Bản án số 28/2026/HNGĐ-PT ngày 30/07/2026 của TAND tỉnh An Giang về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 28/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 28/2026/HNGĐ-PT ngày 30/07/2026 của TAND tỉnh An Giang về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh An Giang
Số hiệu: 28/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/07/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: NĐ yêu cầu chia các tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân và hủy HĐCNQSDĐ do BĐ tự ký và chuyển nhượng tài sản chung của vợ chồng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 28/2026/HNGĐ-PT Bản án số 28/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 28/2026/HNGĐ-PT Bản án số 28/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG
____________
Bản án số: 28/2026/HNGĐ-PT
Ngày: 30-7-2026
V/v tranh chấp ly hôn, chia tài sản khi ly
hôn, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, vay tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hnh phúc
_________________________________
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Thúy
Các Thẩm phán: Ông Lưu Hữu Giàu và ông Nguyễn Hoàng Thám
- Thư phiên tòa: Trương Phan Yến Ngọc - Thư Tòa án nhân dân
tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang: Nguyễn Mỹ Duyên
- Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 30 tháng 7 năm 2026 tại trsở a án nhân dân tỉnh An Giang xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 07/2026/TLPT-HNGĐ ngày 28 tháng 01
năm 2026, về việc: “Tranh chấp ly hôn, chia tài sản khi ly hôn, tranh chấp hp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản”
Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 81/2025/HNGĐ-ST ngày 23 tháng
9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - An Giang, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra t xử phúc thẩm số: 08/2026/QĐXXPT-
HNGĐ ngày 29 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1973; i trú: số C, tổ
G, ấp N, xã N, tỉnh An Giang (Có mặt)
+ Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật Phạm
Thái B - Văn phòng L3. Địa chỉ tD, khóm H, A, tỉnh An Giang thuộc Đoàn
luật sư tỉnh A (Có mặt)
2. Bị đơn: Ông Lâm Hoàng S (B1), sinh năm 1969; nơi trú: số C, tổ G, ấp
N, xã N, tỉnh An Giang. Địa chỉ liên lạc: Ấp N, xã N, tỉnh An Giang (Có mặt)
+ Người đại diện theo y quyền của bị đơn về phần tài sản: Ông Châu Tuấn
K, sinh năm 2000; địa chỉ: tA, ấp P, C, tỉnh An Giang đại diện theo văn bản
ủy quyền ngày 27/5/2025. (Có mặt)
2
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Nguyễn Văn Ngọc L, sinh năm 1999; nơi cư trú: ấp L, xã C, tỉnh An
Giang.
+ Người đại diện theo ủy quyền của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Ngọc L:
Ông Hồ Trung C, sinh năm 1970; địa chỉ ấp L, xã L, tỉnh An Giang theo Giấy
ủy quyền được Văn phòng C1 công chứng số 1214/2026/CCGD ngày 04/3/2026
(Có mặt)
Ông Phan Quốc P, sinh năm 1986. Địa chỉ tổ A, khóm T, C, tỉnh An
Giang theo Giấy ủy quyền ngày 29/7/2026 được văn phòng C1 công chứng số
4780/2026/CCGD ngày 29/7/2026 (Có mặt)
3.2. Chị Nguyễn Thị Ý N1, sinh năm 1990; nơi trú: ấp K, C, tỉnh An
Giang (Vắng mặt)
3.3. Chị Lâm Nguyễn Như N2, sinh ngày 13/3/2000; nơi trú: số C, tG,
ấp N, xã N, tỉnh An Giang. (Có mặt)
3.4. Anh Lâm Hoàng P1, sinh ngày 10/3/1995; nơi trú: hẻm A, đường T,
khu phố F, đặc khu P, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)
3.5. Ông Nguyễn Quan H, sinh ngày 12/8/1981; nơi trú: ấp N, N, tỉnh
An Giang. (Vắng mặt)
3.6. n phòng C1; địa chỉ: số D, tỉnh l942, khóm L, xã C, tỉnh An Giang.
(Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
4. Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Tuyết N, ông Lâm Hoàng S, ông
Nguyễn Văn Ngọc L.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo hồ sơ án sơ thẩm thể hiện:
* Theo đơn khi kiện ngày 24/12/2024, bổ sung các ngày 19/5/2025,
13/6/2025, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Nguyễn Thị
Tuyết N trình bày,
N ông Lâm Hoàng S tên gọi khác B1 chung sống với nhau vào
năm 1994, có đăng ký và được Ủy ban nhân dân xã N cấp chứng nhận kết hôn vào
ngày 23/12/2002. Đồng thời, vợ chồng chưa từng ly hôn nhưng Ủy ban nhân n
N lại cấp chứng nhận kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 211 ngày
26/9/2017 là không đúng. Quá trình chung sống, vợ chồng cùng tạo lập các tài sản
sau đây:
Quyền sử dụng diện tích 249,6m
2
đất ở nông thôn, thửa số 118, tờ bản đồ số
47, tọa lạc N, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận số CH01951 ngày
12/02/2011 cấp cho bà N, ông Hoàng S (sau đây gọi là đất ở tại N). Trên đất có
3
căn nhà của vợ chồng tạo lập do N trực tiếp quản lý, cùng con Lâm Nguyễn
Như N2 thường xuyên cư trú.
Quyền sử dụng diện tích 1.500m
2
đất lúa, đo đạc diện tích 1.609,0m
2
, thửa
số 6048, tờ bản đồ số 03, tọa lạc N, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận số
CH00299 ngày 21/01/2011 cấp cho N, ông Hoàng S (sau đây gọi đất lúa tại
N) do N trực tiếp quản lý, cho ông Nguyễn Quan H thuê đất sử dụng
trồng lúa.
Quyền sử dụng diện tích 26.321m
2
đất lúa, đo đạc thực tế diện tích 27.056m
2
,
thửa số 107, 822, tờ bản đồ số 01, tọa lạc xã T, tỉnh An Giang theo giấy chứng
nhận số 02882/fH ngày 31/12/2001 cấp cho ông Hoàng S (sau đây gọi đất lúa
tại xã T) do ông Hoàng S trực tiếp quản rồi bán lại cho ông Nguyễn Văn Ngọc
L mà bà N không biết.
Nguyên nhân ly hôn: Từ khoảng năm 2018, ông Hoàng S tự ý bỏ nhà đi,
không chịu làm ăn, quan tâm vợ con và có người phụ nữ khác. Vợ chồng sống ly
thân kể từ thời gian này đến nay. vậy, bà N yêu cầu ly hôn với ông Hoàng S.
Bà N không yêu cầu trực tiếp nuôi con Lâm Hoàng P1, sinh ngày 10/3/1995 và chị
Lâm Nguyễn Như N2, sinh ngày 13/3/2000 do con đã thành niên khả năng
lao động.
N yêu cầu chia đôi tài sản cho N nhận hưởng bằng hiện vật gồm: diện
tích 249,6m
2
đất ở, căn nhà trên đất diện tích 1.609,0m
2
đất a, đều tại N;
diện tích 27.056m
2
đất lúa tại T. Đến ngày 16/5/2025, N rút lại yêu cầu chia
tài sản căn nhà trên diện tích 249,6m
2
đất ở tại xã N.
Vào ngày 13/6/2025, N đơn khởi kiện về yêu cầu bổ sung, vô hiệu hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 5358, quyển số 02/2024 giữa ông Lâm
Hoàng S ông Nguyễn Văn Ngọc L về diện tích 26.321m
2
đo đạc thực tế diện
tích 27.056m
2
đất lúa tại xã T có công chứng của Văn phòng C1 lập ngày
07/11/2024 và yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định của
pháp luật.
* Theo đơn yêu cầu phản tố ngày 17/7/2025, lời khai trong quá trình giải
quyết vụ án, bị đơn ông Lâm Hoàng S, đại diện theo ủy quyền là ông Châu Tuấn K
trình bày:
Ông Hoàng S thống nhất thời điểm chung sống với N vào năm 1994,
đăng được cấp chứng nhận kết hôn vào năm 2017 vợ chồng 02 đứa
con Lâm Hoàng P1 Lâm Nguyễn Như N2 như N trình bày. vậy, ông
Hoàng S thuận tình ly hôn với bà N.
Đồng thời, ông Hoàng S thống nhất với bà N về yêu cầu chia đôi tài sản gồm:
đất đất lúa tại N. Xác định trách nhiệm trả nchung của vợ chồng. Riêng
diện tích 26.321m
2
đất lúa đo đạc diện tích 27.056m
2
tại T do năm 2013, ông
Hoàng S đã bán phần đất 10 công tại xã T của cha mẹ cho riêng ông Hoàng S vào
khoảng 1990 để nguồn tiền mua lại diện tích 26.321m
2
đất lúa tại T từ ông
Phạm Thành Ú, ông Phạm Văn H1 theo giấy chứng nhận đã cấp cho ông Hoàng S.
Vì vậy, ông Hoàng S không chấp nhận chia đất lúa tại xã T.
4
Bên cạnh đó, ông Hoàng S yêu cầu chia nhà cùng các công trình trên đất ở tại
N gồm: nhà chính, nhà sau, mái che và phần tường rào (bao gồm cổng rào) đều
được xây dựng vào năm 2011, theo giấy chứng nhận số CH00299 ngày
21/01/2011 cấp cho bà N, ông Hoàng S.
* Theo đơn yêu cầu độc lập ngày 03/7/2025, lời khai trong quá trình giải
quyết ván, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Ngọc L, đại
diện theo ủy quyền là anh Lê Thanh Duy L1 trình bày:
Anh Ngọc L nhận chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích 26.321m
2
đất
lúa tại xã T, giấy chứng nhận số 02882/fH ngày 31/12/2001 cấp cho ông Hoàng S
theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng của Văn phòng
C1 lập ngày 07/11/2024. Giá chuyển nhượng ghi trong hợp đồng 1.316.050.000
đồng nhưng thực tế là 3.158.520.000 đồng.
Thực hiện hợp đồng, anh Ngọc L đã giao cho ông Hoàng S nhận số tiền
3.000.000.000 đồng vào ngày 23/10/2024, còn lại số tiền 158.520.000 đồng đến
khi nào đo đạc đất thì anh Ngọc L sẽ giao đủ cho ông Hoàng S. Đồng thời, ông
Hoàng S đã giao đất chuyển nhượng cho anh Ngọc L nhận canh tác. vậy, anh
Ngọc L yêu cầu công nhận hiệu lực hợp đồng chuyển nhượng giữa anh Ngọc L
ông Hoàng S v quyền sử dụng diện ch 26.321m
2
đo đạc thực tế diện tích
27.056m
2
đất lúa được xác lập vào ngày 07/11/2024. Đồng thời, anh Ngọc L yêu
cầu ông Hoàng S phải thực hiện hợp đồng, chuyển quyền sử dụng cho anh Ngọc L
về diện tích 27.056m
2
đất lúa tại xã T.
* Theo đơn yêu cầu độc lập ngày 03/7/2025, lời khai trong quá trình giải
quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chNguyễn Thị Ý N1, đại diện
theo ủy quyền chị Huỳnh T trình bày, vào ngày 05/11/2024, chị N1 giao cho
ông Hoàng S nhận số tiền vay 500.000.000 đồng, thời hạn vay 01 tháng sẽ trả lại
gốc, mục đích vay tiền đáo hạn Ngân hàng do trước đó N, ông Hoàng S vay
tiền Ngân hàng chưa trả. Hết thời 01 tháng, chị N1 yêu cầu ông Hoàng S trả lại
số tiền vay nhưng ông Hoàng S chưa thực hiện. vậy, chN1 yêu cầu bà N, ông
Hoàng S cùng liên đới trả lại cho chị N1 số tiền vay 500.000.000 đồng.
* Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan anh Lâm Hoàng P1 trình bày, kết quả đo đạc phần đất trồng lúa diện
tích 27.056m
2
tại xã T lấn qua đất của anh P1 đang đứng giấy chứng nhận và phần
chỉ dẫn lệch trong đất đang tranh chấp thì tự cha mẹ giải quyết, anh P1 không
tranh chấp gì khác.
* Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan chị L2 Nguyễn Như N2 trình bày, chị N2 đang sống chung nhà với mẹ là
Nguyễn Thị Tuyết N. Ngoài ra, không còn ai khác sống chung. Các vấn đề cha
mẹ tranh chấp tài sản thì tự cha mẹ giải quyết, chị N2 không tranh chấp gì khác.
* Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan ông Nguyễn Quan H trình bày: m 2018, ông H hợp đồng với bà N
thuê phần đất trồng lúa tại N, việc thuê đất này có thời hạn 01 năm (sản xuất 03
vụ/năm) trả tiền thuê hằng năm 2.000.000 đồng/công. Hết thời hạn 01 năm
5
thì ông H tiếp tục thuê với N, chỉ i miệng. Hiện tại, ông H vẫn còn canh tác
đất này, nếu vợ chồng ông Hoàng S, bà N chia tài sản thì ông H chấp nhận giao trả
lại đất, không tranh chấp và không yêu cầu giải quyết vấn đề gì khác.
* Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan Văn phòng C1 trình bày, hợp đồng bảo đảm đúng trình tự, thủ tục, chủ
thể tham gia hợp đồng trong trạng thái minh mẫn, sáng suốt tự nguyện giao kết
đúng quy định của pháp luật, mục đích, nội dung giao kết không trái pháp luật,
không trái đạo đức xã hội.
* Ý kiến tại phiên tòa của ông B, bảo vệ quyền và lợi ích hp pháp của bà N:
bà N yêu cầu nhận các phần đất lúa tại xã N và xã T, không yêu cầu chia nhà tại
N, bà N chấp nhận hoàn tỷ lệ 50% giá trị nhà, đất ở và đất lúa cho ông S. Diện tích
đất lúa tại T do vợ chồng cùng mua, theo ông Hoàng S đã khai nhận, phần đất
lúa tại T mua vào năm 1995, thấy rằng mua đất trong thời kỳ hôn nhân. Căn cứ
theo Nghị quyết số 35 của Quốc hội thì trong 02 năm từ năm 2001 đến năm 2003,
vợ chồng đăng kết hôn thì coi hôn nhân hợp pháp, được công nhận từ năm
2003 trngược lại. Bên cạnh đó, người làm chứng anh em ruột với ông Hoàng
S đã cam đoan xác nhận diện tích đất lúa tại xã T do vợ chồng ông Hoàng S, N
cùng mua, N chưa văn bản nào xác định đất lúa tại T tài sản riêng của
ông Hoàng S. Ngoài ra, khi vay tiền Ngân hàng, N ông Hoàng S cùng vay,
cùng thế chấp tài sản đất lúa tại xã T. Về trách nhiệm trả nợ chị N1 thì bà N không
biết việc ông Hoàng S vay tiền của chị N1. Hơn nữa, tại phiên tòa ông Hoàng S
khai đã trả hết nợ cho chị N1 500.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử cân nhắc.
Văn phòng C1 xác nhận hợp đồng chuyển nhượng không đúng quy định của
pháp luật. ông Hoàng S bán đất cho anh Ngọc L lấy tiền cũng không giao cho
N sử dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ khởi kiện của bà N.
* Ý kiến tại phiên tòa của N: N yêu cầu không chia căn nhà công
trình trên đất và cũng không thống nhất giá căn nhà, công trình trên đất theo chứng
thư thẩm định giá của Công ty Cổ phần T3, đồng thời thống nhất theo ý kiến của
ông B, không bổ sung gì khác.
* Ý kiến tại phiên tòa của ông Hoàng S:xác định vợ chồng kết hôn vào năm
2017, không đăng kết hôn vào năm 2002. Thống nhất chia nhà đất tại N
và thống nhất giá phần đất lúa tại T do Công ty Cổ phần T3 xác định, còn phần
nhà công trình trên đất tại N yêu cầu theo giá của Công ty Cổ phần T3 xác
định do ông Hoàng S giao nộp. Phần đất lúa tại xã T không phải tài sản chung với
N. Việc ông Hoàng S bán đất lúa tại T cho anh Ngọc L được ông Hoàng S
nhận 3.000.000.000 đồng sử dụng vào việc mua lại đất khác. Ông Hoàng S xác
định nợ chị N1 500.000.000 đồng nợ chung do ông Hoàng S vay để đáo hạn nợ
vay Ngân hàng mà trước đây ông Hoàng S, bà N cùng vay tại Ngân hàng.
* Ý kiến tại phiên tòa của anh K, đại diện của ông Hoàng S: ông Hoàng S
yêu cầu nhận nhà đất tại N để cư trú và canh tác. Nợ của chị N1 là xuất phát nợ
chung của v chồng. Chấp nhận công nhận hiệu lực hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất lúa tại T giữa ông Hoàng S anh Ngọc L và không ý
kiến gì khác.
6
* Ý kiến tại phiên tòa của anh Duy L1, đại diện của anh Ngọc L: giữ nguyên
yêu cầu độc lập, không ý kiến gì khác.
* Ý kiến tại phiên tòa của chị Như N2: muốn mN nhận nđất để
sống chung nhà với mẹ, không có ý kiến gì khác.
* Ý kiến tại phiên tòa của ông Đ; ông P2; T1; ông Hồng S1; ông Ú: đều
cam đoan lời khai trung thực, ông P2, ông Hồng S1 anh em ruột của ông Hoàng
S; T1 chị dâu, ông Đ anh rể của ông Hoàng S ông Ú người n một
phần đất tại xã T đều xác định phần đất lúa tại xã T của vợ chồng ông Hoàng S,
bà N cùng xuất vàng ra mua.
* Tại Bản án hôn nhân gia đình thẩm số: 81/2025/HNGĐ-ST ngày 23
tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - An Giang, đã quyết định:
1. Công nhận thuận tình ly hôn giữa Nguyễn Thị Tuyết N ông Lâm
Hoàng S.
2. Xác định tài sản chung của bà N, ông Hoàng S bao gồm:
Căn nhà chính, căn nhà sau, mái che, hàng rào trên diện tích 249,6m
2
đất ở và
Quyền sử dụng diện tích 249,6m
2
đất , tọa lạc N, tỉnh An Giang, giấy chứng
nhận số CH01951 ngày 12/02/2011 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho
Nguyễn Thị Tuyết N, ông Lâm Hoàng S;
Quyền sử dụng diện ch đo đạc 1.609,0m
2
đất lúa, tọa lạc N, tỉnh An
Giang, giấy chứng nhận số CH00299 ngày 21/01/2011 do Ủy ban nhân dân huyện
C cấp cho bà Nguyễn Thị Tuyết N, ông Lâm Hoàng S;
Quyền sử dụng diện tích đo đạc 27.056m
2
đất lúa, tọa lạc xã T, tỉnh An Giang
theo giấy chứng nhận số 02882/fH ngày 31/12/2001 do Ủy ban nhân dân huyện T
cấp cho ông Lâm Hoàng S;
3. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan anh Nguyễn Văn Ngọc L về yêu cầu công nhận hiệu lực hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 07/11/2024 giữa ông Hoàng S anh Ngọc L về
quyền sử dụng diện tích 26.321m
2
, đo đạc 27.056m
2
đất lúa, tọa lạc T, tỉnh An
Giang.
4. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất ngày 07/11/2024 giữa ông
Hoàng S anh Ngọc L về quyền sử dụng diện tích 26.321m
2
, đo đạc 27.056m
2
đất lúa, tọa lạc xã T, tỉnh An Giang là vô hiệu.
5. Chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Tuyết N về yêu cầu
giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, buộc ông Nguyễn Văn Ngọc L phải
trách nhiệm trả lại cho bà Nguyễn Thị Tuyết N, ông Lâm Hoàng S quyền sử dụng
diện tích đo đạc 27.056m
2
đất lúa, tọa lạc T, tỉnh An Giang tại các điểm 1, 2,
14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 26 theo Sơ đồ hiện trạng lập ngày 07/5/2025 của Công
ty Đ1.
7
Buộc ông Hoàng S phải trả lại cho anh Ngọc L s tiền chuyển nhượng
3.000.000.000 đồng.
6. Chia tài sản chung của vợ chồng, cụ thể:
6.1. Chia cho N được hưởng hiện vật, ông Hoàng S phải giao cho bà N
quyền sử dụng diện tích 1.609,0m
2
đất lúa, tọa lạc N, tỉnh An Giang tại các
điểm 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 15, 3 theo Sơ đồ hiện trạng lập ngày 07/5/2025 của Công
ty Đ1.
Chia cho N được hưởng hiện vật, ông Hoàng S phải giao cho N quyền
sử dụng diện tích 249,6m
2
đất ở, tọa lạc xã N, tỉnh An Giang tại các điểm 1, 9, 41,
42; sở hữu nhà chính có diện tích 136,7m
2
tại các điểm 37, 38, 39, 40; sở hữu nhà
sau diện tích 35,9m
2
tại các điểm 2, 10, 40, 39 sở hữu mái che diện tích
32,9m
2
tại các điểm 35, 36, 37, 38, hàng rào (bao gồm cổng rào) chiều dài
11,81m tại các điểm 36, 32, 33, 35, đều tọa lạc N, tỉnh An Giang theo đồ
hiện trạng lập ngày 07/5/2025 của Công ty Đ1;
6.2. Chia cho ông Hoàng S được hưởng hiện vật, N phải giao cho ông
Hoàng S quyền sử dụng diện tích 27.056m
2
đất lúa, tọa lạc xã T, tỉnh An Giang tại
các điểm 1, 2, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 26 theo đồ hiện trạng lập ngày
07/5/2025 của Công ty Đ1;
Các đương sự quyền, nghĩa vụ thực hiện thủ tục đăng quyền sử dụng
đất tại quan nhà nước thẩm quyền theo quy định của pháp luật đất đai (có
kèm theo 03 Sơ đồ hiện trạng lập ngày 07/5/2025 của Công ty Đ1).
6.3. N phải thanh toán cho ông Hoàng S giá trị quyền sử dụng đất, nhà và
công trình trên đất tại xã N, tỉnh An Giang số tiền 319.743.700 đồng.
6.4. Ông Hoàng S phải thanh toán cho N giá trị quyền sử dụng đất tại
T, tỉnh An Giang số tiền 1.943.103.700 đồng.
7. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị
Nguyễn Thị Ý N1 về yêu cầu trả lại tiền vay, buộc Nguyễn Thị Tuyết N, ông
Lâm Hoàng S cùng phải chịu trách nhiệm liên đới trả lại cho chN1 số tiền vay
500.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, về án phí, quyền kháng cáo,
quyền thi hành án và thời hiệu thi hành án của các bên đương sự.
+ Ngày 29 tháng 9 năm 2025, nguyên đơn Nguyễn Thị Tuyết N, kháng
cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm với lý do ông S không bảo
đảm điều kiện thi hành 50% số tiền chia giá trị đất diện tích 27.056 m
2
cho N
việc yêu cầu chia cho N nhận ½ diện tích đất 27.056 m
2
tại T để được
thuận tiện trực tiếp quản lý, sử dụng.
+ Ngày 01 tháng 10 năm 2025, bị đơn ông Lâm Hoàng S (B), kháng cáo
không đồng ý với bản án sơ thẩm, đề nghcấp phúc thẩm xem xét toàn bộ bản án
sơ thẩm.
8
+ Ngày 01 tháng 10 năm 2025, ông Nguyễn Văn Ngọc L kháng cáo, không
đồng ý với bản án thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét toàn bbản án
thẩm.
* Tại phiên tòa:
+ Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn luật sư Phạm
Thái B đưa ra quan điểm bảo vquyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn
Nguyễn Thị Tuyết N; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu kháng
cáo của bà N sửa án thẩm, đối với tài sản chung nhà đất tọa lạc tại N
đề nghị giữ theo bản án thẩm giao cho N được nhận hiện vật bà N trách
nhiệm hoàn lại giá trị cho ông S, tại phiên tòa ông S đã xác định không còn kháng
cáo nên thống nhất. Đối với diện tích đất 27.056 m
2
tọa lạc tại T, tỉnh An
Giang nhằm đảm bảo thuận tiện điều kiện canh tác, ông S cho rằng không có khả
năng hoàn trả giá trị nên bà N xin nhận ½ diện tích đất, phía bị đơn trình bày giữa
vợ chồng đã thỏa thuận phân chia 50 công đất nên cho rằng đã thỏa thuận
chia 25 công tài sản riêng của N nhưng không văn bản nào thể hiện các
bên đã có phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nên không có cơ sở cho
rằng tài sản ông S, bà N đồng ý tự nguyện cho con là tài sản chung đã chia cho bà
N không căn cứ để xem xét. Đề nghị xác định diện tích đất 27.056 m
2
tài
sản chung của vợ chồng để chấp nhận chia cho bà N ½ diện tích đất N nhận
13.528m
2
tiếp giáp với đất của con N chị N2, tại các điểm 5, 6, 7, 8, 9, 10,
11,12 của Bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty TNHH Đ1 lập ngày
09/6/2026.
+ Nguyễn Thị Tuyết N không ý kiến tranh luận bổ sung thống nhất
với trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà.
+ Ông Châu Tuấn K người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Lâm
Hoàng S có ý kiến tranh luận xác định diện tích đất 27.056 m
2
tọa lạc tại xã T đây
tài sản riêng của ông S, thể hiện nguồn gốc hình thành cũng như giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đều đứng tên của nhân ông S. Vào thời điểm ông S
làm hợp đồng chuyển nhượng diện tích đất, cũng như giao diện tích đất cho ông
L thì bà N biết thời gian hơn 1 năm nhưng N không có ý kiến tranh chấp. Ông
S đã nhận đủ tiền bàn giao đất xong cho ông L, việc N yêu cầu hủy hợp
đồng làm ảnh hưởng quyền lợi cũng như gây thiệt hại cho ông L vì vào thời điểm
ký kết hợp đồng tại văn phòng công chứng là đúng quy định của pháp luật nên đề
nghị công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông S ông
L.
+ Ông Lâm Hoàng S không ý kiến tranh luận bổ sung thống nhất với
trình bày của người đại diện theo ủy quyền của ông.
9
+ Ông Phan Quốc P người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn
Ngọc L có ý kiến tranh luận: Vào thời điểm hai bên ký hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất thì ông L căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã
cấp cho nhân ông S. Ông L tin tưởng đã giao đủ số tiền 3.000.000.000 đồng
cho ông S; diện tích đất ông S bàn giao cho ông L nên ông L người thứ ba
ngay tình cần được pháp luật bảo vệ. Cấp sơ thẩm tuyên vô hiệu hợp đồng cho
rằng thiếu chữ ký củaN như vậy làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông L. Ông
S chứng minh được nguồn gốc đất, ông L nhận đất canh tác hơn 01 năm và có cải
tạo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông L để
công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 07/11/2024 giữa
ông L với ông S.
+ Ông Hồ Trung C người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn
Ngọc L ý kiến tranh luận: Xuất phát từ nhu cầu sử dụng đất và trên nguồn gốc
đất chỉ thể hiện nhân ông S đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, o thời điểm chuyển nhượng Văn phòng công chứng đã xác định đây i
sản cá nhân của ông S nên ông S được quyền chuyển nhượng nên hợp đồng công
chứng là hợp pháp. Ông L ký hợp đồng chuyển nhượng đã gửi hồ sơ vào bộ phận
một cửa để thực hiện thủ tục sang tên, ông L đã giao đsố tiền 3.000.000.000
đồng cho ông S để nhận bản chính của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
nhận đất canh tác. Nguồn gốc đất của ông S cũng thể hiện đối với người thuê đất
ông Nguyễn Thanh V đã đồng ý giao trả đất lại cho ông S, khẳng định ông S
quyền chuyển nhượng, việc tuyên hiệu hợp đồng làm ảnh hưởng quyền lợi
của ông L; Các tài liệu, chứng cứ thể hiện việc ông S nhận chuyển nhượng,
khai làm hợp đồng thế chấp khi vay tiền tại ngân hàng, cho thuê lấy đất lại cũng
không gặp sự cản trở nào từ người thuê đất ông V. Ông L người ngay tình
nhận đất để sử dụng, tài sản chung là nhà và đất hơn 1.600 m
2
cấp sơ thẩm đã xét
tài sản chung chia cho ông S nhận giá trị nên ông S phần nhận giá trị
850.000.000 đồng đủ điều kiện để thi hành. Không quy định nào bắt buộc
chứng minh tài khoản, ông S chứng minh được đất lúa tại T nh thành từ 10
công đất của ông S được gia đình cho ông S bán để tạo lập hình thành tài sản
hơn 50 công đất. Các bên thỏa thuận đã thống nhất chia, xác định công đóng
góp 50%, ông S đã giao cho bà N nên bà N đã cho con nên phần tài sản chung bà
N không còn. N chỉ chăm bẩm vào yêu cầu đòi 25 công trong phần tài sản
riêng của ông S. Tại phiên tòa muốn làmđối với phần tài sản chung này nhưng
bà N không hợp tác đã chứng minh cơ sở bà N đã được phân chia tài sản. Đối với
phần đất tranh chấp N không sử dụng chỉ cho thuê, các tài sản thỏa thuận chia
cho con cũng vẫn do N quản cho thuê. Đối với thỏa thuận ràng trong nội
bộ gia đình không có văn bản rõ ràng tạo điều kiện cho bà N yêu cầu vô hiệu hợp
đồng làm ảnh hưởng gây thiệt hại cho ông L. Do đó, đề nghị Hội đồng xét
10
xử chấp nhận kháng cáo của ông L để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất giữa ông S với ông L.
+ Ông Nguyễn Văn Ngọc L xác định thống nhất theo ý kiến trình bày của
người đại diện theo ủy quyền, ông L không ý kiến tranh luận bổ sung xác
định hiện nay ông L đang giữ bản chính của giấy chứng nhận số 02882/fH ngày
31/12/2001 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Lâm Hoàng S.
+ Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn luật sư Phạm
Thái B đưa ra quan điểm bảo vquyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn
Nguyễn Thị Tuyết N bổ sung đối với các văn bản, tài liệu chứng cứ chứng minh
tài sản không phải là tài sản riêng của ông S, hợp đồng chuyển nhượng không
ngay tình khi biết được việc chuyển nhượng N đã đơn ngăn chặn bộ
hồ tại Văn phòng đăng đất không thể thực hiện được việc sang tên. N
mong muốn nhận đất để canh tác nên việc bị đơn cho rằng đây là tài sản riêng của
ông S nên được quyền chuyển nhượng không sở. Tại phiên tòa, ông S,
ông L cũng không cung cấp được thêm tài liệu, chứng cứ mới cấp sơ thẩm đã xác
định đây tài sản chung của vợ chồng nên tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất đúng. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp
nhận yêu cầu kháng cáo của ông S không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông L.
+ Chị Lâm Nguyễn Như N2 không có ý kiến tranh luận.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng
xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp hành đầy đủ quy định của Bộ Luật tố tụng dân
sự từ khi thụ vụ án đến khi xét xử. Các đương sự cũng đã chấp hành đúng các
quy định của pháp luật về tố tụng.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2
Điều 308 Bluật Tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận yêu cầu kháng o của
Nguyễn Thị Tuyết N; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lâm Hoàng S,
ông Nguyễn Văn Ngọc Linh
Sửa Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 81/2025/HNGĐ-ST ngày 23 tháng
9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - An Giang. Chia ½ diện tích đất
27.056 m
2
tọa lạc tại T cho N ông S mỗi bên được nhận tài sản diện
tích đất 13.528 m
2
tại các điểm theo bản trích đo hiện trạng khu đất tranh chấp của
Công ty TNHH Đ1 ngày 09/6/2026. Các phần khác của bản án thẩm giữ
nguyên và các đương sự phải nộp án phí và chi phí tố tụng theo quy định
11
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Bà Nguyễn Thị Tuyết N, ông Lâm Hoàng S (B), ông Nguyễn Văn Ngọc
L kháng cáo trong hạn luật định đóng tạm ứng án phí đầy đủ nên được Hội
đồng xét xử giải quyết theo trình tự phúc thẩm theo Điều 285 Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015.
[1.2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Ý N1, anh Lâm
Hoàng P1, ông Nguyễn Quan H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn
vắng mặt không có lý do; Văn phòng C1 đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, yêu cầu
xét x vắng mặt của Văn phòng công chứng Phạm Thị Thùy T2 phù hợp theo
quy định nên Hội đồng xét xử phúc căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân snăm
2015 tiến hành xét xử vắng mặt đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Nguyễn Thị Tuyết N, ông Lâm Hoàng S, ông Nguyễn Văn Ngọc L xác
định giữ yêu cầu kháng cáo và không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới;
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của các đương sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét
thấy:
[2.1] Giữa bà Nguyễn Thị Tuyết N ông Lâm Hoàng S thống nhất vquan
hệ hôn nhân, thời gian kết hôn năm 1994, ông bà đăng kết hôn được Ủy
ban nhân dân N, huyện C, tỉnh An Giang cấp chứng nhận kết hôn vào ngày
23/12/2002. Thời gian phát sinh mâu thuẫn từ năm 2018, các bên không thể hàn
gắn mâu thuẫn, cả ông S, N đều thống nhất đề nghị giải quyết cho ly hôn nên
cấp sơ thẩm công nhận thuận tình ly n giữa N, ông S theo quy định tại Điều
55 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Nguyễn Thị Tuyết N, ông Lâm Hoàng S thống nhất
trình bày có 02 con chung tên Lâm Hoàng P1 Lâm Nguyễn Như N2, do con đã
thành niên và có khả năng lao động nên không yêu cầu xem xét, giải quyết.
[2.3] Về nợ chung trong thời kỳ hôn nhân: N trình bày không , ông S
xác định vay tiền của chị N1 để trả nợ cho hợp đồng tín dụng hai vợ chồng
vay tại ngân hàng. Chị N1 yêu cầu độc lập buộc ông S, N trách nhiệm
liên đới trả lại cho chị Ý N1 số tiền vay 500.000.000 đồng. Cấp sơ thẩm nhận định
khoản nợ vay của chị N1 dùng để phục vụ cho gia đình N thống nhất
nợ chung cũng như đồng ý các bên sẽ tchịu ½ số nợ. N, ông S thống nhất số
nợ do ông S đã thanh toán cho ngân hàng xuất phát từ nguồn tiền ông S vay của bà
N1 tại biên nhận ngày 15/11/2024 nên chấp nhận yêu cầu độc lập của chị N1 buộc
cả N, ông S cùng liên đới trách nhiệm trả số tiền 500.000.000 đồng cho chị N1
là có căn cứ, các đương sự không kháng cáo
[2.4] Đối với nội dung về quan hệ hôn nhân, con chung, nợ chung các đương
sự thống nhất không kháng cáo nên đối với hôn nhân, về con chung về nợ
chung có hiệu lực Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét, giải quyết.
12
[3] Vtài sản chung: Nguyên đơn N khởi kiện yêu cầu chia i sản
chung của vợ chồng, gồm có:
[3.1] Căn nhà chính, căn nhà sau, mái che, hàng rào trên diện tích 249,6m
2
đất ở và Quyền sử dụng diện tích 249,6m
2
đất , tọa lạc xã N, tỉnh An Giang, giấy
chứng nhận số CH01951 ngày 12/02/2011 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho
Nguyễn Thị Tuyết N, ông Lâm Hoàng S;
[3.2] Quyền sử dụng diện tích đo đạc 1.609,0m
2
đất lúa, tọa lạc xã N, tỉnh An
Giang, giấy chứng nhận số CH00299 ngày 21/01/2011 do Ủy ban nhân dân huyện
C cấp cho bà Nguyễn Thị Tuyết N, ông Lâm Hoàng S;
[3.3] Quyền sử dụng diện tích đo đạc 27.056m
2
đất lúa, tọa lạc T, tỉnh An
Giang theo giấy chứng nhận số 02882/fH ngày 31/12/2001 do Ủy ban nhân dân
huyện T cấp cho ông Lâm Hoàng S;
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự xác định thống nhất các biên bản
xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 12/3/2015, các đồ hiện trạng khu đất tranh
chấp lập ngày 07/5/2025, ngày 09/6/2026 của Công ty Đ1 ghi nhận đối với tài sản
chung của ông S N; Biên bản định giá ngày 09/4/2025 của Hội đồng định
giá tài sản do Tòa án thành lập. Tổng giá trị tài sản: 3.886.207.339 đồng. Các
đương sự đều thống nhất giá trị đất theo giá đã định không yêu cầu định giá lại
nên Hội đồng xét xử căn cứ theo sự thống nhất của các đương sự về giá trị tài sản
đang tranh chấp để giải quyết là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 104 Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2015
[4] Đối với tài sản là quyền sử dụng diện tích 249,6m
2
đất ở; quyền sử dụng
đo đạc thực tế diện tích 1.609,0m
2
đất lúa, đều tại xã N, tỉnh An Giang, bị đơn ông
Hoàng S yêu cầu chia tài sản nhà và vật kiến trúc trên đất ở tại xã N. Tại phiên tòa
phúc thẩm, ông S xác định đối với tài sản tại N, tỉnh An Giang đây tài sản
chung ông đồng ý chia ½ nên không ý kiến hay kháng cáo liên quan đến nội
dung phần tài sản này nên Hội đồng không xem xét lại đối với nội dung tài sản tại
xã N, tỉnh An Giang
[5] Bà N và ông Hoàng S tranh chấp đối với diện tích 27.056m
2
đất lúa tại
T đã được cấp giấy chứng nhận số 02882/fH ngày 31/12/2001 cho ông Phạm
Hoàng S3.
[5.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông S3 trình bày đây đất ông bỏ tiền ra để
chuyển nhượng, nguồn tiền từ đất ông S3 được gia đình cho riêng 10 công đất ông
S3 bán để lấy tiền mua diện tích đất này nên đây tài sản riêng của ông S3, ông
không đồng ý chia ½ diện tích đất cho N. Diện tích đất ông S3 ông L xác
định hai bên thỏa thuận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công
chứng của Văn phòng C1 lập ngày 07/11/2024. Giá chuyển nhượng ghi trong hợp
đồng là 1.316.050.000 đồng nhưng thực tế là 3.158.520.000 đồng
[5.2] Theo yêu cầu của N, Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã thực hiện
việc đo đạc lại hiện trạng khu đất, Căn cứ theo Bản trích đo hiện trạng khu đất
tranh chấp do Công ty TNHH Đ1 ngày 09/6/2026, đo đạc thực tế diện tích
13
27.056m
2
tại các điểm 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,11,12 (theo giấy chứng nhận số
02882/fH ngày 31/12/2001 cấp cho ông Hoàng S3 với diện tích 26.321m
2
đất lúa,
thửa số 107, 822, tờ bản đồ số 01, tọa lạc xã T, tỉnh An Giang diện tích đất theo
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Đối với đo đạc lại khu đất thì tại các điểm
1,2,3,4,5,11,12 diện tích 13528 m
2
tại các điểm 5,6,7,8,9,10,11 diện tích 13528
m
2
. Hội đồng xét xphúc thẩm nhận thấy diện tích đất các đương sự đang tranh
chấp diện tích lớn, vị trí đất theo hình thể thể chia cho c đương sự đều
được nhận hiện vật đất, khi chia diện tích đất vẫn đảm bảo điều kiện tách thửa
cấp giấy đất theo quy định sẽ đảm bảo quyền lợi của đương sự.
[5.3] Ông Ngọc L trình bày ông đang canh tác quyền sử dụng diện tích đo
đạc 27.056m
2
đất lúa tại T theo hợp đồng chuyển nhượng có công chứng được
xác lập vào ngày 07/11/2024 giữa ông Hoàng S3 ông Ngọc L được Văn phòng
C1 hợp pháp nên công nhận đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất.
[5.4] Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy cấp thẩm đã thu thập đầy đủ
các tài liệu, chứng cứ về nguồn gốc hình thành diện tích đất, chủ cũ, người làm
chứng trích toàn bộ hồ về trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất diện tích 27.056m
2
đất lúa tại T, được xác định tài sản chung của
ông S3 với N căn cứ nên chỉ ông S3 tự thực hiện việc chuyển nhượng
hết diện tích đất này không phù hợp theo Điều 35 Luật Hôn nhân và Gia đình
nên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Hoàng S3 và ông Ngọc
L được Văn phòng C1 ng chứng ngày 07/11/2024 hiệu theo khoản 2 Điều
117, Điều 131 Bộ luật Dân sự căn cứ phù hợp theo quy định của pháp
luật.
[5.5] Do đó, ông L trách nhiệm giao trả diện tích đất 27.056m
2
đất lúa, tọa
lạc T, tỉnh An Giang bản chính giấy chứng nhận số 02882/fH ngày
31/12/2001 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông S3, N. Tiền chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ông S3 nhận số tiền 3.000.000.000 đồng của ông L nên
ông S3 có trách nhiệm hoàn trả lại cho ông L là phù hợp
Trong vụ án các đương sự đều không tính thiệt hại do hiệu hợp đồng
chuyển nhượng nên không có xem xét, giải quyết
[6] Hội đồng xét xử điều chỉnh lại một phần án thẩm chia tài sản chung
của N, ông S3 đối với diện tích 27.056m
2
đất lúa tại xã T, tỉnh An Giang. Ông
S3 tại phiên tòa ngày 16/4/2026, cũng thừa nhận việc buộc ông S3 trách nhiệm
hoàn trả giá trị ½ tài sản cho N thì ông không khả năng. Để đảm bảo quyền
lợi của các đương sự nên chia tài sản chung cho ông S3, bà N mỗi người đều nhận
tài sản bằng hiện vật xác định diện tích đất 27.056m
2
đất lúa đo đạc thực tế, tọa lạc
T, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận số 02882/fH ngày 31/12/2001 do Ủy
ban nhân dân huyện T cấp cho ông Lâm Hoàng S diện ch 26.321m
2
đất lúa, tại
các điểm 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,11,12 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất lập ngày
09/6/2026 của Công ty Đ1 tài sản chung của N và ông S nên chia diện tích
14
mỗi người ½ giá trị tài sản xem xét mỗi người đều được nhận ½ diện tích đất
tương đương 13.528 m
2
[7] Từ phân tích trên Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy đối với công sức
đóng góp của các bên trong việc hình thành được quyền sử dụng đất Hội đồng xét
xử phúc thẩm căn cứ theo tinh thần của Án lệ số 03/2016/AL được Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được
công btheo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao thì khi chia công sức của mỗi bên cần phải căn cứ vào
nhu cầu về chỗ ở, điều kiện canh tác để chia hiện vật cho các bên nhằm đảm bảo
quyền lợi cho các đương sự nên cấp sơ thẩm chia tài sản là hiện vật căn nhà và đất
được nhận quyền sử dụng diện tích 249,6m
2
đất ; sở hữu căn nhà các công
trình trên đất ở; quyền sử dụng diện tích 1.609,0m
2
đất lúa, đều tại N, tỉnh An
Giang cho bà N và bà N phải thanh toán giá trị ½ tài sản tại N cho ông Hoàng S
nhận số tiền 319.743.700 đồng.
[8] Điều chỉnh lại cách chia đối với đất tọa lạc tại T chia cho ông S, N
mỗi bên được nhận ½ diện tích đất:
[8.1] N được nhận diện tích 13528 m
2
tại các điểm 1,2,3,4,5,11,12 theo
Bản trích đo hiện trạng khu đất lập ngày 09/6/2026 của Công ty Đ1;
[8.2] Ông S được chia diện tích 13528 m
2
tại các điểm 5,6,7,8,9,10,11 theo
Bản trích đo hiện trạng khu đất lập ngày 09/6/2026 của Công ty Đ1
Tổng giá trị tài sản chung chia cho ông S N mỗi người được nhận
tương đương số tiền 1.943.103.669 đồng
[9] Tại phiên tòa phúc thẩm, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh An Giang đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Tuyết N,
không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lâm Hoàng S ông Nguyễn Văn
Ngọc L phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. vậy, Hội đồng xét xử
sửa một phần bản án thẩm đối với cách chia tài sản chung của N ông S
phần diện tích 27.056m
2
đất lúa đo đạc thực tế, tọa lạc T, tỉnh An Giang cho
các đương sự nhận hiện vật là đất.
Do, bản án thẩm sửa nên điều chỉnh lại chi phí ttụng án phí theo
quy định
[10] Về án phí phúc thẩm: Bà N không phải chịu án phí phúc thẩm nên được
nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp. Ông S, ông L phải nộp án phí phúc thẩm
theo quy định.
[11] Đối với các phần quyết định khác của Bản án thẩm không bị kháng
cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
Vì các lẽ trên;
15
QUYẾT ĐỊNH:
n cứ vào khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số , ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án
phí, lệ phí Toà án;
- Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của N được nhận ½ đối với diện tích
27.056m
2
đất lúa tại xã T, tỉnh An Giang;
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lâm Hoàng S đối với diện
tích 27.056m
2
đất lúa tại xã T, tỉnh An Giangtài sản riêng của ông S và yêu cầu
công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền s dụng đất giữa ông S với ông
Nguyễn Văn Ngọc L ngày 07/11/2024;
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn Ngọc L yêu cầu
công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền s dụng đất giữa ông S với ông
Nguyễn Văn Ngọc L ngày 07/11/2024;
Sửa Bản án Hôn nhân gia đình thẩm số: 81/2025/HNGĐ-ST ngày 23
tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - An Giang;
Căn cứ các Điều 26, 28, 35, 39, 92, 104, 147, 157, 165, 228 Điều 273 Bộ
luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 3, 33, 34, 35, 37, 55, 59, 62 Điều 131 Luật Hôn nhân
Gia đình; Điều 117, 131, 210, 463 Điều 466 Bluật Dân sự; các Điều 24, 26,
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội; điểm b khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP
ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
1. Công nhận thuận tình ly hôn giữa Nguyễn Thị Tuyết N ông Lâm
Hoàng S.
2. Xác định tài sản chung của bà N, ông Hoàng S bao gồm:
Căn nhà chính, căn nhà sau, mái che, hàng rào trên diện tích 249,6m
2
đất ở và
Quyền sử dụng diện tích 249,6m
2
đất , tọa lạc N, tỉnh An Giang, giấy chứng
nhận số CH01951 ngày 12/02/2011 do y ban nhân dân huyện C cấp cho
Nguyễn Thị Tuyết N, ông Lâm Hoàng S;
Quyền sử dụng diện tích đo đạc 1.609,0m
2
đất lúa, tọa lạc N, tỉnh An
Giang, giấy chứng nhận số CH00299 ngày 21/01/2011 do Ủy ban nhân dân huyện
C cấp cho bà Nguyễn Thị Tuyết N, ông Lâm Hoàng S;
Quyền sử dụng diện tích đất 26.321 m
2
theo giấy chứng nhận số 02882/fH
ngày 31/12/2001 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Lâm Hoàng S, đo đạc
hiện trạng diện tích 27.056m
2
đất lúa, tọa lạc xã T, tỉnh An Giang;
3. Chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Tuyết N về yêu cầu
tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông S với ông Nguyễn
Văn Ngọc L ngày 07/11/2024.
16
4. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan ông Nguyễn Văn Ngọc L về yêu cầu công nhận hiệu lực hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 07/11/2024 giữa ông Hoàng S ông Ngọc L đối
với quyền sử dụng diện tích 26.321m
2
(qua đo đạc hiện trạng 27.056m
2
) đất lúa
tọa lạc xã T, tỉnh An Giang.
5. Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 07/11/2024
giữa ông Hoàng S ông Ngọc L về quyền sử dụng diện tích 26.321m
2
(qua đo
đạc thực tế diện tích 27.056m
2
) đất lúa, tọa lạc xã T, tỉnh An Giang là vô hiệu.
6. Buộc ông Nguyễn Văn Ngọc L trách nhiệm giao lại cho N ông S
diện tích đo đạc hiện trạng 27.056m
2
đất lúa, tọa lạc T, tỉnh An Giang tại các
điểm 1, 2, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 26 theo đồ hiện trạng lập ngày 09/6/2026
của Công ty Đ1 bản chính giấy chứng nhận số 02882/fH ngày 31/12/2001 do
Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Lâm Hoàng S.
7. Buộc ông Hoàng S trách nhiệm trả lại cho ông Nguyễn Văn Ngọc L số
tiền chuyển nhượng 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng).
8. Chia tài sản chung của vợ chồng, cụ thể:
8.1. Bà Nguyễn Thị Tuyết N được quản lý, sử dụng đối với:
+ Quyền sử dụng diện tích 1.609,0m
2
đất lúa tọa lạc xã N, tỉnh An Giang theo
giấy chứng nhận số CH00299 ngày 21/01/2011 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp
cho bà Nguyễn Thị Tuyết N, ông Lâm Hoàng S tại các điểm 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 15,
3 theo Sơ đồ hiện trạng lập ngày 07/5/2025 của Công ty Đ1;
+ Quyền sử dụng diện tích 249,6m
2
đất tại các điểm 1, 9, 41, 42; nhà chính
diện tích 136,7m
2
tại các điểm 37, 38, 39, 40; nhà sau diện tích 35,9m
2
tại
các điểm 2, 10, 40, 39 mái che diện tích 32,9m
2
tại các điểm 35, 36, 37, 38,
hàng rào (bao gồm cổng rào) chiều dài 11,81m tại các điểm 36, 32, 33, 35,
thuộc giấy chứng nhận sCH01951 ngày 12/02/2011 do Ủy ban nhân dân huyện
C cấp cho Nguyễn Thị Tuyết N, ông m Hoàng S đều tọa lạc N, tỉnh An
Giang theo Sơ đồ hiện trạng lập ngày 07/5/2025 của Công ty Đ1 ;
+ Quyền sdụng diện tích 13528 m
2
tọa lạc T, tỉnh An Giang theo giấy
chứng nhận số 02882/fH ngày 31/12/2001 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho
ông Lâm Hoàng S tại các điểm 1,2,3,4,5,11,12 theo Bản trích đo hiện trạng khu
đất lập ngày 09/6/2026 của Công ty Đ1,
Ông Hoàng S phải có trách nhiệm giao các tài sản quyền sử dụng đất, nhà
ở và các vật kiến trúc trên đất cho bà N.
8.2. Ông Lâm Hoàng S được quản lý, sử dụng diện tích 13528 m
2
tọa lạc
T, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận số 02882/fH ngày 31/12/2001 do y ban
nhân dân huyện T cấp cho ông Lâm Hoàng S, tại các điểm 5,6,7,8,9,10,11 theo
Bản trích đo hiện trạng khu đất lập ngày 09/6/2026 của Công ty Đ1; N phải
có trách nhiệm giao quyền sử dụng đất cho ông Hoàng S.
17
Các đương sự quyền, nghĩa vụ thực hiện thủ tục đăng ký, khai điều
chỉnh thông tin biến động đối với các quyền sử dụng đất tại quan nhà nước
thẩm quyền theo quy định của pháp luật đất đai.
(02 Bản trích đo hiện trạng khu đất tranh chấp lập cùng ngày 07/5/2025
Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 09/6/2026 của Công ty Đ1 được đính kèm
với bản án).
8.3. Nguyễn Thị Tuyết N phải có nghĩa vụ hoàn lại giá trị tài sản cho ông
Lâm Hoàng S số tiền 319.743.700 đồng (Ba trăm mười chín triệu bảy trăm bốn
mươi ba nghìn bảy trăm đồng).
9. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người quyền lợi, nghĩa vliên quan chị
Nguyễn Thị Ý N1 về yêu cầu trả lại tiền vay
Buộc Nguyễn ThTuyết N, ông Lâm Hoàng S cùng chịu trách nhiệm liên
đới trả lại cho chị N1 số tiền vay 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong,
tất cả các khoản tiền, hằng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi
của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468
Bộ luật Dân sự.
10. Về chi phí tố tụng:
10.1. Ông Hoàng S phải có trách nhiệm hoàn trả lại cho N chi phí ttụng
tại giai đoạn thẩm số tiền 7.926.500 đồng (Bảy triệu chín trăm hai mươi sáu
nghìn năm trăm đồng).
10.2. Về chi pttụng tại giai đoạn phúc thẩm: Chi phí xem xét, thẩm định
tại chỗ số tiền 3.520.000 đồng, N tự nguyện nộp nên được khấu trừ vào số tiền
tạm ứng do bà N nộp theo Biên nhận về việc nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng ngày
24/4/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang. Bà N đã nộp đủ
11. Về án phí:
11.1. Án phí sơ thẩm:
Bà N phải chịu các án phí sơ thẩm số tiền 82.443.000 đồng nhưng được khấu
trừ vào tạm ứng án phí 24.921.000 đồng bà N đã nộp theo các biên lai số: 0023926
ngày 09 tháng 01 năm 2025, 0024638 ngày 19 tháng 5 năm 2025, 0024797 ngày
13 tháng 6 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới nay
Phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 11- An Giang. Sau khi khấu trừ bà N phải nộp
thêm số tiền 57.522.000 đồng;
Ông Hoàng S phải chịu án phí sơ thẩm số tiền 174.443.000 đồng nhưng được
trừ vào tạm ứng án p3.750.000 đồng đã nộp theo biên lai số: 0016547 ngày 23
tháng 7 năm 2025 của Chi cục Thi nh án dân sự huyện Chợ Mới nay Phòng
Thi hành án Dân sự Khu vực 11- An Giang. Sau khi khấu trừ ông S còn phải nộp
thêm tiền án phí số tiền 170.693.000 đồng;
18
Ông Nguyễn Văn Ngọc L phải chịu án phí stiền 600.000 đồng nhưng được
khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0016525
ngày 17 tháng 7 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới nay
Phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 11- An Giang. Sau khi khấu trừ ông L còn
phải nộp thêm số tiền 300.000 đồng;
Hoàn trả cho N1 số tiền 12.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo
biên lai số 0016534 ngày 21 tháng 7 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Chợ Mới nay là Phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 11- An Giang
11.2. Án phí phúc thẩm:
Hoàn trả cho N 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm bà N đã nộp
theo biên lai thu số 0002841 ngày 02/10/2025 của Phòng Thi hành án Dân sự Khu
vực 11-An Giang
Ông Ngô n S4 phải nộp 300.000 đồng tiền án phí phúc thẩm nhưng được
khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm ông S4 đã nộp 300.000 đồng theo biên
lai thu số 0003457 ngày 08/10/ 2025 của Phòng Thi hành án Dân sKhu vực 11-
An Giang. Ông S4 đã nộp đủ tiền án phí.
Ông Nguyễn Văn Ngọc L phải nộp 300.000 đồng tiền án phí phúc thẩm
nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm ông L đã nộp 300.000
đồng theo biên lai thu số 0003153 ngày 06/10/2025 của Phòng Thi hành án Dân sự
Khu vực 11-An Giang. Ông L đã nộp đủ tiền án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
* Nơi nhận:
- Đương sự;
- Tòa GĐ&NCTN;
- VKSND tỉnh AG;
- Phòng GĐKT,TT&THA;
- TAND Khu vực 11-An Giang;
- Phòng THADS Khu vực 11-An Giang;
- Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM;
- Văn phòng;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trịnh Ngọc Thúy
19
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 28/2026/HNGĐ-PT Bản án số 28/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 28/2026/HNGĐ-PT Bản án số 28/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất