Bản án số 651/2026/DS-PT ngày 31/07/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 651/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 651/2026/DS-PT ngày 31/07/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm...
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 651/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 31/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Thiều Thị L - Nguyễn Việt B
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 651/2026/DS-PT Bản án số 651/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 651/2026/DS-PT Bản án số 651/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 651/2026/DS-PT
Ngày: 31-7-2026
V/v tranh chấp: “Ranh giới
quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thái Dũng
Các Thẩm phán: Ông Lê Thành Tôn
Ông Sỹ Danh Đạt
- Thư phiên tòa: Ông Ngô Phúc Thẩm - Thư Tòa án, a án nhân
dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Võ Thị Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 398/2026/TLPT-DS ngày 23 tháng 6 năm
2026 về tranh chấp “Ranh giới quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 54/2026/DS-ST ngày 15 tháng 4 năm 2026
của Toà án nhân dân khu vực 10 – Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1200/2026/QĐ-PT ngày
02 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:Thiều Thị L, sinh năm 1968 (có mặt);
Số CCCD: ************, cấp ngày 16/12/2021;
Địa chỉ: Ấp D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (Nay ấp D, xã Đ, tỉnh
Đồng Tháp).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Việt B, sinh năm 1988 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp C, T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (Nay ấp T, xã Đ, tỉnh Đồng
Tháp).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
Chị Nguyễn Thị Kiều T, sinh năm 1994 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp C, T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (Nay ấp T, xã Đ, tỉnh Đồng
Tháp)
- Người kháng cáo: Bị đơn anh Nguyễn Việt B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm;
Nguyên đơn bà Thiều Thị L trình bày:
Phần đất thửa 109, tờ bản đồ số 17, diện tích 746,4m
2
, loại đất chuyên trồng
lúa nước, địa chỉ tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, nay là ấp T, xã Đ, tỉnh Đồng
Tháp do Thiều ThL đứng tên, phần đất này được cấp nhân cho bà L. Nguồn
gốc do L nhận chuyển nhượng từ Thiều Thị T1 khoảng năm 2012, lúc này
chưa làm thủ tục sang tên. Sau khi nhận chuyển nhượng thì bà L sử dụng cho đến
nay. Đến năm 2024 thì T1 làm thủ tục sang tên cho L đứng tên phần đất trên.
Đến khoảng đầu năm 2025 thì anh B tiến hành o lưới B40 nên giữa L với anh
B phát sinh tranh chấp. Bà L đã nhiều lần thương lượng nhưng không thành.
Theo đơn khởi kiện, L u cầu anh B di dời hàng rào lưới B40, trả lại
phần đất lấn chiếm diện tích khoảng 12m
2
, thuộc một phần thửa 109, tờ bản đồ số
17, đất tọa lạc xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (Nay là xã Đ, tỉnh Đồng Tháp).
Tại phiên họp ngày 23/3/2026, Bà L trình bày thống nhất với Sơ đồ đo đạc
ngày 23/12/2025 do Công ty TNHH D. Đồng thời, Thiều Thị L xác định yêu
cầu anh Nguyễn Việt B di dời hàng rào lưới B40 và các trụ đá từ mốc M28-M27-
M26-M25-M24 ra khỏi đất tranh chấp trả lại cho L phần đất theo đo đạc thực
tế diện tích 8,0m
2
, thuộc một phần thửa 109, tờ bản đồ số 17, đất tọa lạc ấp T, xã
Đ, tỉnh Đồng Tháp, trong phạm vi các mốc M5-M6-M7-M24-M25-M26-M27-
M28 về mốc M5.
Căn cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của L giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất thửa 109, tờ bản đồ số 17 (bản đồ chính quy) đã cấp cho bà L
ngày 11/11/2024.
L thống nhất phần đất tranh chấp giá 90.000 đồng/m
2
, phần lưới
B40 và trụ đá trên đất tranh chấp trong phạm vi các mốc M5-M6-M7-M24-M25-
M26-M27-M28 về mốc M5 giá là 780.000 đồng. Ngoài ra, bà L không yêu cầu
định giá tài sản gì thêm.
Tại phiên toà, L xác định ranh đất giữa các bên là ranh đất thẳng từ trước
đến nay và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu anh Nguyễn Việt B di dời
hàng rào lưới B40 các trụ đá từ mốc M28-M27-M26-M25-M24 ra khi đất
tranh chấp trả lại cho bà L phần đất theo đo đạc thực tế diện tích 8,0m
2
, thuộc mt
phần thửa 109, tờ bản đồ số 17, đất tọa lạc ấp T, Đ, tỉnh Đồng Tháp, trong phạm
vi các mốc M5-M6-M7-M24-M25-M26-M27-M28 về mốc M5.
3
Bị đơn Nguyễn Việt B trình bày ý kiến:
Phần đất thửa 47, tờ bản đồ số 17, diện 1.931,6m
2
, loại đất trồng cây lâu
năm, địa chỉ thửa đất tại ấp T, xã Đ, tỉnh Đồng Tháp do anh Nguyễn Việt B đứng
tên, phần đất này được cấp cá nhân cho anh B. Nguồn gốc phần đất tranh chấp do
anh B nhận chuyển nhượng từ ông Lê Thế C vào năm 2015. Sau khi nhận chuyển
nhượng thì anh B nhận chuyển nhượng thì anh B đã sử dụng nhưng chưa làm hàng
rào. Đến khoảng đầu năm 2025, anh B làm hàng rào lưới B40 thì phát sinh tranh
chấp với phía L. Khoảng cuối năm 2025 thì anh B về sinh sống trên đất tranh
chấp.
Khi anh B nhận chuyển nhượng thửa đất trên thì bao gồm luôn phần đường
cộ lúa nên khi sử dụng anh B tiến hành làm hàng rào bao quanh đường cộ lúa mà
anh đã nhận chuyển nhượng.
Anh Nguyễn Việt B xác định không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn anh không lấn chiếm đất của L. Phần đất diện tích 8,0m
2
trong
phạm vi các mốc M5-M6-M7-M24-M25-M26-M27-M28 về mốc M5 phần
đường cộ của anh B nên không đồng ý với yêu cầu của L.
Đối với đồ đo đạc ngày ngày 23/12/2025 do ng ty TNHH D tanh
B thống nhất, không có ý kiến gì.
Anh B thống nhất phần đất tranh chấp giá là 90.000 đồng/m
2
, phần lưới
B40 và trụ đá trên đất tranh chấp trong phạm vi các mốc M5-M6-M7-M24-M25-
M26-M27-M28 vmốc M5 giá 780.000 đồng. Ngoài ra, anh B không yêu
cầu định giá tài sản gì thêm.
Tại phiên toà, anh B vẫn giữ nguyên ý kiến, không đồng ý với yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn vì phần đất này là đường cộ lúa của anh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Kiều T trình bày:
Chị T thống nhất với toàn bộ lời trình bày của anh Nguyễn Việt B, ngoài ra
không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
Tại bản án dân sthẩm s54/2026/DS-ST ngày 15 tháng 4 năm 2026
của Toà án nhân dân khu vực 10 Đồng Tháp đã quyết định áp dụng: Căn cứ
khoản 9 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26
của Luật Đất đai; Điều 175, Điều 176 của Bộ luật Dân sự; Điều 26 Nghị quyết s
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thiều Thị L.
Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa 109 của Thiều Thị L với
thửa 47 của anh Nguyễn Việt B đoạn thẳng nối từ mốc M22-M23-M24 đến mốc
M7.
4
Buộc anh Nguyễn Việt B trách nhiệm di dời hàng rào lưới B40 từ mốc
M28-M27-M26-M25-M24 các trụ đá tại mốc M28, M27, M26, M25 ra khỏi
đất tranh chấp trả lại cho Thiều Thị L phần đất theo đo đạc thực tế diện tích
8,0m
2
(trong phạm vi các mốc M5-M6-M7-M24-M25-M26-M27-M28 về mốc
M5), thuộc một phần thửa 109, tờ bản đồ số 17, loại đất chuyên trồng lúa nước,
địa chỉ thửa đất tại ấp T, xã Đ, tỉnh Đồng Tháp do bà Thiều Thị L đứng tên.
Ranh đất được sử dụng theo chiều thẳng đứng tính từ lòng đất đến không
gian. Tài sản của hai bên lấn chiếm ranh đất phải di dời theo quy định của pháp
luật. Các đương sự được quyền đến quan Nhà nước thẩm quyền để điều
chỉnh, khai, đăng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật chịu chi
phí (nếu có).
(Kèm theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 25/11/2025 của Tòa
án nhân dân Khu vực 10; đồ đo đạc đo vẽ ngày 23/12/2025 của Công ty TNHH
D1).
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí quyền kháng cáo
của đương sự.
Ngày 28/4/2026 bị đơn Nguyễn Việt B đơn kháng cáo bản án thẩm
yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn anh B giữ nguyên yêu cầu cho rằng phần
tranh chấp là đường cộ lúa của anh nên yêu cầu Hội đồng xét xử chấp nhận kháng
cáo, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của L. Phía nguyên đơn không đồng ý
với kháng cáo của bị đơn, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến: Về tố
tụng việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm
phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân
sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng
theo pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ hồ chuyển nhượng quyền sử dụng đất của L, anh
B lời khai của người làm chứng ông Nguyễn Văn N cho thấy ranh giới giữa 02
thửa đất số 109 của bà L và đất thửa số 47
của anh B là 01 đường thẳng, phía anh
B cho rằng phần tranh chấp thuộc quyền sử dụng đất của anh nhưng không có căn
cứ chứng minh, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật
Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của anh B, giữ nguyên bản án dân sự
thẩm số 54/2026/DS-ST ngày 15 tháng 4 năm 2026 của Toà án nhân dân khu
vực 10 – Đồng Tháp.
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ trong hvụ án, nội
dung yêu cầu kháng cáo của bị đơn, lời trình bày của các đương sự kết quả
5
tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nguyên đơn bà L khởi kiện yêu cầu anh B di dời hàng rào lưới B40, trả
lại phần đất lấn chiếm diện tích khoảng 12m
2
, thuộc một phần thửa 109, tờ bản đồ
số 17, đất tọa lạc Đ, tỉnh Đồng Tháp, căn cứ theo đơn khởi kiện, cấp thẩm
xác định quan hệ pháp luật tranh chấp “Ranh giới quyền sử dụng đất” thụ
giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản
1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ngày 15/4/2026 Tòa án nhân dân khu vực 10- tỉnh Đồng Tháp xét xử vụ án,
không đồng ý với bản án sơ thẩm, ngày 28/4/2026, bị đơn kháng cáo bản án sơ
thẩm là còn trong thời hạn theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Các bên đương sự tranh chấp trong vụ án là phần đất theo
đo đạc thực tế diện tích 8,0m
2
, thuộc một phần thửa 109, tbản đồ số 17, tổng
diện tích 746,4m
2
loại đất chuyên trồng lúa nước, địa chỉ thửa đất tại ấp T, xã Đ,
tỉnh Đồng Tháp do Thiều Thị L đứng tên quyền sử dụng đất. Phía L xác định
ranh chung giữa thửa đất số 109 của bà và đất thửa 47, tờ bản đồ số 17, diện tích
1.931,6m
2
của anh Nguyễn Việt B 01 đường thẳng, năm 2025 anh B làm hàng
rào đã lấn chiếm qua đất của 8,0m
2
. Bị đơn anh B thì cho rằng không lấn chiếm
đất của bà L, phần đất diện tích 8,0m
2
là phần đường cộ lúa của anh B nên không
đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà L.
Xét yêu cu khi kin của nguyên đơn thì thấy rng, phía bà L nhn chuyn
nhưng và canh tác thửa đất số 109, tờ bản đồ số 17, tổng diện tích 746,4m
2
t
năm 2012, còn phía anh B nhận chuyển nhượng thửa đất thửa 47, tờ bản đồ số 17,
diện tích 1.931,6m
2
từ năm 2015. Theo hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của anh
B, bà Lý do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực XII cung cấp thì trích
lục đồ địa chính của cả L, anh B thể hiện ranh chung là đường thẳng kéo i
từ bờ đông kênh giữa đến kênh 60. Tuy nhiên đồ đo đạc ngày 23/12/2025 của
Công ty TNHH D1 thực hiện thì phần tranh chấp 8,0m
2
hoàn toàn thửa đất số
109, tờ bản đồ số 17 của bà L, chứng tỏ việc bà L cho rằng anh B lấn chiếm là có
căn cứ, cấp sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L; Buộc anh B di dời
hàng rào lưới B40 trả lại 8,0m
2
đất lấn chiếm là có cơ sở.
Anh B cho rằng đây đường c lúa thuc quyn s dng của anh nhưng
không có tài liu, chng c chng minh, ông Nguyễn Văn N là người chng kiến
vic anh B nhn chuyển nhượng quyn s dụng đất t ông Thế C cũng xác định
ranh gii gia thửa đất số 109 của L thửa đất thửa 47 của anh B đường
thẳng kéo dài từ bờ đông kênh giữa đến kênh F, cho nên lời khai nại của anh B là
không sở xem xét. Tòa án cấp thẩm gii quyết v án căn cứ, đúng
pháp lut nên yêu cu kháng cáo ca anh B không được chp nhn.
6
[3] Ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Đồng Tháp
là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của anh B không được chấp nhận
nên anh phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 ca B lut T tng dân s;
Không chp nhn yêu cu kháng cáo ca anh Nguyn Vit B.
Gi nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 54/2026/DS-ST ngày 15 tháng 4 năm
2026 của Toà án nhân dân khu vực 10 – Đồng Tháp.
Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng
dân sự; Điều 26 của Luật Đất đai; Điều 175, Điều 176 của Bộ luật Dân sự; Điều
26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án,
X:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thiều Thị L.
Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa 109 của bà Thiều ThL với
thửa 47 của anh Nguyễn Việt B đoạn thẳng nối từ mốc M22-M23-M24 đến mốc
M7.
Buộc anh Nguyễn Việt B trách nhiệm di dời hàng rào lưới B40 từ mốc
M28-M27-M26-M25-M24 các trụ đá tại mốc M28, M27, M26, M25 ra khỏi
đất tranh chấp trả lại cho Thiều Thị L phần đất theo đo đạc thực tế diện tích
8,0m
2
(trong phạm vi các mốc M5-M6-M7-M24-M25-M26-M27-M28 về mốc
M5), thuộc một phần thửa 109, tờ bản đồ số 17, loại đất chuyên trồng lúa nước,
địa chỉ thửa đất tại ấp T, xã Đ, tỉnh Đồng Tháp do bà Thiều Thị L đứng tên.
Ranh đất được sử dụng theo chiều thẳng đứng tính từ lòng đất đến không
gian. Tài sản của hai bên lấn chiếm ranh đất phải di dời theo quy định của pháp
luật. Các đương sự được quyền đến quan Nhà nước thẩm quyền để điều
chỉnh, khai, đăng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và chịu chi
phí (nếu có).
(Kèm theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 25/11/2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 10; Sơ đđo đạc đo vẽ ngày 23/12/2025 của Công ty TNHH
D1).
2. Về chi phí tố tụng:
Anh Nguyễn Việt B phải chịu chi phí tố tụng tổng cộng là 6.437.000 đồng
(Sáu triệu bốn trăm ba mươi bảy nghìn đồng). Do Thiều Thị L đã tạm ứng
7
chi xong nên anh Nguyễn Việt B trách nhiệm hoàn trả lại cho Thiều Thị L
chi phí tố tụng tổng cộng 6.437.000 đồng (Sáu triệu bốn trăm ba mươi bảy nghìn
đồng).
3. Về án phí:
Anh Nguyễn Việt B phải chịu 300.000 đồng án phí dân s phúc thẩm và
300.000 đồng án phí thẩm. Anh B đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo
biên lai thu số 0006275 ngày 28/4/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp
nên xem như anh B đã nộp xong án phí phúc thẩm.
Thiều Thị L không phải chịu án phí dân sự thẩm được nhận lại tiền
tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu
tạm ứng án phí số 0005602 ngày 22/10/2025 số tiền 300.000 đồng (Ba trăm
nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0001991 ngày 02/02/2026 của
Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi nh án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành
án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- TAND khu vực 10- Đồng Tháp;
- Thi hành án dấn sự tỉnh Đồng Tháp;
- Đăng cổng thông tin điện tử;
- Các đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Ngọc Thái Dũng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 651/2026/DS-PT Bản án số 651/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 651/2026/DS-PT Bản án số 651/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất