinh tranh chấp các bên
vẫn thỏa thuận chuyển nhượng, tự sửa chữa, xây dựng nhà mặc đã bị địa
phương lập biên bản nhưng vẫn tự xây dựng đối với các công trình trên đất, ông
H, T3 biết được nhà đất không giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng
vẫn thực hiện việc chuyển nhượng xây dựng. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông H,
T3 xin rút lại đối với yêu cầu Nguyễn Kim T, ông Nguyễn Tuấn K
ông Nguyễn Tuấn K1 bồi thường thiệt hại đối với trường hợp tuyên bố hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất hiệu nên Hội đồng xét xử không xem xét,
trường hợp phát sinh tranh chấp thì sẽ được xem xét, giải quyết theo quy định
của pháp luật.
[8] Tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An
Giang đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo của T2, ông Đ phù hợp theo
chứng cứ nhận định phân tích của cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm
xem xét sửa bản án của cấp sơ thẩm tuyên bố các hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất giữa các bên hiệu. Do đó, điều chỉnh về nội dung, chi phí tố
tụng và án phí dân sự sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.
[8.1] Ông Đặng Công Đ, Lâm Thị Quốc T2 trách nhiệm trả lại cho
Nguyễn Kim T, ông Nguyễn Tuấn K và ông Nguyễn Tuấn K1 tổng số tiền
726.326.325 đồng; trong đó số tiền bà T2, ông Đ đã nhận theo Tờ chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 21/4/2011 với số tiền 347.400.000 đồng tiền bồi
thường thiệt hại số tiền 378.926.325 đồng.
[8.2] Nguyễn Kim T, ông Nguyễn Tuấn K ông Nguyễn Tuấn K1
trách nhiệm hoàn trả lại cho ông Nguyễn Tấn H, bà Trương Bá Thanh T3 số tiền
800.000.000 đồng
[8.3] Sau khi các đương sự thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán tiền thì ông
Nguyễn Tấn H, Trương Bá Thanh T3 có trách nhiệm tháo dỡ nhà, vật kiến trúc
trên đất, di dời đồ đạc nhân được ghi nhận theo Biên bản xem xét, thẩm định
tại chỗ ngày 22/5/2026 do Tòa án nhân dân tỉnh An Giang lập để giao trả cho gia
đình của bà T2 đối với thửa đất số 06 có diện tích là 27,1m
2
được giới hạn bởi các
điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 theo bản trích đo hiện trạng ngày 04/6/2024 của Công
ty TNHH M1. Vị trí thửa đất tọa lạc tại đường B, phường L, tỉnh An Giang.
[8.4] Lâm Thị Quốc T2 tại phiên tòa phúc thẩm xác định đất của những
người thuộc hàng thừa kế của ông V, Y thì T2, T8, ông H3 (chết
15
2025), còn đối với thỏa thuận tiền do T2 nhận nên nhân T2 sẽ chịu trách
nhiệm trả lại cho phía nguyên đơn. Sau khi hiệu các hợp đồng chuyển nhượng
liên quan đến diện tích đất tranh chấp 27,1 m
2
thì giao cho bà T2 đại diện quản lý,
các thủ tục khai đăng ký đối với diện tích đất này sdo những người thuộc
hàng thừa kế của ông V, bà Y thực hiện đúng theo quy định của pháp luật đất đai.
[8.5] Hiện nay, ông Nguyễn Tấn H, bà Trương Thanh T3 đang trong
nhà nên đảm bảo cho ông H, T3 được quyền lưu trong thời hạn 06 tháng
kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
[9] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc nhận thấy đối với các
hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất đã bị tuyên hiệu hoàn trả cho
nhau những gì đã nhận đất tranh chấp đã buộc trả lại cho gia đình của T2. Do
đó, không cần thiết đưa bà T8, ông H3 là những người bà T2 cho rằng đồng thừa
kế với T2, con T2 ông Đặng Đức T4, ông Đặng Đức T5 chứng việc
thỏa thuận vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào tham gia tố
tụng, trường hợp các đương sự phát sinh tranh chấp sẽ được xem xét, giải
quyết bằng một vụ án khác.
Đối với các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
nên có hiệu lực pháp luật
[10] Về chi phí tố tụng:
[10.1] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định gtổng cộng
13.017.800 đồng nhưng trong giai đoạn sơ thẩmphúc thẩm đều do nguyên đơn
đã tạm ứng. Trong đó: chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 3.400.000 đồng;
thẩm định giá 4.800.000 đồng; chi phí đo đạc 3.817.800 đồng; chi phí xem
xét, thẩm định tại giai đoạn phúc thẩm số tiền 1.000.000 đồng. Các đương sự đều
phải nộp chi phí tố tụng tương ứng với số tiền 4.339.266 đồng. Sau khi khấu trừ
tiền tạm ứng nguyên đơn đã nộp đủ đối với chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại
chỗ và định giá. Ông Đ, bà T2 nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn số tiền
4.339.266 đồng. Ông H, T3 nghĩa vụ hoàn trả lại cho nguyên đơn stiền
4.339.266 đồng
[10.2] Chi phí giám định chữ ký, chữ viết stiền 2.550.000 đồng nhưng chi
phí giám định do bị đơn nộp tạm ứng, do yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp
nhận nên nguyên đơn phải hoàn trả lại cho ông Đ, T2 chi phí giám định
2.550.000 đồng. ,
[11] Về án phí dân sự sơ thẩm:
[11.1] Bà Nguyễn Kim T, Nguyễn Tuấn K, Nguyễn Tuấn K1 chịu án phí dân
sự thẩm 55.916.806 đồng;(trong đó: tiền án phí dân sự thẩm 40.000.000
đồng đối với nghĩa vụ hoàn trả lại tiền cho ông H, T3 stiền theo hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất 800.000.000 đồng; tiền án phí 15.316.806
đồng đối với số tiền yêu cầu không được chấp nhận hoàn trả giá trị hợp đồng
170.000.000 đồng, tiền yêu cầu bồi thường thiệt hại stiền 136.336.125 đồng
600.000 đồng đối với yêu cầu tuyên hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất của bị đơn ông Đ, T2 với người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
16
H, bà T3 được chấp nhận) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp
22.689.937 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001878 ngày
19/11/2024, số 0002045, số 0002046, số 0002047 cùng ngày 13/5/2024 số
0002944 ngày 20/5/2025 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên
(Nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 - Thi hành án dân sự tỉnh An Giang).
Sau khi khấu trừ bà Nguyễn Kim T, ông Nguyễn Tuấn K, ông Nguyễn Tuấn K1
còn phải nộp tiếp án phí dân sự sơ thẩm số tiền 33.226.869 đồng
[11.2] Ông Đặng Công Đ Lâm Thị Quốc T2 người cao tuổi thuộc
trường hợp được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản
3 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý s
dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[11.3] Ông Nguyễn Tấn H, Trương Bá Thanh T3 phải nộp 300.000 đồng
án phí dân sự thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ng án phí đã nộp
20.339.711 đồng theo các biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002373, số
0002373 cùng ngày 19/7/2024 số 0001879 ngày 19/11/2024 của Chi Cục thi
hành án dân sự thành phố Long Xuyên (Nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực
9 - Thi hành án dân sự tỉnh An Giang). Sau khi khấu trừ ông Nguyễn Tấn H và bà
Trương Bá Thanh T3 được nhận lại 20.039.711 đồng
[12] Về án phí phúc thẩm: Lâm Thị Quốc T2, ông Nguyễn Công Đ1
người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí theo
điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản Điều 148, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân s
năm 2015; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số , ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án
phí, lệ phí Toà án;
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Bà Lâm Thị Quốc T2, ông Đặng Công Đ
Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Tấn H
Trương Thanh T3 yêu cầu Nguyễn Kim T, ông Nguyễn Tuấn K ông
Nguyễn Tuấn K1 bồi thường thiệt hại số tiền 115.980.765 đồng cho ông Nguyễn
Tấn H và bà Trương Bá Thanh T3.
Sửa Bản án dân sự thẩm số 63/2025/DS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang.
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c
khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 157, Điều 158, Điều 160, Điều 161, Điều 165,
17
Điều 166, Điều 244, khoản 1 Điều 273, Điều 278 Điều 280 Bộ luật Tố tụng
dân sự; Điều 117, Điều 119, Điều 122, Điều 123, Điều 129, Điều 131, Điều 500,
Điều 502, Điều 503 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26, Điều 236 Luật đất đai
năm 2024; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26, khoản 3 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn
Kim T, ông Nguyễn Tuấn K ông Nguyễn Tuấn K1 yêu cầu công nhận hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 09m
2
(không ghi
ngày tháng năm) giữa bên chuyển nhượng ông Đặng Công Đ, bà Lâm Thị Quốc
T2 với bên nhận chuyển nhượng ông Nguyễn Thành T7, người chứng kiến ông
Bùi Văn H1
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Kim T,
ông Nguyễn Tuấn K và ông Nguyễn Tuấn K1 yêu cầu ông Đặng Công Đ, Lâm
Thị Quốc T2 hòan trả giá trị hợp đồng chuyển nhượng quyn sử dụng đất với số
tiền 170.000.000 đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại số tiền 136.336.125 đồng
3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Kim
T, ông Nguyễn Tuấn K ông Nguyễn Tuấn K1 đối với hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 21/4/2011, diện tích 19,35 m
2
4. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Đặng Công Đ Lâm Quốc T2
yêu cầu:
4.1.Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 21/4/2011,
diện tích 19,35 m
2
giữa bên chuyển nhượng ông Đặng Công Đ, Lâm Thị Quốc
T2 với bên nhận chuyển nhượng ông Nguyễn Thành T7 hiệu do vi phạm
điều cấm.
4.2. Buộc ông Đặng Công Đ, Lâm Thị Quốc T2 có trách nhiệm trả lại cho
Nguyễn Kim T, ông Nguyễn Tuấn K ông Nguyễn Tuấn K1 tổng stiền
726.326.325 đồng; trong đó số tiền T2 ông Đ đã nhận theo chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 21/4/2011, số tiền 347.400.000 đồng và tiền bồi thường
thiệt hại số tiền 378.926.325 đồng.
5. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Tấn H và
Trương Thanh T3 yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất với bà Nguyễn Kim T, ông Nguyễn Tuấn K và ông Nguyễn Tuấn K1 vô hiệu
5.1. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng ngày 16/10/2023 giữa bên chuyển
nhượng Nguyễn Kim T, Nguyễn Tuấn K Nguyễn Tuấn K1 với bên nhận
chuyển nhượngNguyễn Tấn H Trương Thanh T3 đối với thửa đất số 06,
diện tích là 27,1m
2
được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 theo bản
trích đo hiện trạng ngày 04/6/2024 của Công ty TNHH M1. Vị trí thửa đất tọa lạc
tổ B đường B, phường L, tỉnh An Giang vô hiệu
18
5.2. Buộc Nguyễn Kim T, ông Nguyễn Tuấn K ông Nguyễn Tuấn K1
trách nhiệm hoàn trả lại cho ông Nguyễn Tấn H, Trương Thanh T3 số
tiền 800.000.000 đồng.
5.3. Buộc ông Nguyễn Tấn H, Trương Thanh T3 trách nhiệm tháo
dỡ, di dời vật kiến trúc căn nhà cấu trúc nền lát gạch ceramic, khung sắt tiền
chế, mái tole, nhà sử dụng nhờ 02 vách của 02 hộ, vtrí hướng đường B vào, cửa
chính làm bằng cửa kiếng lùa, khung nhôm; trần nhà ốp tấm lam sóng + thạch
cao, trang trí nơi các vách mượn có gắn các tấm thang tre + lam sóng + thạch cao.
Mái che vị trí phía trước căn nhà cấu trúc cấu trúc cột sắt, bạt kéo (kinh doanh
xe gắn máy Hiền N) đồ đạc nhân để giao trả cho gia đình của Lâm Thị
Quốc T2 đối với diện tích là 27,1m
2
, thửa đất số 06 được giới hạn bởi các điểm 1,
2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 theo bản trích đo hiện trạng ngày 04/6/2024 của Công ty
TNHH M1. Vị trí thửa đất tọa lạc tại đường B, phường L, tỉnh An Giang
5.4. Giao cho m Quốc T2 đại diện quản đối với diện tích 27,1m
2
được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 theo bản trích đo hiện trạng
ngày 04/6/2024 của Công ty TNHH M1
(Bản trích đo hiện trạng ngày 04/6/2024 của Công ty TNHH M1 được đính
kèm với bản án)
6. Về quyền lưu cư: Ông Nguyễn Tấn H, Trương Thanh T3 được
quyền lưu trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật.
Ông Nguyễn Tấn H, bà Trương Thanh T3 nghĩa vụ giao lại diện tích đất
cho gia đình của Lâm Thị Quốc T2 kể từ khi hết thời hạn lưu cư.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền
còn phải thi hành án theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[7] Về chi phí tố tụng:
[7.1] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc định giá đối với tài
sản là 13.017.800 đồng. Các đương sự đều phải nộp chi phí tố tụng tương ứng với
số tiền 4.339.266 đồng. Sau khi khấu trừ tiền tạm ứng chi phí đều do nguyên đơn
nộp nên Nguyễn Kim T, ông Nguyễn Tuấn K ông Nguyễn Tuấn K1 đã nộp
đủ đối với chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá.
- Ông Đ, T2 nghĩa vhoàn trả lại cho nguyên đơn chi phí tố tụng số
tiền 4.339.266 đồng.
- Ông H, T3 nghĩa vhoàn trả lại cho nguyên đơn chi phí tố tụng số
tiền 4.339.266 đồng.
[7.2] Chi phí giám định chữ ký, chữ viết: nguyên đơn bà Nguyễn Kim T, ông
Nguyễn Tuấn K, ông Nguyễn Tuấn K1 phải hoàn trả lại cho ông Đ, T2 số tiền
tạm ứng chi phí giám định là 2.550.000 đồng.
8. Về án phí dân sự:
8.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
19
- Nguyễn Kim T, Nguyễn Tuấn K, Nguyễn Tuấn K1 cùng phải chịu án
phí dân sự thẩm 55.916.806 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng
án phí đã nộp 22.689.937 đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001878 ngày
19/11/2024, số 0002045, số 0002046, số 0002047 ng ngày 13/5/2024 số
0002944 ngày 20/5/2025 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên
(Nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 - Thi hành án dân sự tỉnh An Giang).
Sau khi khấu trừ bà Nguyễn Kim T, ông Nguyễn Tuấn K, ông Nguyễn Tuấn K1
còn phải nộp tiếp án phí dân sự sơ thẩm số tiền 33.226.869 đồng
- Ông Nguyễn Tấn H bà Trương Thanh T3 cùng phải chịu án phí
300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí
đã nộp 20.339.711 đồng theo các biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002373, số
0002373 cùng ngày 19/7/2024 số 0001879 ngày 19/11/2024 của Chi Cục thi
hành án dân sự thành phố Long Xuyên (Nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực
9 - Thi hành án dân sự tỉnh An Giang). Sau khi khấu trừ ông Nguyễn Tấn H và bà
Trương Bá Thanh T3 được nhận lại 20.039.711 đồng.
- Ông Đặng Công Đ Lâm Thị Quốc T2 người cao tuổi thuộc trường
hợp được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 3 Điều
29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý s
dụng án phí, lệ phí Tòa án.
8.2. Về án phí phúc thẩm: Ông Đặng Công Đ Lâm Thị Quốc T2
người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí theo
điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án quy định.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a 9
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
* Nơi nhận:
- Đương sự;
- Tòa Dân sự;
- VKSND tỉnh An Giang;
- Phòng GĐKT,TT&THA;
- TAND Khu vực 9-An Giang;
- Phòng THADS Khu vực 9-An Giang;
- Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM;
- Văn phòng;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Trịnh Ngọc Thúy
20
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 360/2026/DS-PT Bản án số 360/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 360/2026/DS-PT Bản án số 360/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất