Bản án số 201/2026/DS-PT ngày 31/07/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 201/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 201/2026/DS-PT ngày 31/07/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 201/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 31/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh L - Nguyễn Thị Đ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 201/2026/DS-PT Bản án số 201/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 201/2026/DS-PT Bản án số 201/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 201/2026/DS-PT
Ngày 31/7/2026
“V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất
và yêu cầu hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập -Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Tuấn Anh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Khắc Chiên; Bà Điêu Thị Bích Lượt
- Thư ký phiên toà: Bà Trn Thu Hin - Thư ký Toà án nhân dân tnh Phú
Th.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ: Ông Hoàng Xuân Tân -
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 31 tháng 7 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét x
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 256/2025/TLPT-DS, ngày 25 tháng 11
năm 2025, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất yêu cầu hủy giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự thẩm số: 17/2025/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 4 - Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 50a/2026/-PT ngày 23
tháng 01 năm 2026, các Quyết định hoãn phiên tòa Thông báo mở lại phiên tòa
số 06/2026/TB-DS ngày 15/7/2026. Giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1950 (Có mặt)
Địa chỉ: Tổ G, ấp T, phường A, tỉnh Đồng Nai
Bị đơn:Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1943 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Khu A, xã T, tỉnh Phú Thọ
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1973 (Vắng mặt)
2. Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1979 (Có mặt)
3. Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1984 (Có mặt)
Đều có địa chỉ: Khu A, xã T, tỉnh Phú Thọ.
4. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1952 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu A, xã T, tỉnh Phú Thọ.
2
5. Ngân hàng TMCP C3 (V1).
Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Minh B - Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Đức T3 - Giám đốc V1 - Chi nhánh P2
(Văn bản ủy quyền số 652/UQ-HĐQT-NHCT-PCTT3 ngày 25/6/2024).
Đại diện theo ủy quyền lại: Ông Tạ Minh T4 - Trưởng phòng G (Văn bản ủy
quyền số 335/UQ-CNPT ngày 19/5/2026, ông T4 có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Khu phố, xã T, tỉnh Phú Thọ.
Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1955 (Có mặt)
Địa chỉ: Khu C, xã T, tỉnh Phú Thọ.
2. Anh Nguyễn Hoài Đ2, sinh năm 1980 (Có mặt)
Địa chỉ: Số G, đường số H, KDC P, tA, KP I, phường P, thành phố Hồ Chí
Minh.
(Những người tham gia tố tụng khác trong vụ án
theo Bản án sơ thẩm Tòa án đã triệu tập nhiều lần đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Quá trình giải quyết vụ án nhiều lần tại Tòa án cấp thẩm nhiều lần
tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn là ông Nguyễn Thanh L trình bày:
Bố, mẹ ông Nguyễn Văn H (chết năm 1987) Nguyễn Thị Đ3 (chết năm
1977) 09 người con, chết 01 người còn lại 08 người con là: Nguyễn Thị Đ,
Nguyễn Thị Đ4, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị T5, Nguyễn Thị T2, ông
Nguyễn Thanh L, ông Nguyễn Chí T6 ông Nguyễn Văn C1. Bố mẹ ông 01
thửa đất khu 13 H, huyện T, tỉnh Phú Thọ diện tích cụ thể ông không nhớ,
diện tích đất này chưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ). Năm
1981 cụ H chia đất cho các con ông Nguyễn Thanh L, ông Nguyễn Chí T6, ông
Nguyễn Văn C1, và ông Nguyễn Văn T7 (chồng bà Đ), ông Nguyễn Văn D (chồng
Nguyễn Th T2). Cụ H để lại khu đất diện tích 408m² sau đó cho ông
Nguyễn Văn C1 (Chín) quản lý vì lúc đó cụ H ốm nặng, ông L đi công tác xa nhà,
phần đất cho ông C1 quản đặt ngôi mộ cụ H1 ông nội của ông. Do điều
kiện kinh tế khó khăn, năm 1985 - 1987 ông C1 đi làm kinh tế tỉnh Bình Phước,
nên đã tặng cho ông khu đất này. Nguyễn Thị Đ cùng chồng ông Nguyễn Văn
T7 có thửa đất liền kề đã lấn chiếm toàn bộ diện tích 408m² mà do cụ H để sau này
anh em ông xây nhà thhọ. Năm 1990 Đ, ông T7 đã khai cả phần đất
ngôi mộ do cụ H1 để lại đã được cấp GCNQSDĐ đứng tên ông T7 thửa đất số
231, tờ bản đồ (TBĐ) số 3, diện tích 2.217m².
Năm 1992 ông xây nền mộ lập bia mộ dòng họ, ng không biết ông
Nguyễn Văn T7 Đ đã lấn chiếm. Năm 2013 Đ xây nhà cho con gái trên
một phần đất đó xây tường rào, đã ngăn cản ông mọi người trong gia đình
vào chăm sóc phần mộ cụ H1; ông đã làm đơn đến UBND H yêu cầu trả lời
nhưng không được giải quyết. Sau khi đến Văn phòng đăng quyền sử dụng đất
huyện T ông mới biết Đ đã tách thửa đất trên thành 4 thửa để cho các con là
3
chị Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Văn Q, anh Nguyễn Văn T1 01 thửa đất đứng
tên Đ (phần đất này bà đã bán cho vợ chồng em gái và em rể Nguyễn Thị T2
Nguyễn Văn D). Nay ông đề nghị Tòa án giải quyết buộc Đ trả lại phần đất
diện tích 408m² đã lấn chiếm mộ cụ H1 để ông xây nhà thờ họ cúng giỗ tổ
tiên.
Ngày 26/6/2021 ngày 22/10/2022 ông Nguyễn Thanh L đơn sửa đổi
sung yêu cầu khởi kiện, xác định phần thửa đất trên và ngôi mộ của cụ Nguyễn
Văn H1 tài sản của nhánh họ “Nguyễn” tại xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Đã
từ lâu đời trước những năm 1960 để lại cho ông H quản bố ông giao lại cho
ông C1 quản lý, ông C1 giao lại cho ông quản lý. Khi ông vthăm nom mộ phần
của cụ H1 thì bị bà Đ, anh Q và anh T1 đuổi không cho vào thăm nom.
vậy ông đnghị Tòa án: Buộc bà Đ, chT, anh Q anh T1 phải trả lại
cho nhánh họ Nguyễn ngôi mộ của cụ H1 để dòng họ quản lý, chăm sóc.
Hủy GCNQSDĐ số A 485669, TBĐ số 3, thửa số 231, diện tích 2.217m² cấp
ngày 15/12/1990 do UBND huyện T, tỉnh Vĩnh Phú cấp cho ông Nguyễn Văn T7
tại khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ (BL86).
Hủy các GCNQSDĐ thửa đất số 152 của anh T1, GCNQSDĐ thửa đất số 153
của anh Q, GCNQSDĐ thửa đất số 154 của chị T đều do UBND huyện T cấp ngày
06/9/2013 (BL87-91).
Phần đất tranh chấp trong vụ án ông có đơn đề nghị Tòa án thẩm định tại chỗ,
còn giá trị đất ông không đề nghị định giá áp dụng theo giá do Nhà nước quy
định. Các tài sản khác trên đất ông tự ước giá không đề nghị định giá.
Bổ sung đề nghị diện tích bố ông đo lại ngày 24/01/1981 sau khi thẩm định là
358,7m² (ông dẫn đo đạc). Đề nghị tháo dỡ tất cả các công trình trên đất do cấp
chưa đúng để trả lại sớm cho ông để ông tu sửa, mồ mả ông nội ông để ông xây
nhà thờ dòng họ.
2. Bị đơn là bà Nguyễn Thị Đ trình bày: Bố, mẹ bà là cụ Nguyễn Văn H cụ
Nguyễn Thị Đ3 sinh được 09 người con, 01 người chết còn 08 người con, trong đó
03 người con trai và 05 người con gái gồm: Nguyễn Thị Đ, Nguyễn Thị
Đ4, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị T5, Nguyễn Thị T2, ông Nguyễn Thanh
L, ông Nguyễn Chí T6 ông Nguyễn Văn C1. Năm 1959 bà xây dựng gia đình
với ông Nguyễn Văn T7. Năm 1962 cụ H và cụ Đ3 là (Bố mẹ đẻ) đã gọi bà lên cho
đất nhưng mẹ chồng bà không nhất trí, nên bố mẹ đẻ mẹ chồng bà đã đổi đất
cho nhau. Sau đó vợ chồng tại khu đất đó từ năm 1962 đến nay không tranh
chấp với ai, thửa đất sử dụng liền kề với ông T8 (ông T8 đã chết), ông D vợ
T2, cụ H (cụ H bố đẻ bà). Trong khu đất 07 ngôi mộ, 01 ngôi
xây và 06 ngôi mộ đất. Cụ H đã chuyển 06 ngôi mộ đất đến nghĩa trang của xã, còn
lại 01 ngôi mộ do mới xây nên chuyển sau, cụ H bảo khi nào con bà lớn lên thì cụ
chuyển nốt ngôi mộ còn lại. Khi các con bà lớn lên thì ngôi mộ đó chưa kịp chuyển
đến nghĩa trang thì cụ H đã chết nên gia đình vẫn để ngôi mộ ở đó chăm sóc
đến nay, đã nhiều lần đề nghị ông Nguyễn Thanh L chuyển ngôi mộ xây đi,
ông L nói đợi khi nào con xây dựng nhà cửa thì ông L chuyển ngôi mộ đó đi
4
chỗ khác. Nhưng khi con làm nhà ông L không chuyển ngôi mộ đi tranh
chấp với gia đình bà.
Thửa đất của gia đình đã được Nhà nước cấp GCNQSsố A485669,
TBĐ số 3, thửa 231, diện tích 2.217m², cấp ngày 15/12/1990 do UBND huyện T,
tỉnh Vĩnh Phú cấp đứng tên chồng ông Nguyễn Văn T7 tại khu A, H,
huyện T, tỉnh Phú Thọ gia đình ổn định từ đó cho đến nay không tranh chấp
với ai. Năm 2013 đã chia cho các con Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn Q
Nguyễn Văn T1. Phần của chuyển (Bán) cho em rể Nguyễn Văn D vợ
Nguyễn Thị T2. Nay ông L khởi kiện bà lấn chiếm đất và yêu cầu trả lại không
đồng ý. Còn giá trị đất không đề nghị định giá áp dụng theo giá do Nhà
nước quy định, các tài sản khác trên phần của các con không ý kiến. Đối với
ngôi mộ của cụ H1 đề nghị chuyển lên nghĩa trang đã được quy hoạch của
H. Bà Đ đề nghị Toà án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án:
3.1. Chị Nguyễn Thị T trình bày: Bố, mẹ chị ông Nguyễn Văn T7 và
Nguyễn Thị Đ thửa đất số 231, TBĐ s3, diện tích 2.217m² tại đội 13 H,
huyện T, tỉnh Vĩnh Phú đã được cấp GCNQSngày 15/12/1990. Năm 2002 bố
mẹ chị cho chị đất để ở và chị đã làm 01 ngôi nhà lá, đến năm 2011 chị phá bỏ nhà
xây dựng nhà mới. Chị đã được cấp GCNQSDĐ số B 693177, số thửa 154,
TBĐ số 5, diện tích 227m² do UBND huyện T cấp ngày 6/9/2013. Tại khu A
H, huyện T, tỉnh Phú Thọ hiện nay chị đang sử dụng làm nhà ở. Nay ông Nguyễn
Thanh L khởi kiện mẹ ch(bà Đ) lấn chiếm đất không căn cứ, hoàn toàn sai
sự thật, đất đó là của bố mẹ đã cho chị. Đối với ngôi mộ của cụ H1 đề nghị chuyển
lên nghĩa trang đã được quy hoạch của xã H.
Còn giá trị đất chị không đề nghị định giá áp dụng theo giá do Nhà nước
quy định. Đối với công trình xây dựng, các tài sản khác cây cối trên phần đất
chị tự ước giá không yêu cầu định giá.
3.2. Anh Nguyễn Văn Q trình bày: Bố, mẹ anh ông Nguyễn Văn T7
Nguyễn Thị Đ thửa đất số 231, TBĐ s3, diện tích 2.217m² tại đội 13 H,
huyện T, tỉnh Vĩnh Phú đã được cấp GCNQSDĐ ngày 15/12/1990. Năm 2013 mẹ
anh chia đất cho anh đã được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ ngày 06/9/2013,
số bìa BP693175, số thửa 153 TBĐ số 5, diện tích là 980m² tại khu A, xã H, huyện
T, tỉnh Phú Thọ anh sử dụng làm nhà và trồng cây ăn quả. Nay ông Nguyễn Thanh
L khởi kiện mẹ anh lấn chiếm đất không có căn cứ, hoàn toàn sai sự thật, đất đó
của bố mẹ đã cho anh. Đối với ngôi mộ của cụ H1 đề nghị chuyển lên nghĩa
trang đã được quy hoạch của H. Còn giá trị đất anh không đề nghị định giá
áp dụng theo giá do Nhà nước quy định, những cây cối, tài sản khác do tự ước giá
anh không yêu cầu định giá.
Tại bản tự khai ngày 15/8/2025 anh Q khai anh chỉ nộp bản phô
GCNQSDĐ còn bản chính hiện nay anh đang thế chấp tại Ngân hàng V2 - chi
nhánh tỉnh P2 để đảm bảo khoản vay 2.600.000.000đ (Hai tỷ sáu trăm triệu đồng)
để anh làm ăn kinh doanh.
5
3.3. Anh Nguyễn Văn T1 trình bày: Bố, mẹ anh ông Nguyễn Văn T7
Nguyễn Thị Đ thửa đất số 231, TBĐ s3, diện tích 2.217m² tại đội 13 H,
huyện T, tỉnh Vĩnh Phú đã được cấp GCNQSDĐ ngày 15/12/1990. Năm 2013 mẹ
anh chia đất cho anh được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ ngày 6/9/2013 số
BP 693176, số thửa 152 TBĐ số 5, số diện tích là 438m² tại khu A, xã H, huyện T,
tỉnh Phú Thọ, hiện nay anh sử dụng trồng cây, hoa màu. Nay ông Nguyễn Thanh L
khởi kiện mẹ anh lấn chiếm đất là không có căn cứ, hoàn toàn sai sự thật, đất đó là
của bố mẹ đã cho anh. Đối với ngôi mộ của cụ H1 đề nghị chuyển lên nghĩa trang
đã được quy hoạch của xã H.
Còn giá trị đất anh không đề nghị định giá áp dụng theo giá do Nnước
quy định, những cây cối, tài sản khác do tự ước giá anh không yêu cầu định giá.
3.4. Đặng Thị L1 trình bày: vợ ông Nguyễn Thanh L, năm 1972
về làm dâu gia đình cụ Nguyễn Văn H và cụ Nguyễn Thị Đ3. Trước khi chết 02 cụ
giao cho hai vợ chồng bà thửa đất trong đó một ngôi mộ ông nội chồng bà là cụ
Nguyễn Văn H1, thửa đất trên để mồ mả của dòng họ như trong đơn khởi kiện của
chồng bà. Ngôi mộ cụ nội chồng xây năm 1960 và mảnh đất đó không bao giờ
bố mẹ chồng cho ông Nguyễn Văn T7 Nguyễn Thị Đầm . Trách nhiệm
trông coi mồ mả thờ cúng vẫn chồng xây đắp txưa. đề nghị Tòa án
xem xét giải quyết theo yêu cầu khởi kiện của ông L chồng bà.
3.5. Nguyễn Thị Đ4 trình bày: Bố, mẹ cụ Nguyễn Văn H cụ
Nguyễn Thị Đ3 01 thửa đất do ông cha để lại chưa bìa đỏ, địa chỉ khu A
H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Bố mẹ sinh được 9 người con, 01 người chết còn lại
8 người, trong đó 3 người con trai 05 người con gái. Trước chết khi chết bố
mẹ đã cho Đ, ông L, ông T6 ông C1 mỗi người 01 thửa đất, đất cho Đ
diện tích bao nhiêu bà không biết. Hiện nay Đ đã làm nhà ở trên đất đó, việc
tranh chấp giữa ông L Đ bà không có quan điểm gì. Việc ông L khởi kiện
Đ không đúng. Đối với đồ ông Long cung C2 cho Tòa án được vẽ ngày
24/01/1981 không phải của bố bà vẽ.
3.6. Nguyễn Thị T5 trình bày: Bố, mẹ cụ Nguyễn Văn H cụ Nguyễn
Thị Đ3 01 thửa đất do ông cha để lại chưa có bìa đỏ, địa chỉ khu A xã H, huyện
T, tỉnh Phú Thọ. Bố mẹ bà sinh được 9 người con, chết 01 người còn lại 8 người,
trong đó 3 người con trai và 05 người con gái. Bà được biết bố mẹ bà đã cho
Đ, ông L, ông T6 ông C1 mỗi người 01 thửa, diện tích đất còn lại bao nhiêu
không biết, trên thửa đất 07 ngôi mộ, sau đó bố đã di chuyển 06 ngôi mộ đi
chỗ khác, còn lại 01 ngôi mộ xây bố không giao cho ai quản lý. Sau khi bố mẹ
bà chết thì bà Đ trực tiếp ở trên thửa đất đó trông coi ngôi mộ. Đối với sơ đồ v
ngày 24/01/1981 ông Long cung C2 cho Tòa án là do ai vẽ bà không biết.
Ngày 07/7/2023 trong biên bản ghi lời khai T5 xác định và đề nghị gia
đình Đ các con chị T, anh Q anh T1 phải trả lại cho dòng họ Nguyễn
diện tích đất và ngôi mộ của cụ Nguyễn Văn H1 để dòng họ quản lý chăm sóc.
3.7. Nguyễn Thị T2 trình bày: Bố mẹ cụ Nguyễn Văn H cụ
Nguyễn Thị Đ3 01 thửa đất do ông cha để lại chưa bìa đỏ, địa chỉ khu A
H, huyện T, tỉnh Phú Thọ, bố mẹ sinh được 9 người con, chết 01 người còn lại
6
08 người, trong đó có 03 người con trai và 05 người con gái. Trước khi chết bố mẹ
bà đã cho bà Đ, ông L, ông T6 và ông C1 mỗi người 01 thửa đất, bà được biết diện
tích 01 ngôi mộ bố mẹ bà đã cho Đ. Việc ông L khởi kiện Đ không
đúng. Đối với sơ đồ về ngày 24/01/1981 ông Long cung C2 cho Tòa án không phải
của bố bà vẽ.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 18/8/2025 Nguyễn Thị T2 ông Nguyễn
Văn D (ông D là chồng bà T2) cũng khẳng định ông bà không được cụ H và cụ Đ3
cho đất. Bà Đ làm hợp đồng tặng cho ông bà diện tích 438m².
3.8. Ông Nguyễn Văn H2, ông Nguyễn Văn Đ1 ông Đặng Đình T9 cùng
trình bày: Các ông cháu ngoại cụ H1. Nay ông L khởi kiện Đ về đòi đất đai
dòng họ, đề nghị không chấp nhận yêu cầu của ông L. Đề nghị chuyển ngôi mộ cụ
H1 lên nghĩa trang của UBND xã H.
3.9. Nguyễn Thị Đ5, Nguyễn Thị L2, ông Đặng Văn N, ông Đặng Văn
B1 trình bày: Các ông cháu ngoại cụ H1 đều không ý kiến về nội dung
khởi kiện của ông L.
3.10. Bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Chí T6 và ông Nguyễn Văn C1 là con của
cụ H, cháu nội của cụ H1 không lời khai và đã ủy quyền cho ông L tham gia
tố tụng.
3.11. Anh Nguyễn Thanh V, anh Nguyễn Hoài Đ2, anh Nguyễn Trung K
anh Nguyễn Quang P là chắt của cụ Nguyễn Văn H1 trình bày:
Ông Nguyễn Văn H Nguyễn Thị Đ3 01 thửa đất khu 13 H,
huyện T, tỉnh Phú Thọ, ông 09 người con, chết 01 người còn lại 08 người
con là: Nguyễn Thị Đ, Nguyễn Thị Đ4, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị
T5, Nguyễn Thị T2, ông Nguyễn Thanh L, ông Nguyễn Chí T6, ông Nguyễn
Văn C1. Năm 1981 cụ H chia đất cho các con là ông Nguyễn Thanh L, ông
Nguyễn Chí T6, ông Nguyễn Văn C1 ông Nguyễn Văn T7 (chồng Đ) ông
Nguyễn Văn D. Cụ H để lại khu đất diện tích 408m² sau đó cho ông Nguyễn
Văn C1 (Chín) quản lý vì lúc đó cụ H ốm nặng, ông L đi công tác xa nhà, phần đất
cho ông C1 quản đặt ngôi mộ cụ H1 cụ nội. Bà Nguyễn Thị Đ cùng chồng
ông Nguyễn Văn T7 thửa đất liền kề đã lấn chiếm toàn bộ diện tích 408m²
do cụ H để sau này xây nhà thờ họ. Năm 1990 bà Đ, ông T7 đã kê khai cả phần đất
có ngôi mộ của cụ H để lại và đã được cấp GCNQSDĐ.
Nay các anh đề nghị Tòa án giải quyết chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn là ông L.
3.12. Ngân hàng TMCP N2 - Chi nhánh P2 do ông Nguyễn Ngọc T10 - Phó
giám đốc trình bày:
Ngày 13/6/2024 ông Nguyễn Văn Q và bà Nguyễn Thị M đã ký hợp đồng cho
vay theo hạn mức s24/CN-DB/NHHM293 ngày 13/6/2024 vay vốn tại Ngân
hàng TMCP N2 - Chi nhánh P2: Giá trị được cấp tín dụng 2.600.000.000đ (Hai
tỷ sáu trăm triệu đồng), thời gian vay/khế ước là: Tối đa 06 tháng/lần nhận nợ, mục
đích vay vốn: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh. Toàn bộ
khoản vay được bảo đảm bằng các tài sản như sau: Quyền sử dụng đất tài sản
gắn liền với đất theo GCNQSDĐ quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với
7
đất số BP 693175 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 06/9/2013 cho ông
Nguyễn Văn Q. Chi tiết theo hợp đồng thế chấp quyền sdụng đất nhà số
22/BĐS/446 ngày 27 tháng 06 năm 2022 tất cả hợp đồng sửa đổi, bổ sung
kèm theo (nếu có) giữa Ngân hàng với ông Nguyễn Văn Q. Tài sản trên được thực
hiện công chứng thế chấp đăng giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của
pháp luật. Hiện tài sản trên đang liên quan đến vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất
ngôi mộ của dòng họ giữa nguyên đơn ông Nguyễn Thanh L bị đơn
Nguyễn Thị Đ trong đó ông Nguyễn Văn Q người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan. Đề nghị Toà án căn cứ giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ngày 07/8/2025 Ngân hàng TMCP N2 - Chi nhánh P2 có đơn đề nghị để đảm
bảo quyền lợi cho Ngân hàng TMCP N2 - Chi nhánh P2 đề nghị Toà án đình chỉ,
không giải quyết vụ án này vì không đảm bảo quyền lợi cho Ngân hàng.
3.13. UBND T, tỉnh Phú Thọ do ông Đào Ngọc K1 đại diện theo uỷ
quyền của Ủy ban nhân dân T quan điểm: Vviệc thủ tục cấp GCNQSDĐ
của ông T7, chị T, anh Q và anh T1 được thực hiện đúng các quy định của pháp
luật. Từ khi được chia tách đất các anh chị Thà, anh Q anh T1 sử dụng đất ổn
định, đã xây dựng nhà ở trên đất. Đề nghị Toà án xem xét, giải quyết theo quy định
của pháp luật.
4. Người làm chứng:
4.1. Cụ Nguyễn Thị T11 trình bày: Cụ là con cụ H1 cụ Đ6, thửa đất này do
cụ H1 cụ Đ6 (Bố mẹ cụ H) để lại chưa bìa đỏ, địa chỉ khu A H,
huyện T, tỉnh Phú Thọ. Bố mẹ cụ sinh được 9 người con nhưng 01 người đã chết,
sau khi bố mẹ cụ chết thửa đất đó cụ H quản lý, theo cụ được biết trước khi cụ H
chết thửa đất được chia cho bà Đ, ông L, ông T6 và ông C1, trên đất ông L và bà Đ
tranh chấp 01 ngôi mộ, nay đề nghị thửa đất đang tranh chấp giải quyết theo
quy định. Giao cho ông L quản lý ngôi mộ cụ H1.
4.2. Cụ Nguyễn Thị T12 trình bày: Cụ là con của cụ H1, cụ không có ý kiến gì
về yêu cầu khởi kiện của ông L.
5. Tại bản án số 08/2020/DS-ST ngày 28/9/2020 của Toà án nhân dân huyện
Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ đã quyết định (BL203): Xác định Tranh chấp quyền sử
dụng đất.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh L đối với
Nguyễn Thị Đ về việc đòi lại 408m² (Diện ch đất đo thực tế ngày 01/9/2020
248,32m²) tại GCNQSDĐ số A485699, thửa 231, TBĐ số 3, diện tích 2.217m² do
UBND huyện T, tỉnh Vĩnh Phú cấp cho ông Nguyễn Văn T7 ngày 15/12/1990
được cấp theo bản đồ cũ 299. Sau đó được cấp theo bản đồ mới là thửa đất số 303,
TBĐ số 28. Địa chỉ tại khu A H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Năm 2013 thửa đất số
303, TBĐ số 28, diện tich 2.217m² đã được chia tách ra thành 03 thửa đất của anh
Nguyễn Văn Q, anh Nguyễn Văn T1 và chị Nguyễn Thị T.
Phần đất tranh chấp đo thực tế diện tích 248,32m² nằm trong 3 thửa đất
cụ thể như sau:
Anh Nguyễn Văn Q là: 130,3m², anh Nguyễn Văn T1 là: 117,7m², chị
Nguyễn Thị Thà L3: 0,32m².
8
Đều có địa chỉ tại khu A xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Thửa đất có sơ đồ hiện
trạng thửa đất kèm theo.
Bản án còn tuyên về chi phí giám định, chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng
cáo theo quy định.
Kháng cáo:
Ngày 02/10/2020 ông Nguyễn Thanh L đơn kháng cáo với nội dung đề
nghị:
- Huỷ bản án ngày 28/9/2020 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” do Toà
án nhân dân huyện Thanh Thuỷ xét xử.
- Tuyên huỷ GCNQSDĐ số A485669 mang tên ông Nguyễn Văn T7 chồng bà
Đ, tại khu A xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ với diện tích là 2.217m² đất ở tại TBĐ số
3, thửa 231 được UBND huyện T cấp ngày 15/12/1990.
- Tuyên huỷ GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở tài sản khác gắn liền với đất
số BP 693175 do UBND huyện T cấp cho anh Nguyễn Văn Q ngày 06/9/2013.
- Tuyên huỷ GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở tài sản khác gắn liền với đất
số BP 693176 do UBND huyện T cấp cho anh Nguyễn Văn T1 ngày 06/9/2013.
- Tuyên huỷ GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở tài sản khác gắn liền với đất
số BP 693177 do UBND huyện T cấp cho chị Nguyễn Thị T ngày 06/9/2013.
- Buộc gia đình nhà bà Đ các con Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn T1
Nguyễn Văn Q trả lại phần diện tích đất ngôi mộ của ông nội ông cho ông
gia đình bà Đ và các con bà Đ đã chiếm đất này của ông.
6. Tại bản án số 36/2021/DS-PT ngày 08/6/2021 của Toà án nhân dân tỉnh
Phú Thọ đã quyết định (BL343): Xác định Tranh chấp quyền sử dụng đất.
Huỷ bản án dân sthẩm số 08/2020/DS-ST ngày 28/9/2020 của Toà án
nhân dân huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ. Chuyển hồ vụ án cho Toà án nhân
dân huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Với
các lý do: Xác định sai tư cách tham gia tố tụng. Cần bổ sung thêm người tham gia
tố tụng là các con, cháu cụ H và cụ Đ3. Tuyên án khi chưa nghị án, thu thập chứng
cứ chưa đầy đủ.
7. Tại bản án số 07/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Toà án nhân dân huyện
Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ đã quyết định (BL503): Xác định Tranh chấp quyền sử
dụng đất và ngôi mộ dòng họ.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh L đối với
Nguyễn Thị Đ, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn T1 về việc đòi lại phần diện tích đất
Tài sản chung của dòng họ “Nguyễn” do Đ ông T7 đã kê khai, được
UBND huyện T cấp GCNQSDĐ s A485699, thửa 231, TBĐ số 3, diện tích
2.217m² cấp cho ông Nguyễn Văn T7 ngày 15/12/1990 được cấp theo bản đồ 299
cũ. Sau đó được cấp theo bản đồ mới thửa đất số 303, TBĐ số 28. Địa chỉ tại
khu A H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Năm 2013 thửa đất số 303, Tsố 28, diện
tích 2.217m² tách ra thành 03 thửa đất của anh Nguyễn Văn Q, anh Nguyễn Văn
T1 và chị Nguyễn Thị T.
1.1. Buộc anh Nguyễn Văn Q phải trả lại cho dòng họ “Nguyễn” phần diện
tích đất 86,9m², trị giá: 54.747.000 đồng.
9
1.2. Buộc anh Nguyễn Văn T1 phải trả lại cho dòng họ “Nguyễn” phần diện
tích đất 117.3 m², trị giá: 73.899.000 đồng.
Đều có địa chỉ tại khu A xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
1.3. Xác nhận trên đất 01 ngôi mộ của cụ Nguyễn Văn H1 cụ 4 đời của
nhánh họ Nguyễn tại H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Ngôi mộ của cụ Nguyễn Văn
H1 diện tích 10,26m² các thành viên trong nhánh Họ Nguyễn đều quyền
nghĩa vụ chăm sóc đối với phần mộ của cụ H1 không ai được ngăn cấm.
1.4. Buộc ông Nguyễn Thanh L phải thanh toán giá trị cây trồng trên đất.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh L
đối với phần diện tích 203,8m² đất đối với Đ, hiện anh Nguyễn Văn Q, chị
Nguyễn Thị T quản lý.
Bản án còn tuyên về kiến nghị, chi phí tố tụng, án phí,…theo quy định.
Kháng cáo:
Ngày 03/10/2023 ông Nguyễn Thanh L có đơn kháng cáo toàn bộ bản án.
do kháng cáo: Hội đồng xét xử cấp thẩm xem xét đánh giá chứng cứ
không khách quan, chưa đầy đủ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp
pháp của ông.
Yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm giải quyết: Sửa bản án dân sự sơ thẩm số
07/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú
Thọ theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 11/10/2023 Nguyễn Thị Đ đơn kháng cáo. do không đồng ý
với quyết định của Toà án nhân dân huyện Thanh Thuỷ với nội dung như sau:
gia đình đã sống tại thửa đất này từ năm 1962 đến nay, đã được chính
quyền cấp GCNQSDĐ hợp pháp. Thuế đất đã nộp đầy đủ theo quy định, việc cho
các con đất cũng được thực hiện theo đúng quy trình của Nhà nước chính
quyền địa phương. Ngôi mộ của cụ gia đình bà vẫn đang chăm sóc. Vì vậy,
không chấp nhận đơn khởi kiện của ông Nguyễn Thanh L với gia đình bằng
những giấy tthu thập vô căn cứ. Không được quan chức năng cũng như chính
quyền địa phương xác nhận. Mọi do để kiện cáo đều không bằng chứng xác
thực. Đề nghị quan chức năng làm các nhân, cán bộ địa phương đã
hành vi cung cấp các giấy tờ sai sự thật, không được thể hiện trong kho lưu trữ của
chính quyền các quan lưu trữ của Nhà nước, làm mất an ninh trật tự, gây
luận xấu tại địa phương thực tế gia đình đã sống đó mấy chục năm không
có tranh chấp gì với ai.
Ngày 12/10/2023 anh Nguyễn Văn T1 anh Nguyễn Văn Q đơn kháng
cáo không đồng ý với quyết định của Toà án nhân dân huyện Thanh Thuỷ với
do: Bản án đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật kể cả về tố tụng cũng như nội dung
áp dụng pháp luật. Đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ: Sửa bản án thẩm
tuyên: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Nguyễn
Thanh L.
Tại Quyết định kháng nghị số 553/QĐ-VKS-DS ngày 27/10/2023 của Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ kháng nghị đối với bản án thẩm số
10
07/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú
Thọ (BL540). Đề nghị hủy vụ án. Bởi các căn cứ:
Thứ nhất: Mồ mả trên đất không được coi tài sản. Về thẩm quyền giải
quyết vụ án liên quan đến hủy quyết định biệt của Chủ tịch UBND huyện nên
thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Thứ hai: Bản án thẩm chưa giải quyết đầy đủ hết các yêu cầu khởi kiện
của đương sự.
Thứ ba: Bản án, hồ sơ vụ án còn nhiều vi phạm cụ thể như sau:
Bản án xác định quan hệ tranh chấp ngôi mộ của dòng họ tài sản chưa
phù hợp. Bản án xác định chưa đầy đủ những người quyền lợi nghĩa vụ liên
quan tham gia tố tụng Ủy ban nhân dân huyện T. Bản án gốc và bản án chính
đều không có sơ đồ thửa đất kèm theo như quyết định của bản án.
Tòa án thu thập chưa đầy đủ tài liệu chứng cứ và quyết định án phí sai.
8. Tại bản án số 58/2024/DS-PT ngày 19/8/2024 của Toà án nhân dân tỉnh
Phú Thọ đã quyết định (BL862): Xác định tranh chấp quyền sử dụng đất ngôi
mộ dòng họ.
Chấp nhận một phần kháng nghị phúc thẩm số 553/QĐ-VKS-DS ngày 27
tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Huỷ bản án dân sthẩm số 07/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Toà án
nhân dân huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ. Vì các căn cứ:
Chưa làm người kế thừa quyền nghĩa vụ của người đã chết (ông T6),
chưa thu thập đầy đủ chứng cứ liên quan đến quyền sử dụng đất, tài sản thế chấp
hiện nay.
9. Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 10/9/2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 4 - Phú Thọ quyết định (BL1471):
Căn cứ khoản 9 Điều 26; Điều 34; Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 161;
khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng
Dân sự; Điều 163; Điều 164 của Bộ luật dân sự; Điều 100, Điều 105, 203 Luật đất
đai năm 2013; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn
Thanh L đối với bị đơn Nguyễn Thị Đ người quyền lợi nghĩa vụ liên
quan chị Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Văn Q và anh Nguyễn Văn T1 về việc “Tranh
chấp quyền sử dụng đất; tuyên huỷ GCNQSsố A485669, tờ bản đồ số 3, TBĐ
số 231, diện tích 2.217m² cấp ngày 15/12/1990 do UBND huyện T, tỉnh Vĩnh Phú
cấp cho ông Nguyễn Văn T7 tại khu A, H, huyện T, tỉnh Phú Thọ;
GCNQSDĐ số 152 của anh T1; GCNQSDĐ số 153 của anh Q; GCNQSDĐ số 154
của chị T đều do UBND huyện T cấp ngày 06/9/2013 yêu cầu Đ, chị T, anh
Q anh T1 phải trả lại quyền sử dụng đất diện tích đất 358,7m², đề nghị Đ
các con bà Đ phải trả lại ngôi mộ dòng họ và buộc tháo dỡ các công trình trên đất.
Bn án còn tuyên v chi phí giám định tài liu, xem xét thm định ti ch,
án phí, quyn đề ngh thi hành án và quyn kháng cáo theo quy định pháp lut.
11
10. Nội dung kháng cáo:
Ngày 17/9/2025, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh L kháng cáo toàn bBản
án dân sự thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 10/9/2025 của Tòa án nhân dân khu
vực 4 - Phú Thọ, đề nghị: Hủy bản án sơ thẩm và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
11. Thu thập chứng cứ trong qtrình chuẩn bị xét xử phúc thẩm quan
điểm của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm:
UBND xã T cung cấp trích lục khai tử số 170/2026/TLKT-BS ngày 09/6/2026
đối với cụ Nguyễn Thị T12, sinh ngày 05/6/1935.
Lời khai của cụ Nguyễn Thị T11, sinh ngày 07/3/1933: Cụ Nguyễn Thị T11
con gái út của cụ Nguyễn Văn H1 đã đứng ra lo việc di chuyển ngôi mộ của cụ H1.
Khi di chuyển mộ cụ H1 về nghĩa trang Hoàng Xá, T (gần mộ cụ vợ cụ
H1) ttất cả anh em trong gia đình họ hàng đều đồng tình thống nhất một lòng,
không có ý kiến gì.
Lời khai của Nguyễn Thị Đ bị đơn: Đ ông L cháu nội cụ H1.
Mộ cụ H1 trên thửa đất đang tranh chấp nay đã được cụ Nguyễn Thị T11 (con gái
cụ H1) đứng ra di chuyển đến khuôn viên nghĩa trang G1 thuộc xã H (cũ). Khi di
chuyển mộ cụ H1 về gần mộ cụ vợ cụ H1 thì tất cả anh em trong gia đình họ
hàng đều đồng tình thống nhất một lòng, không ý kiến (kèm theo 2 ảnh màu
chụp chuẩn bị di dời mộ cH1 và hoàn thành việc xây dựng mộ cụ H1, vợ cụ H1).
Xác minh tại khu dân cư, ông Nguyễn Văn H3 - Trưởng khu cung cấp: Trước
năm 1990, từ năm 1990 đến năm 2013 tnăm 2013 đến nay ông thấy Đ,
chồng T7 người quản trông nom mộ cụ H1 trên thửa đất đang tranh chấp.
gia đình đi đạo nên không cúng, chỉ thđọc kinh cầu nguyện xin lễ cho
linh hồn cụ H1.
Công văn số 17/CAX-PCTP ngày 01/12/2025 của Công an T về việc kết
quả giải quyết đơn của ông Nguyễn Thanh L về việc ông L xác định Nguyễn
Thị Đ không có dấu hiệu xâm phạm mồ mả và cản trở hoạt động tố tụng.
Đại diện V1 - Phòng G trình bày:
- Khoản vay của ông Nguyễn Văn Q: Ngày 13/11/2025 ông Nguyễn Văn Q
hợp đồng cho vay hạn mức số 25.24039.775/2025-HĐCVHM/NHCT240
ngày 13/11/2025 vay vốn tại Ngân hàng TMCP C3 chi nhánh P2 - Phòng G, được
bảo đảm bằng tài sản: 01 quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất theo
GCNQSDĐ quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số BP 693175 do
UBND huyện T cấp ngày 06/9/2013 cho ông Nguyễn Văn Q; Chi tiết theo hợp
đồng thế chấp (HĐTC) số 25.24039.775/2025/HĐBĐ/NHCT240 ngày
13/11/2025 và các văn bản sửa đổi kèm theo (nếu có) giữa V1ông Nguyễn Văn
Q. Tài sản trên được thực hiện ng chứng đăng giao dịch bảo đảm theo
đúng quy định pháp luật. Trong quá trình vay vốn đến thời điểm hiện tại ông
Nguyễn Văn Q tuân thủ đúng quy định của Ngân hàng, trả nợ đầy đủ đúng hạn.
- Khoản vay của ông Nguyễn Văn T1: Ngày 28/3/2025 ông Nguyễn Văn T1
hợp đồng cho vay hạn mức số 25.24039.624/2025-HĐCVHM/NHCT240
ngày 28/3/2025 vay vốn tại Ngân hàng TMCP C3 chi nhánh P2 - Phòng G, được
12
bảo đảm bằng tài sản: 01 quyền s dụng đất tài sản gắn liền với đất theo
GCNQSDĐ quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số BP 693176 do
UBND huyện T cấp ngày 06/9/2013 cho ông Nguyễn Văn T1; Chi tiết theo hợp
đồng thế chấp (HĐTC) số 25.24039.623/2025/HĐBĐ/NHCT240 ngày
28/3/2025 các văn bản sửa đổi kèm theo (nếu có) giữa V1 ông Nguyễn Văn
T1. Tài sản trên được thực hiện ký công chứng đăng ký giao dịch bảo đảm theo
đúng quy định pháp luật. Trong quá trình vay vốn đến thời điểm hiện tại ông
Nguyễn Văn T1 tuân thủ đúng quy định của Ngân hàng, trả nợ đầy đủ đúng hạn.
Để đảm bảo quyền lợi cho Ngân hàng TMCP C3 - Chi nhánh P2, đề nghị Tòa
án giải quyết vụ án đúng quy định pháp luật.
Người tham gia tố tụng trình bày:
Ông L có bản tự khai ngày 28/4/2026 và ngày 31/7/2026 nội dung giữ nguyên
yêu cầu kháng cáo cũng như các nội dung đã trình bày trước đây và không bổ sung
thêm nội dung, tài liệu chứng cứ gì.
Anh Q, anh T1: Đề nghị Tòa án bác kháng cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Ông Đ1: Ông là con cụ N1 (cụ N1 cô ruột ông L). Trước đây gia đình bà Đ
ông L hòa thuận, chỉ đến năm 2018-2019 mới xảy ra tranh chấp. Con cụ H1
T11 còn sống và có quyền di dời mộ cụ H1 ra nghĩa trang của xã H cũ (V).
Anh Đ2: thông tin hồ đất của cụ H năm 1992 (sau thời điểm cấp
GCNQSDĐ cho ông T7 năm 1990). Nếu đất không phải của cụ H thì không thể
chôn cụ H trên đất đang tranh chấp của người khác được.
Người tham gia tố tụng khác vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm nên không
ý kiến gì.
Cụ Nguyễn Thị T12 (đã chết ngày 30/01/2026 theo trích lục khai tử số
170/2026/TLKT-BS ngày 09/6/2026).
12. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phiên
tòa (Chi tiết theo bài phát biểu số 151/PB-VKS-DSPT lưu hồ sơ):
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử phúc
thẩm, thư phiên tòa. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư phiên tòa thực hiện
đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự đối với phiên tòa phúc thẩm.
Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 308 của BLTTDS. Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Thanh L.
Giữ nguyên bản án dân sthẩm số 17/2025/DS-ST ngày 10/9/2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 4 - Phú Thọ.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Thanh L người cao tuổi
yêu cầu nên được miễn án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án, chứng cứ đã được xem
xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở ý kiến trình
13
bày của các bên đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú
Thọ tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn là ông Nguyễn Thanh L nộp đơn kháng cáo còn trong thời hạn,
nội dung kháng cáo hợp lệ nên được thụ để xem xét, giải quyết theo trình tự
phúc thẩm.
Về xác định cách người tham gia tố tụng được xác định dựa trên mối quan
hệ tranh chấp khi giải quyết vụ án. không còn tranh chấp ngôi mộ của dòng họ
(đồng thời ngôi mộ đã cụ H1 di chuyển) nên những người con, cháu, chắt của cụ
H1 không còn là người có quyền nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Bản án xét xử
tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy các GCNQSDĐ thì những người
quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án cần phải xác định lại theo nội dung bản
án thẩm để hthực hiện quyền nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Từ đó Tòa
án cấp phúc thẩm xác định họ chỉ là người làm chứng. Do vậy cần rút kinh nghiệm
với cấp sơ thẩm.
Về việc Ngân hàng TMCP N2 - Chi nhánh P2 không tham gia tố tụng tại cấp
phúc thẩm vì ngày 28/10/2025 Chi nhánh văn phòng Đ7 xác nhận đã xóa thế
chấp bằng quyền sử dụng đất ngày 27/6/2022 theo hồ số 4724 đối với thửa đất
số 153, TBĐ số 05, số phát hành GCN BP693175, số vào sổ cấp GCN: CH00894.
Đồng thời anh Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn T1 dùng tài sản đang tranh chấp thế
chấp tại Ngân hàng TMCP C3 - Chi nhánh P2. Do vậy Ngân hàng TMCP C3 - Chi
nhánh P2 sẽ tham gia tố tụng với tư cách là bên có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
theo quy định pháp luật.
[2] Về nội dung kháng cáo:
Xét nội dung kháng cáo của ông Nguyễn Thanh L đnghị hủy Bản án
thẩm, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Thấy rằng:
[2.1] Đối với yêu cầu đề nghị hủy Bản án thẩm: Vụ án tranh chấp của
nguyên đơn từ năm 2019 đến nay thời gian đã lâu, được các cấp Tòa án giải quyết,
xét xử ở 2 cấp đến nay đã qua 5 phiên tòa (3 phiên tòa sơ thẩm và 2 phiên tòa phúc
thẩm), quá trình giải quyết, thu thập chứng cứ của các cấp Tòa án đã dần được bổ
sung, nay đã đầy đủ đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm các n
đương sự không đề nghị triệu tập thêm ai, nguyên đơn không đưa ra được căn cứ
pháp xác định cấp thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng để hủy bản án
như đánh giá chứng cứ không khách quan, chưa đầy đủ theo quy định pháp luật đã
làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của nguyên đơn là không có căn cứ chấp nhận.
Bởi lẽ: Các chứng cứ trong hồ (do đương sự giao nộp do Tòa án thu thập
được) đủ căn cứ xác định nguồn gốc tài sản đang tranh chấp, quá trình sử dụng đất
liên tục và kéo dài của bà Đ được cấp có thẩm quyền xác nhận.
[2.2] Đối với yêu cầu đề nghị hủy các GCNQSDĐ: ông T7 được cấp năm
1990, anh Q, anh T1 và chị T đều được cấp năm 2013. Thấy rằng:
Quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sthừa nhận (theo quy định tại
Điều 92 BLTTDS): Cụ Nguyễn Văn H và cụ Nguyễn Thị Đ3 01 thửa đất khu
A H, huyện T, tỉnh Phú Thọ chưa được cấp GCNQSDĐ. Cụ H cụ Đ3 09
14
người con, 01 người đã chết, còn lại 08 người: Nguyễn Thị Đ, Nguyễn Thị
Đ4, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị T5, Nguyễn Thị T2, ông Nguyễn Thanh
L, ông Nguyễn Chí T6 và ông Nguyễn Văn C1.
Tòa án đã xác minh quá trình cấp GCNQSDĐ cho ông Nguyễn Văn T7:
Trong sổ mục kê, bản đồ 299, bản đồ địa chính, hồ cấp GCNQSDĐ các tài
liệu liên quan đến thửa đất đang tranh chấp của UBND H, UBND huyện T
UBND huyện T xác định cụ Nguyễn Văn H cụ Nguyễn Thị Đ3 không được
cấp, giao, hoặc tạm giao đất không bất kỳ tài liệu, giấy tliên quan đến
diện tích đất ông Nguyễn Thanh L đang tranh chấp với bà Nguyễn Thị Đầm .
Công văn trả lời số 31/VPĐKQSDĐ ngày 29/10/2019 của Văn phòng đăng ký
quyền sử dụng đất huyện T cung cấp cho Tòa án: Hồ cấp GCNQSDĐ cho ông
Nguyễn Văn T7 khu 13 xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ thửa 231, TBĐ số 3, diện tích
2.217m² do UBND huyện T, tỉnh Vĩnh Phú cấp ngày 15/12/1990, do quá trình tái
lập huyện bàn giao bị thất lạc. Hiện nay hồ không còn lưu giữ tại quan Tài
nguyên môi trường huyện T. Nhưng việc cấp đất cho ông T7 được tiến hành theo
đúng quy định của pháp luật.
Theo Công văn trả lời số 603/UBND-TNMT ngày 01/4/2020 của Ủy ban
nhân dân huyện T cung cấp: GCNQSDĐ số A485699, thửa 231, TBĐ số 3, diện
tích 2.217m² do UBND huyện T, tỉnh Vĩnh Phú cấp ngày 15/12/1990 cấp cho ông
Nguyễn Văn T7 khu 13 xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ đúng quy định của pháp
luật.
Tại biên bản xác minh UBND T cung cấp: Nguồn gốc sử dụng đất quá
trình sử dụng đất của bà Nguyễn Thị Đ ở khu 13 Hoàng xá cũ nay là xã T, tỉnh Phú
Thọ thì từ năm 1987 cho đến nay gia đình Đ trên đất này. Năm 1990 thì gia
đình bà Đ được cấp GCNQSDĐ đứng tên ông T7 là chồng của bà Đ và gia đình bà
đã sử dụng ổn định đất không tranh chấp với ai và Đ đã chia đất cho các con
đã được cấp GCNQSDĐ. Căn cứ bản đồ 299 (bản đồ xanh năm 1988) tại thửa
81 không có phạm vi đất ông L đang khởi kiện đòi lại quyền sử dụng đất và căn cứ
bản đồ can tờ bản đồ số 3 thửa 231 không thể hiện phần diện tích ông L đề nghị.
Ủy ban nhân dân xã T cung cấp bản đồ 299 xanh, bản đồ can lại, sổ mục kê, bản đồ
địa chính dạng số chỉ in một góc cho Toà án. Toà án thu thập các tài liệu, chứng cứ
của hồ sơ cấp đất cho các con bà Đ và ông D, bà T2.
Ông Long cung C2 đồ bản vẽ ngày 24/01/1981 của cụ H tả các đường
vẽ trên tờ bìa có màu vàng (chụp in lại), nét vẽ bằng loại bút mực màu xanh, không
thể hiện số lô, số thửa, các góc cạnh, diện tích là bao nhiêu. Ông Long cung C2 01
quyển sổ xác định cuốn ghi Kinh thánh của cụ H. Tòa án đã trưng cầu giám
định; phòng K2 - ng an tỉnh P kết luận: Chữ viết trong quyển sổ bìa màu nâu cũ,
kích thước 12,7cm x 9cm được đánh số trang từ 02-127 chữ “Sau năm 1981.
làm nhà chú C1 từ 4.1.81 Đến 28.2. Hoàn thành. Ngày 6.3. Riêng” đã đo lại
ngày 24.1.1981.” trong tgiấy được ép P1 là do cùng một người viết ra. Nhưng
cũng không sở chấp nhận cho bản vẽ này bản vẽ đồ không chữ
người làm chứng, không có xác nhận của chính quyền địa phương và chỉ có ông L
15
thừa nhận bản vẽ này ngoài ra các con của cụ H không thừa nhận đồ bản vẽ
này.
[2.3] Đối với yêu cầu chấp nhận quyền quản lý, tôn tạo, tu sửa thờ cúng mộ
ông nội (cụ H1) do ông trưởng nam, trưởng dòng họ quản thờ cúng. Đồng
thời ngôi mộ cụ H1 hiện nay không còn được chôn cất trong phần đất đang tranh
chấp (ngày 25/10/2025 cụ T11 cùng các con cháu đã di chuyển mộ cụ H1 về nghĩa
trang của xã). Thấy rằng: Yêu cầu này không được giải quyết trong ván tại cấp
sơ thẩm nên cấp phúc thẩm không có căn cứ xem xét.
[2.4] Đối với yêu cầu trả lại thửa đất diện tích 358,7m
2
ông T7 đã lấn
chiếm (trước ngày 25/10/2025 ngôi mộ của ông nội ông L mộ cụ H1). Thấy
rằng:
Như đã phân tích tại mục [2.2], quá trình giải quyết tại cấp thẩm ông L
không tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của ông L nên
Tòa án cấp sơ thẩm không có căn cứ xem xét là phù hợp. Đồng thời ông T7, chồng
Đ được cấp GCNQSDĐ từ năm 1990, trong đó có phần diện tích đất đang tranh
chấp sdụng suốt 30 năm sau, ông L mới tranh chấp được a án nhân dân
huyện Thanh Thủy xét xử lần đầu vào năm 2020. Việc ông L con ông L (anh
Đ2) cho rằng thông tin hồ đất của cụ H năm 1992 không chính xác, bởi
thời điểm đó ông T7 đã được cấp GCNQSDĐ khoảng 2 năm. Gia đình ông L cũng
như các thành viên khác trong gia đình là con cụ H, Đ3 không ai ý kiến khiếu
nại gì. Từ đó xác định việc vợ chồng ông T7, Đ chiếm hữu, sử dụng công khai
theo quy định tại Điều 247 BLDS năm 2005 (tương ứng với Điều 236 BLDS năm
2015) là hợp pháp.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng không căn cứ để
chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh L.
[2.5] Đối với ngôi mộ trên đất của cụ Nguyễn Văn H1 cụ 4 đời của
nhánh họ Nguyễn. Ông L đề nghị Đ các con Đ phải trả lại ngôi mộ dòng
họ buộc tháo dỡ các công trình trên đất. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp
thẩm thì bà Đ và các con bà Đ cho rằng bà không xây dựng hay rào ngôi mộ của c
H1 nên việc ông L buộc các con bà phải tháo dỡ các công trình trên ngôi mộ
của cụ H1 không căn cứ, các con, cháu, anh, em trong dòng tộc vẫn
chăm sóc chu đáo mộ của cụ H1 vào mỗi dịp lễ tết. Tuy nhiên đến ngày
25/10/2025 cụ Nguyễn Thị T11 là con gái út của cụ Nguyễn Văn H1 đã đứng ra lo
việc di chuyển ngôi mộ của cụ H1. Khi di chuyển mộ cụ H1 về nghĩa trang Hoàng
Xá, T (gần mộ cụ vợ cụ H1) thì tất cả anh em trong gia đình họ hàng đều
đồng tình thống nhất một lòng, không ý kiến gì. Việc chăm sóc mộ, thờ cúng
quyền nghĩa vụ của các con cháu, chắt,…đối với tổ tiên, đó vấn đề tín
ngưỡng thiêng liêng, thhiện sự đạo hiếu của người Việt Nam, được điều chỉnh
bằng các quy phạm đạo đức, tín ngưỡng,…Do vậy, Hội đồng xét xử không chấp
nhận yêu cầu này của ông L.
[3] Về án phí dân sphúc thẩm: Kháng cáo của ông Nguyễn Thanh L không
được chấp nhận thì phải chịu án phí, nhưng ông L người cao tuổi đơn đề
nghị ngày 09/9/2025 nên được miễn theo quy định pháp luật.
16
[4] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phiên
tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của BLTTDS.
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15, điểm a khoản
2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông Nguyễn Thanh L.
Giữ nguyên bản án dân sthẩm số 17/2025/DS-ST ngày 10/9/2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 4 - Phú Thọ.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn toàn bộ án phí cho ông Nguyễn Thanh L
là người cao tuổi và có đơn yêu cầu.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Đương sự;
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- VKSND khu vực 4 - Phú Thọ;
- Phòng THADS khu vực 4 - Phú Thọ;
- Tòa án nhân dân khu vực 4 - Phú Thọ;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu văn phòng.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Phạm Tuấn Anh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 201/2026/DS-PT Bản án số 201/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 201/2026/DS-PT Bản án số 201/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất