Bản án số 250/2025/DS-PT ngày 22/09/2025 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 250/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 250/2025/DS-PT ngày 22/09/2025 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 250/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Hủy toàn bộ Bản án Dân sự sơ thẩm số 07/2023/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 – Lâm Đồng) về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa ông Nguyễn Sinh K và bà Nguyễn Thị D cùng một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 250/2025/DS-PT Bản án số 250/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 250/2025/DS-PT Bản án số 250/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 250/2025/DS-PT
Ngày: 22-9-2025
V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng
đất”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phn Hội đng xét x phúc thm gm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Huỳnh Châu Thạch
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Rung K’Nhơn
Ông Nguyễn Thành Tâm
- Thư ký phiên toà: Trần Thị Tâm – Thư Tòa án, Toà án nhân dân tỉnh
Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Nguyễn Thị Thu
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 22 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 54/2024/TLPT-DS ngày 11 tháng 4 năm 2024
về tranh chấp: “Quyền sử dụng đất”.
Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 07/2023/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2023 của
Toà án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng (nay là Tòa án nhân dân khu
vực 5 – Lâm Đồng) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 164/2024/QĐ-PT ngày 07
tháng 5 năm 2024, Thông báo về việc mphiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án dân sự
số 718/TB-TA ngày 05 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Sinh K, sinh năm: 1958; trú tại số B, tổ C, ấp
P, P, tỉnh Đồng Nai; địa chỉ liên hệ: số C, tổ dân phố L, G, tỉnh Ninh Bình;
có mặt.
- Bị đơn:Nguyễn Thị D, sinh năm: 1966; cư trú tại thôn A, xã Đ, tỉnh Lâm
Đồng; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật Phạm Quang T, sinh năm:
1973; địa chỉ liên hệ: số B, đường H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh Luật sư
của ng ty L1 - Đoàn Luật sư Thành phố H; có mặt.
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Phạm Nguyễn Lan T1, sinh năm: 1993; trú tại thôn A, xã Đ, tỉnh
Lâm Đồng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh
Lâm Đồng; vắng mặt.
- Người kháng o:Nguyễn Thị D Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo nội dung đơn khởi kiện ghi ngày 07/6/2021, lời trình bày tại các bản tự
khai trong quá trình tham gia tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm của của ông Nguyễn
Sinh K thì: Ông Nguyễn Thị D những người sdụng đất liền kề. Cụ thể,
ông sử dụng thửa 288, tờ bản đồ 268c, tọa lạc tại thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm
Đồng được Sở Tài nguyên môi trường tỉnh L cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số CO 950339 ngày 16/10/2018 cho Thị Ngọc L (nguồn gốc đất
được cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 499713 do Ủy ban nhân
dân huyện Đ cấp ngày 27/6/2008 cho ông Đinh Văn K1), đã đăng ký biến động tại
trang 4 sang tên ông ngày 19/12/2018 thông qua hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất giữa ông L ngày 29/11/2018 còn D thì sử dụng thửa 66, tờ
bản đồ 268c, tọa lạc tại thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng được Ủy ban nhân dân
huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P767633
ngày 08/11/2000 cho hộ bà Nguyễn Thị D.
Ông cho rằng ranh giới giữa các thửa đất con suối. Tuy nhiên, khi thi công
nâng cấp, mở rộng Quốc lộ B do tác động từ con người đã làm thay đổi dòng chảy
của con suối là ranh giới giữa các thửa đất 288 và thửa đất 66. Hiện nay, dòng chảy
không còn đúng như hiện trạng ban đầu ngược lại dòng chảy con suối lại chảy
vào đất của ông. Đối với một phần đất nằm bên kia dòng chảy con suối thì hiện tại
D lấn chiếm chiều ngang mặt đường Quốc lộ 20 là khoảng 25m, còn chiều
dài kéo dài hết thửa đất.
Do đó, nay ông đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc D trả lại
phần đất đã lấn chiếm theo kết quả đo vẽ hiện trạng đất vào ngày 06/7/2022
505m². Đối với con suối tự nhiên diện tích khoảng 370m² hiện nằm trong thửa
288 ông xác định đây con suối tự nhiên, không thuộc quyền sử dụng của ông
nên không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án xác định là của riêng ông. Đối với
một phần diện tích đất D lấn chiếm hiện tại D đang quản lý, sử dụng,
đã trồng một số cây ăn trái như: cây sầu riêng, bơ, mít, ổi, dừa một số cây trồng
khác thì ông đồng ý thanh toán lại giá trị cây trồng trên đất theo quy định của pháp
luật.
3
- Theo lời trình bày của Nguyễn Thị D thì: Nguồn gốc thửa đất 66 của
ông Đỗ Xuân P tự khai ptrước năm 1975, sau đó ông P chia cho các con để làm
nhà canh tác, trong đó cho con gái ruột Đỗ Thị Ngọc N (bà N) một
phần diện tích đất. Đến năm 1990 bà N đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn H.
Tiếp đến năm 1991 ông H chuyển nhượng lại cho Phạm Thị M. Quá trình sử
dụng đất thì đến ngày 22/8/1994 M được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số B 527179 với diện tích 2.255m² tại thửa đất
66, tờ bản đồ 2682, tọa lạc tại thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Đến năm 1995
thì bà M chuyển nhượng cho bà.
Sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà M, đến năm 2000 bà có
"Đơn xin đăng quyền sử dụng đất”; xuất nhà nghèo snộp lệ phí đất
cao nên chỉ đề nghị Ủy ban nhân dân huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đối với 01 phần của thửa đất 66 với diện tích là 1.611m², phần diện tích đất còn lại
744m² thì chưa đề nghị cấp nhưng thực tế bà vẫn sử dụng ổn định từ năm 1995
đến nay. Đến năm 2018 thì ông K một số người lmặt đến đất của tý rào
và cầm mốc giới nhưng bà không đồng ý nên phát sinh tranh chấp.
Nay ông K khởi kiện yêu cầu trả lại phần đất mà cho rằng đã lấn chiếm
theo kết quả đo về hiện trạng đất vào ngày 06/7/2022 505m² thì không đồng
ý. Đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K.
- Theo lời trình bày của chị Phạm Nguyễn Lan T1 thì: Thửa đất 66 được mẹ
của chị là D nhận chuyển nhượng lại của M từ năm 1995, lúc đó chị mới
được 02 tuổi nên xác định đây là tài sản riêng hợp pháp của D. Hiện nay, sự
tranh chấp giữa m của chị ông K thì chị xác định việc ông K khởi kiện
không đúng, điều kiện đi làm xa nhà nên nhường lại toàn quyền cho D quyết
định và xin vắng mặt tại Tòa án. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo luật định.
- Theo lời trình bày của người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân huyện
Đ thì: Về trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P767633 của
Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho hộ Nguyễn Thị D ngày 08/11/2000; trình tự,
thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 950339 của Sở tài nguyên
môi trường tỉnh L cấp cho Thị Ngọc L ngày 16/10/2018 tỦy ban nhân
dân huyện Đ xác định là đúng quy định.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại Bản án số 07/2023/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2023; Toà án nhân dân
huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 Lâm Đồng)
đã xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Sinh K đối với bị
đơn bà Nguyễn Thị D về việc “Tranh chấp về quyền sử dụng đất”.
+ Buộc bị đơn Nguyễn Thị D nghĩa vụ trả cho nguyên đơn ông Nguyễn
4
Sinh K diện tích đất 505m² đất CLN thuộc một phần thửa 288, tờ bản đồ 268c, tại
thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho ông Nguyễn Sinh K. Vị trí thửa đất tứ cận theo họa đồ đo đạc theo ông
Nguyễn Sinh K và bà Nguyễn Thị D chỉ ranh giới ngày 06/7/2022 và ngày
08/6/2023 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ lập (đính kèm 02 họa
đồ).
Xác định con suối nằm trong phần diện tích đất được cấp cho ông Nguyễn
Sinh K diện tích 370 (diện tích thực tế theo kết quả đo vẽ hiện trạng ngày
06/7/2022 và ngày 08/6/2023 chưa tính bao gồm hành lang bảo vệ suối) là con suối
tự nhiên thuộc quyền quản của Nhà nước, không thuộc quyền sở hữu, sử dụng
của ông Nguyễn Sinh K. Do vậy, sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật ông Nguyễn
Sinh K được quyền liên hệ với quan Nhà nước thẩm quyền để điều chỉnh lại
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo hiện trạng thực tế của thửa đất.
+ Kiến nghị quan Nhà nước thẩm quyền thu hồi một phần diện tích đất
370m² đất (phần diện tích đất con suối) đã cấp cho ông Nguyễn Sinh K theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 950339 ngày 16/10/2018 cho bà Lý Thị
Ngọc L, đã đăng biến động tại trang 4 sang tên ông Nguyễn Sinh K ngày
19/12/2018 và điều chỉnh, cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của
ông Nguyễn Sinh K theo đúng diện tích thực tế, đúng vtrí của thửa đất theo quy
định của pháp luật.
+ Buộc ông Nguyễn Sinh K nghĩa vụ thanh toán cho Nguyễn Thị D giá
trị cây trồng trên diện tích đất 505 m² đất CLN thuộc một phần thửa 288, tờ bản đồ
268c tại thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng là 21.244.4750đ.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo
trách nhiệm thi hành án của các bên đương sự.
Ngày 12/9/2023 bà Nguyễn Thị D kháng cáo đề nghị sửa Bản án sơ thẩm theo
hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; hủy một phần
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 950339 ngày 16/10/2018 đối với thửa
288, tờ bản đồ 268c đứng tên ông Nguyễn Sinh K; công nhận diện tích 1.061m
2
thuộc một phần thửa 66, tờ bản đồ số 268c là của bà.
Tại phiên tòa,
Nguyễn Thị D vẫn giữ nguyên kháng cáo.
Ông Nguyễn Sinh K không đồng ý với kháng cáo của bị đơn, đnghị giải
quyết như Bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo
pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các
đương sự tại giai đoạn phúc thẩm cũng như phiên tòa hôm nay: đã chấp hành đúng
quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Về nội dung: Chấp nhận kháng
5
cáo của Nguyễn Thị D, căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân snăm
2015 hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Quan hệ tranh chấp giữa các bên đã được Tòa án cấp thẩm xác định
theo đúng quy định của pháp luật; đơn kháng cáo của Nguyễn Thị D; thủ tục
kháng cáo được thực hiện theo đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273 Bộ luật
Tố tụng Dân sự năm 2015 nên đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết
theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị D thì thấy rằng:
[2.1] Theo hồ sơ vụ án thể hiện: Diện tích đất thuộc thửa 231, tờ bản đồ 268c,
tọa lạc tại thị trấn M, huyện Đ (nay là Đ), tỉnh Lâm Đồng được Ủy ban nhân
dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM
499713 ngày 27/6/2008 cho ông Đinh Văn K1. Năm 2009 ông K1 chuyển nhượng
phần diện tích đất này cho Thị Ngọc L; L được điều chỉnh sang tên tại
trang 4 trong Giấy chứng nhận này vào ngày 22/8/2009.
Đến ngày 03/10/2018 L chuyển nhượng một phần thửa số 231, tờ bản đồ
số 286c cho Nguyễn Thị V được Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai
huyện Đ tách thành thửa 287, diện tích 8.908m
2
; thửa đất còn lại thửa 288, diện
tích 4.616m
2
. Trên sở đó, L được Sở Tài nguyên môi trường tỉnh L cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 950339 ngày 16/10/2018; đến ngày
19/12/2018 ông K được đăng biến động tại trang 4 trong Giấy chứng nhận nói
trên thông qua hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông K L
ngày 29/11/2018.
Còn Nguyễn Thị D chủ sử dụng của đất liền kề thuộc thửa số 66, tờ
bản đồ số 268c, tọa lạc tại thị trấn M, huyện Đ (nay Đ), tỉnh Lâm Đồng.
Nguồn gốc của thửa đất này của ông Đỗ Xuân P tự khai phá trước năm 1975,
sau đó ông P chia cho con Phạm Thị M canh tác, làm nhà để được Ủy
ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 527719 ngày
22/8/1994 với diện tích 2.555m
2
. m 2000 bà M chuyển nhượng phần đất này
cho D; sau khi lập thủ tục thì diện tích thực tế chuyển nhượng cho D
1.811m
2
(bút lục số 229, 230, 231) sau đó, D đã được Ủy ban nhân dân
huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 767633 ngày 08/11/2000 và
canh tác cho đến nay.
[2.2] Xét thấy: Đây là vụ án liên quan đến tranh chấp quyền sử dụng đất
đương s cũng yêu cầu liên quan đến việc hủy một phần Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất nhưng cấp thẩm không tiến hành thu thập tất cả các tài liệu
liên quan đến nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất của các đương sự.
6
Trên thực tế, việc các đương sự sdụng đất liên quan đến một phần con
suối thiên nhiên chảy qua đất nhưng cấp sơ thẩm cũng không xem xét đánh giá các
chứng cứ, cũng không làm tại sao lại việc con suối trên Giấy chứng nhận
quyền sdụng đất không giữa thửa đất số 288 của nguyên đơn nhưng khi đo vẽ
để giải quyết tranh chấp thì con suối đã bị thay đổi hình thể. Mặc dù, tại hồ vụ
án Tòa án cấp thẩm khi giải quyết đã văn bản hỏi Phòng quản đường bộ
IV về nội dung có làm thay đổi dòng chảy trong quá trình thi công nâng cấp cải tạo
Quốc lộ B đoạn từ km 0+00-km 123+105 được trả lời tại văn bản số
142/VPQLĐBIV.1-VP ngày 09/5/2023 với nội dung: “Quá trình thi công thì không
thay đổi dòng chảy của suối”; tuy nhiên đối với nội dung này thì Tòa án cấp
thẩm cần làm rõ tại cơ quan có thẩm quyền về quản lý đất đai mới có căn cứ để xác
định tính pháp lý của các Giấy chứng nhận đã cấp cho các đương sự.
[2.3] Bên cạnh đó, quá trình giải quyết vụ án, D yêu cầu đề nghị hủy
một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 288, tờ bản đồ 268c đứng tên ông
Nguyễn Sinh K. Yêu cầu này của bị đơn được Tòa án cấp thẩm ra thông báo số
07/2023/TB-TA ngày 18/8/2023 không thụ giải quyết, tuy nhiên yêu cầu hủy
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải yêu cầu phản tố nên trong quá
trình giải quyết vụ án Tòa án cấp thẩm cần phải xem xét đến tính pháp của
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho nguyên đơn. Đồng thời, như đã
phân tích mục [2.1] thì nguồn gốc của diện tích nguyên đơn tranh chấp
của ông Đinh Văn K1, sau đó ông K1 chuyển nhượng cho Thị Ngọc L, L
chuyển nhượng thực hiện việc tách thửa đất 231 ra thành 02 thửa 287, 288
thông qua các hợp đồng chuyển nhượng. Do đó, khi xem xét đến yêu cầu của bị
đơn thì Tòa án cấp thẩm cũng phải xem xét đến tính pháp của các hợp đồng
chuyển nhượng này cũng như xem xét việc tách thửa đúng với hiện trạng sử
dụng hay không đồng thời cần đưa ông K1 L vào tham gia tố tụng với
cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mới giải quyết triệt để vụ án.
[2.4] Hơn nữa, qua xem xét thẩm định tại chỗ ngày 15/8/2024 của a án
nhân dân tỉnh Lâm Đồng thì phần diện ch đang có tranh chấp hiện do D đang
trực tiếp quản lý, sử dụng. Trong đó, D canh tác trồng 11 cây sầu riêng
vào năm 2008; 05 cây điều trồng năm 2014; 04 cây gió trồng m trên phần hàng
rào lưới B40 năm 2008; như vậy D quá trình canh tác, sử dụng đất từ trước
tới nay nên Tòa án cấp thẩm cần phải xác minh các hộ lân cận về quá trình sử
dụng đất của bà D, cũng như hồ sơ địa chính liên quan đến phần diện tích đất tranh
chấp từ đó mới giải quyết triệt để nội dung vụ án.
[3] Từ những phân tích trên, Tòa án cấp thẩm đã vi phạm thủ tục tố tụng,
chưa làm rõ những vấn đề vừa nêu; mà lại chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn là chưa đủ căn cứ vững chắc; cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên
cần hủy toàn bộ Bản án thẩm, giao hồ cho Tòa án cấp thẩm giải quyết lại
theo thủ tục chung.
7
[4] Về chi phí tố tụng: Sẽ được Tòa án cấp thẩm xem xét khi giải quyết lại
vụ án theo thủ tục chung.
[5] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bà D không phải chịu án phí
Dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 3 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị D.
Tuyên xử:
1. Hủy toàn bộ Bản án Dân sự thẩm số 07/2023/DS-ST ngày 30 tháng 8
năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng (nay Tòa án
nhân dân khu vực 5 Lâm Đồng) về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa
ông Nguyễn Sinh K và bà Nguyễn Thị D cùng một số người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan.
Giao hồ cho Tòa án nhân dân khu vực 5 Lâm Đồng giải quyết lại theo
thủ tục chung.
2. Về chi phí tố tụng: sẽ được Tòa án cấp thẩm xem xét khi giải quyết lại
vụ án.
3. Về án phí:
- Án phí thẩm: sẽ được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét khi giải quyết lại vụ
án.
- Án phí phúc thẩm: Nguyễn Thị D không phải chịu án phí Dân sphúc
thẩm; D được nhận lại số tiền 300.000đ tạm ứng án phí Dân sphúc thẩm đã
nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0011212 ngày 18/9/2023 của
Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng (nay Phòng Thi
hành án Dân sự khu vực 5 - Lâm Đồng).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
8
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
- Phòng Gđ, Ktr, Ttr & THA (01);
- TAND khu vực 5 – Lâm Đồng (01);
- Phòng THADS KV 5 - Lâm Đồng (01);
- Các đương sự (04);
- Lưu: bộ phận lưu trữ, hồ sơ vụ án (02).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Châu Thạch
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 250/2025/DS-PT Bản án số 250/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 250/2025/DS-PT Bản án số 250/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất