Bản án số 1484/2026/DS-PT ngày 05/08/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1484/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1484/2026/DS-PT ngày 05/08/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 1484/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1484/2026/DS-PT Bản án số 1484/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1484/2026/DS-PT Bản án số 1484/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 1484/2026/DS-PT
Ngày: 05-8-2026
V/v tranh chấp quyền sử
dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Mai.
Các Thẩm phán: Ông Bùi Ngọc Thạch;
Ông Nguyễn Thanh Tùng.
- Thư phiên tòa: Phạm Thị Mỹ Dung Thư Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Trần Thị Phước - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 29 tháng 7 và ngày 05 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (sở B) xét xử phúc thẩm công khai vụ án
dân sự thụ số 796/2026/TLPT-DS ngày 21 tháng 4 năm 2026 về việc tranh
chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm s18/2026/DS-ST ngày 06/02/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3676/2026/QĐ-PT
ngày 05 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Thị Thu H, sinh năm 1976; địa chỉ: số B, đường N,
tổ D, khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay khu phố P,
phường P, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1983; địa chỉ:
2, đường N, khu phố M, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay số I,
đường Đ, khu phố T, phường P, Thành phố HChí Minh), người đại diện
theo ủy quyền (theo hợp đồng ủy quyền ngày 23/12/2023), có mặt.
- Bị đơn: Ông Hoàng L, sinh năm 1993; địa chỉ: số B, đường K,
phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ
Chí Minh), có mặt.
2
Người đại diện hợp pháp: Ông Kiều Tất T, sinh năm 1978; địa chỉ: C,
xá P, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường P, Thành phố
Hồ Chí Minh), người đại diện theo ủy quyền (theo hợp đồng y quyền ngày
03/5/2024), có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Võ Minh K, sinh năm 1960; địa chỉ: số nhà B, đường T, phường L,
thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (nay là phường B, tỉnh Lâm Đồng).
Người đại diện hợp pháp: Ông Kiều Tất T, sinh năm 1978; địa chỉ: C,
xá P, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường P, Thành phố
Hồ Chí Minh), người đại diện theo ủy quyền (theo hợp đồng ủy quyền ngày
16/5/2024), có mặt.
2. Ông Nguyễn Quang T1, sinh năm 1969; địa chỉ: 2, đường L, phường P,
thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1983; địa chỉ:
2, đường N, khu phố M, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là số I,
đường Đ, khu phố T, phường P, Thành phố HChí Minh), người đại diện
theo ủy quyền (theo hợp đồng ủy quyền ngày 14/3/2024), có mặt.
3. Nguyễn Thị Minh T2, sinh năm 2001; địa chỉ: số B, đường N, tổ D,
khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay phường P, Thành
phố Hồ Chí Minh); chỗ ở hiện nay: số B, đường L, phường P, thành phố T, tỉnh
Bình Dương (nay khu phố P, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh), đơn đề
nghị giải quyết vắng mặt.
4. Ông Nguyễn Quang T3, sinh năm 1997; địa chỉ: số B đường N, tổ D,
khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay phường P, Thành
phố Hồ Chí Minh); chỗ ở hiện nay: số B, đường L, phường P, thành phố T, tỉnh
Bình Dương (nay khu phố P, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh), đơn đề
nghị giải quyết vắng mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Võ Thị Thu H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn trình bày:
Năm 2004, Thị Thu H được nội Nguyễn Thị L1, sinh năm
1932 (chết năm 2018), tặng cho phần đất diện tích khoảng 60m
2
(ngang 2,3m và
dài 26m), đo đạc thực tế 59,8m
2
tọa lạc phường P, thành phố T, tỉnh Bình
Dương (nay phường P, Thành phố Hồ Chí Minh) theo “Giấy cho đất xây nhà
ở” ngày 28/6/2004. Phần đất này nằm trong diện tích đất 2264,4m
2
thuộc thửa
đất số 494, tờ bản đồ số 40 theo Giấy chứng nhận quyền sử đất số BS 408062,
số vào sổ cấp GCN: CH 06157 do UBND thành phố T cấp ngày 23/5/2014 cho
hộ Nguyễn Thị L1. Đến năm 2014, L1 làm hợp đồng tặng cho ông
Minh K diện tích đất 208,5m
2
thuộc thửa đất số 569, tờ bản đồ số 60 tọa lạc
phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay phường P, Thành phố Hồ Chí
Minh). Tuy nhiên, khi ông K tiến hành kê khai và đăng ký quyền sử dụng đất thì
3
ông K đã khai đăng cả phần đất L1 đã tặng cho H từ năm
2004 theo Giấy cho đất xây nhà ở” ngày 28/6/2004. Sau đó, ông Minh K đã
tặng cho phần đất này cho ông Võ Hoàng L quản lý, sử dụng.
Sau khi nhận tặng cho quyền sử dụng đất, bà H đã tiến hành quản lý và s
dụng đất từ năm 2004, cụ thể H đã tiến hành xây dựng nhà buôn bán trên
đất cho đến nay. Ngày 22/12/2023, khi Ủy ban nhân dân phường P xuống nhà bà
H m việc yêu cầu H di dời toàn bộ tài sản trên đất để trả lại phần nêu trên
cho ông Hoàng L tH mới biết phần đất H đang quản lý, sử dụng đã
bị ông Minh K đăng ký quyền sử dụng. Nhận thấy quyền và lợi ích hợp pháp
của mình bị xâm phạm nên bà H gửi đơn tranh chấp đất đến Ủy ban nhân dân
phường P ngày 25/12/2023. Tuy nhiên ông L không đến Ủy ban nhân dân
phường để hòa giải tranh chấp (Có biên bản hòa giải kèm theo). vậy,
Thị Thu H khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố ThDầu Một, tỉnh
Bình Dương (nay Tòa án nhân dân khu vực 15 Thành phố Hồ Chí Minh)
giải quyết: Yêu cầu ông Hoàng L trả lại cho H phần đất diện tích
59,8m
2
tọa lạc phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay phường P,
Thành phố Hồ Chí Minh) chiều ngang 2,3m dài 26m theo “Giấy cho
đất xây nhà ở” ngày 28/6/2004.
Tại đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 20/11/2024, nguyên đơn yêu cầu Tòa
án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một (nay Tòa án nhân dân khu vực 15
Thành phố Hồ Chí Minh) công nhận phần đất diện tích 59,8m
2
tọa lạc phường P,
thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay phường P, Thành phố Hồ Chí Minh)
chiều ngang 2,3m và dài 26m thuộc quyền quản lý, sử dụng hợp pháp của
Thị Thu H. Điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông
Hoàng L phù hợp với hiện trạng sử dụng. Thị Thu H được quyền liên h
với quan Nhà nước thẩm quyền để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đối với phần đất trên.
Quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa thẩm, người đại diện hợp
pháp của nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án công nhận
phần đất diện tích 46,6m
2
tọa lạc phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay
phường P, Thành phố Hồ Chí Minh) thuộc quyền quản lý, sử dụng hợp pháp
của bà Võ Thị Thu H.
- Bị đơn ông Hoàng L người đại diện hợp pháp của bị đơn ông
Kiều Tất T thống nhất trình bày:
Bị đơn cho rằng yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hoàn toàn không có cơ
sở pháp với do toàn b“Giấy cho đất xây nhà ở” lập ngày 28/6/2004 do
nguyên đơn nộp cho Tòa án đkhởi kiện là hoàn toàn giả mạo (chữ viết, dấu
vân tay, số CMND sai lệch....) vấn đnày đã được ông L gửi đơn tố giác tội
phạm ng các chứng cứ đến Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, Tòa án nn
dân thành phố Thủ Dầu Một Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu
Một. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết
dấu vân tay của Nguyễn Thị L1 trên “Giấy cho đất xây nhà ở” lập ngày
28/6/2004. Căn cứ kết luận giám định không đủ sở xác định chữ của
4
Nguyễn Thị L1. Ngoài ra, ông L được cha là ông Minh K tặng cho quyền sử
dụng đất theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất tại Văn phòng C, tỉnh Bình
Dương, số công chứng 10321, quyển số 09TP/CC SCC/HĐGD. Ngày
18/10/2018, ông L được Sở i nguyên môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng
nhận quyền sdụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số
CN 143452, số vào sổ cấp GCN: CS12959, việc tặng cho cấp sổ là đúng theo
quy định pháp luật, do đó bị đơn không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quang T1 do ông
Nguyễn Thanh S người đại diện hợp pháp trình bày: Ông T1 là chồng của
H, ông T1 thống nhất ý kiến và yêu cầu của bà H.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Minh K do ông Kiều Tất
T là người đại diện trình bày: Ông K cha của ông Hoàng L, ông K thống
nhất ý kiến trình bày của ông L. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông K
cho rằng yêu cầu này hoàn toàn không sở pháp lý, do đó ông K không
đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quang T3
Nguyễn Thị Minh T2 thống nhất trình bày: Ông Nguyễn Quang T3 và bà
Nguyễn Thị Minh T2 con ruột của Thị Thu H ông Nguyễn Quang
T1. Hiện tại T2 đang sinh sống trên phần đất tranh chấp giữa H ông L,
phần đất này đã được Nguyễn Thị L1 tặng cho gia đình theo “Giấy cho đất
xây nở” ngày 28/6/2004 gia đình T2, ông T3 đã sử dụng ổn định từ
trước đến nay. Do đó, ông T3 T2 hoàn toàn thống nhất với yêu cầu khởi
kiện của bà H.
Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 11/7/2024 của Tòa án th
hiện trên phần đất tranh chấp một phần căn nhà của H, ông T1 kết cấu
tường gạch xây tô, nền gạch men, mái tole, cửa sắt kính phần nhà tạm của
H, ông T1 xây dựng kết cấu: mái tole, nền gạch men, tường gạch xây tô.
Tại kết luận giám định số 431/KL-KTHS, ngày 20/10/2025 của Phân viện
Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
- Chữ viết, chữ ký dạng chữ viết “Lùng” trên tài liệu cần giám định ký hiệu
A so với chữ dạng chữ viết “Lùng” trên các tài liệu mẫu so sánh hiệu từ
M1 đến M4 là do cùng một người viết (ký) ra.
- Không đủ sở kết luận chữ viết, chữ dạng chữ viết “Lùng” trên tài
liệu cần giám định hiệu A so với chữ dạng chữ viết “Lùng” trên tài liệu
mẫu so sánh ký hiệu M5 là có phải do cùng một người viết (ký) ra hay không.
- Chviết, chký dạng chviết “Lùng” trên i liệu cần giám định
hiệu A so với chữ ký dạng chữ viết “Lung” trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M6
và chữ viết họ tên Nguyễn Thị L1 (dưới chữ ký) trên các tài liệu so sánh ký hiệu
từ M1 đến M6 là không phải do cùng một người viết (ký) ra.
5
- Không tiến hành giám định tuổi mực của nội dung trên tài liệu cần giám
định ký hiệu A hiện nay Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí
Minh chưa giải quyết được các yêu cầu giám định về tuổi mực.
Tại Bản án dân sự thẩm số 18/2026/DS-ST ngày 06/02/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thị Thu H
đối với bị đơn ông Võ Hoàng L về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
Buộc bà Thị Thu Hông Nguyễn Quang T1 trách nhiệm tháo dỡ,
di dời phần nhà tạm, kết cấu mái tole, nền gạch men, tường gạch xây thuc
thửa đất s 569, t bản đ s 40 tọa lạc phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương
(nay phường P, Thành phố Hồ Chí Minh) để trả lại diện tích đất 46,6m
2
cho
ông Võ Hoàng L.
(Có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và sao lục hồ sơ: bà
Võ Thị Thu H phải chịu 5.164.000 đồng và đã thực hiện xong.
3. Chi phí giám định: Bà Võ Thị Thu H phải chịu 7.182.000 đồng, ông
Hoàng L đã nộp tạm ứng, Thị Thu H trách nhiệm trả lại cho ông
Hoàng L.
4. Án phí Dân sự thẩm: Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng,
được khấu trừ 900.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số
0002332 ngày 02/4/2024 biên lai thu tiền số 0008720 ngày 11/12/2024 của
Chi cục Thi hành án Dân sự Thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Hoàn
trả cho bà Võ Thị Thu H 600.000 đồng tiền chênh lệch.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về quyền nghĩa vụ thi hành án,
quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 11/02/2026, nguyên đơn bà Võ Thị Thu H có đơn kháng cáo toàn bộ
bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa v
liên quan ông Nguyễn Quang T1 trình bày:
Tại phần nhận định của bản án sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm xác định phần
nhà trên đất đã được H ông T1 xây dựng từ năm 2002. Tuy nhiên, đến
năm 2018 quan thẩm quyền mới cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng đất
cho ông L. Cấp thẩm chưa làm việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất trong trường hợp trên đất đã tài sản thuộc sở hữu của người khác có đúng
quy định pháp luật hay không. Đối với kết luận giám định chữ ký, Tòa án cấp sơ
thẩm cho rằng không đủ căn cứ xác định chữ ký của L1. Tuy nhiên, Kết luận
6
giám định s431/KL-KTHS ngày 20/10/2025 của Phân viện Khoa học hình sự
tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định trong 6 mẫu so sánh, 04 mẫu (M1 đến
M4) trùng khớp, mẫu M5 không đủ sở kết luận, chỉ mẫu M6 không trùng
khớp. Mẫu M6 chữ ghi "Lung" thay "Lùng" khác với toàn bộ các
mẫu chữ còn lại. Do đó, sở để xác định chữ ký, chữ viết trên Giấy cho
đất để xây nhà ngày 28/6/2004 của bà L1. Trên phần đất tranh chấp một
phần tài sản gắn liền không thể tách rời với phần còn lại của ngôi nhà, cấp
thẩm chưa xem xét việc tháo dỡ phần nhà trên diện tích tranh chấp thể ảnh
hưởng đến kết cấu của toàn bộ căn nhà. Tòa án cấp thẩm viện dẫn Án lệ số
52/2021/AL ngày 25/11/2021 chưa phù hợp. Bởi lẽ, phần đất tranh chấp hiện
liền kề với thửa đất số 84, tờ bản đồ số 40 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số 327982, o sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
00083QSDĐ/TXTDM do UBND thị xã T cấp cho hộ ông T1.
Bị đơn, người đại diện hợp pháp của bị đơn người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan ông Minh K trình bày: diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử
dụng hợp pháp của bị đơn theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp
đúng trình tự, thủ tục; đến khi nguyên đơn khởi kiện bị đơn mới biết “Giấy cho
đất xây nhà ở” lập năm 2004. Từ năm 2019 bị đơn đã nhiều lần yêu cầu nguyên
đơn trả lại phần đất lấn chiếm đơn đề nghị Ủy ban nhân dân phường P
nhưng nguyên đơn không thực hiện. Bị đơn không đồng ý với việc nguyên đơn
cho rằng các công trình trên đất được xây dựng tnăm 2002, theo bị đơn, tại
thời điểm được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khu vực tranh chấp chỉ
hàng o nuôi gà, các công trình hiện trạng được nguyên đơn xây dựng bổ
sung trong quá trình tranh chấp. Bị đơn không yêu cầu phản tố do việc x
công trình xây dựng thuộc thẩm quyền của quan hành chính nhà nước, đ
nghị Tòa án cấp phúc thẩm bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giữ nguyên
bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham dphiên
tòa phát biểu ý kiến như sau:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Những người tiến hành ttụng
người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: H căn cứ “Giấy cho đất xây nở” ngày
28/6/2004 để yêu cầu công nhận quyền sử dụng 46,6m² đất là không sở.
Bởi lẽ, nguyên đơn đã xây dựng nhà từ năm 2002 khi chưa được lập giấy cho
đất chưa chuyển mục đích sử dụng đất; “Giấy cho đất xây nhà ở” vi phạm
quy định về hình thức, kết luận giám định không đủ căn cứ xác định chữ ký của
Nguyễn Thị L1 diện tích đất cũng không đủ điều kiện tách thửa. Do đó,
không căn cứ công nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn. Tuy nhiên, việc
buộc nguyên đơn tháo dỡ công trình là vượt quá phạm vi yêu cầu giải quyết của
vụ án vấn đề này đã được xử bằng quyết định hành chính. Đồng thời, xét
nguyên đơn đã quản , sử dụng đất từ năm 2002 nên cần xem xét công sức gìn
giữ, tôn tạo đất để bảo đảm quyền lợi. vậy, đnghị Hội đồng xét xử căn cứ
khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo, sửa
7
một phần bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu công nhận quyền
sử dụng đất của nguyên đơn, không tuyên buộc tháo dỡ công trình xem xét
công sức gìn giữ, tôn tạo đất cho nguyên đơn.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được
thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày
của đương sự, Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn được nộp trong thời hạn luật định và
thực hiện nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định tại Điều 272, Điều 273
Bộ luật Tố tụng dân snăm 2015 nên đủ điều kiện để thụ xét xử theo thủ
tục phúc thẩm.
[1.2] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị
Minh T2 và ông Nguyễn Quang T3 đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Tòa
án xét xử vắng mặt những người nêu trên theo quy định của Điều 296 Bộ luật Tố
tụng dân sự.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn:
[2.1] Nguyên đơn yêu cầu công nhận quyền sử dụng diện tích đất 46,6m²
thuộc một phần thửa đất số 569, tờ bản đồ số 40 theo giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cấp cho bị đơn ngày 18/10/2018, đất tọa lạc tại phường P, thành phố T,
tỉnh Bình Dương (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh).
[2.2] Nguyên đơn cho rằng đất nguồn gốc do nội nguyên đơn bà
Nguyễn Thị L1 tặng cho nguyên đơn phần đất chiều ngang 2,3m, chiều dài
đến hết đất theo Giấy cho đất xây nhà ở” lập ngày 28/6/2004. Nguyên đơn xác
định đã nộp hồ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng đất nhưng không
được giải quyết do diện tích không đủ điều kiện tách thửa, tuy nhiên, nguyên
đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh đã thực hiện thtục
đăng quyền sử dụng đất hoặc đã nộp hồ xin cấp giấy chứng nhận như đã
trình bày.
[2.3] Theo tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án thể hiện đất nguồn
gốc như sau: ngày 23/5/2014, hộ Nguyễn Thị L1 được UBND thành phố T
cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng đất số BS 408062 đối với thửa đất số 494,
tờ bản đsố 40, diện tích 2.264,4m². Sau đó, thửa đất này được tách thành thửa
số 503 tiếp tục tách thành thửa đất số 569. Ngày 07/01/2015, Nguyễn Thị
L1 được cấp Giấy chứng nhận quyền s dụng đất số BU915313, số vào sổ
CH06895 đối với thửa đất số 569; Giấy chứng nhận được cập nhật biến động lần
cuối ngày 26/4/2016.
[2.4] Ngày 13/9/2017, Nguyễn Thị L1 Hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng đất diện tích 208,5m² thuộc thửa đất số 569 cho ông Minh K tại Văn
phòng C1. Trên cơ sở hợp đồng này, ngày 10/11/2017 ông Võ Minh K được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS11081. Đến ngày 15/9/2018,
8
ông Võ Minh K tặng cho toàn bộ quyền sử dụng đất nêu trên cho ông Võ Hoàng
L theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được công chứng tại Văn phòng C.
Ngày 18/10/2018, ông Hoàng L được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh B
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN143452, số vào sổ CS12959 đối
với thửa đất s 569, tờ bản đồ số 60, diện tích 208,5m².
[2.5] Như vậy, việc tặng cho quyền sử dụng đất giữa L1 với ông K
giữa ông K với ông L phù hợp với các quy định tại khoản 1 khoản 3 Điều
188, khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013; c Điều 117, 457 459 Bộ
luật Dân snăm 2015 nên hiệu lực pháp luật. Nguyên đơn cho rằng L1
tặng cho nguyên đơn quyền sử dụng đất tranh chấp từ năm 2004, tuy nhiên,
trong quá trình Nguyễn Thị L1 thực hiện các thủ tục tách thửa, cấp đổi giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, tặng cho quyền sdụng đất từ năm 2014 đến
năm 2017, nguyên đơn không có ý kiến phản đối hoặc yêu cầu bảo vệ quyền lợi
đối với phần diện tích đang tranh chấp. Do đó, việc nguyên đơn cho rằng bị đơn
tự ý kê khai đối với phần diện tích đất L1 đã cho nguyên đơn là không có
căn cứ chấp nhận.
[2.6] Xem xét Giấy cho đất xây nhà ở” lập ngày 28/6/2004 Hội đồng xét
xử thấy rằng: Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 566310 vào sổ cấp
giấy chứng nhận 00596/QSDĐ/H ngày 11/5/2004 (bút lục 263), quyền sử dụng
đất thuộc hộ bà Nguyễn Thị L1. Tuy nhiên, “Giấy cho đất xây nhà ở” chỉ có chữ
ký của bà Nguyễn Thị L1, không thể hiện ý chí của các thành viên khác trong hộ
gia đình có chung quyền sử dụng đất. Mặt khác, giấy tặng cho chỉ được lập bằng
giấy viết tay, không được công chứng, chứng thực, không thể hiện đầy đvị trí,
tứ cận, diện tích cụ thể của phần đất được cho. Như vậy, vnội dung hình
thức của “Giấy cho đất xây nhà ở” tại thời điểm xác lập chưa đủ điều kiện phát
sinh hiệu lực theo quy định tại các Điều 463, 691, 692, 696 Bộ luật Dân snăm
1995. Đối chiếu quá trình đăng biến động thửa đất đang tranh chấp như đã
viện dẫn nêu trên với Án lệ số 52/2021/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2021 được công bố theo
Quyết định số 594/QĐ-CA ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao, thấy rằng: “Giấy cho đất xây nhà ở” chưa thỏa mãn các điều
kiện để công nhận hiệu lực của giao dịch tặng cho. Do đó, trường hợp L1
viết tên trên “Giấy cho đất xây nhà ở” được xác lập ngày 28/6/2004 thì
cũng không thỏa mãn điều kiện để công nhận hiệu lực giấy cho đất nêu trên.
[2.7] Từ những phân tích trên, không căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn về việc công nhận quyền sử dụng đối với diện tích đất
46,6m² cho nguyên đơn. Do đó, Tòa án cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp quy định pháp luật.
[2.8] Xét kháng cáo của nguyên đơn về phần công trình xây dựng trên
phần đất tranh chấp, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.9] Tòa án cấp thẩm tuyên buộc Thị Thu H ông Nguyễn
Quang T1 trách nhiệm tháo dỡ, di dời phần nhà tạm, kết cấu mái tole, nền
9
gạch men, tường gạch xây thuc thửa đất s 569, t bản đồ s 40 tọa lạc
phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay phường P, Thành phố Hồ Chí
Minh) để trả lại diện tích đất 46,6m
2
cho ông Hoàng L. Tuy nhiên, theo Biên
bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 11/7/2024 thể hiện hiện trạng tài sản như
sau: Tài sản trên phần đất tranh chấp một phần nhà của H, ông T1 kết
cấu: tường gạch, xây tô, nền gạch men, mái tôn, kính một phần nhà tạm của
H, ông T1 xây dựng kết cấu: mái tôn, nền gạch men, tường gạch xây .”
Đồng thời, tại biên bản xem xét, thẩm định bị đơn ý kiến: “Phần công trình
lấn chiếm phía trước giáp với mặt đường nhựa ngang 2,3m phía sau ngang
2,5m. Đề nghị tổ đo đạc thể hiện diện tích, kết cấu...”. Như vậy, tại thời điểm
xem xét, thẩm định tại chỗ bị đơn tham gia biết được một phần công trình
xây dựng trên diện tích đất đã cấp quyền sử dụng cho bị đơn. Tại phiên tòa phúc
thẩm, bị đơn xác định trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm, bị đơn
không có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn liên quan đến phần công trình xây
dựng trên đất tranh chấp. Đồng thời nguyên đơn xác định nguyên đơn chỉ yêu
cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn, không có yêu cầu liên
quan đến phần công trình xây dựng trên đất tranh chấp. Theo nguyên tắc quyền
quyết định tđịnh đoạt của đương sự được quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015: “Tòa án chỉ thụ giải quyết vụ việc dân sự khi đơn
khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi
kiện, đơn yêu cầu đó”. vậy, trong phạm vi giải quyết của vụ án này là có
công nhận quyền sử dụng đối với diện tích đất 46,6m² cho nguyên đơn hay
không nhưng Tòa án cấp thẩm giải quyết buộc nguyên đơn trách nhiệm
tháo dỡ tài sản trên đất tranh chấp trong khi các đương sự không yêu cầu
vượt quá phạm vi khởi kiện, khởi kiện bổ sung. Mặc Tòa án thẩm vi
phạm nhưng vi phạm này không làm thay đổi bản chất ván nên Hội đồng xét
xử xét thấy không cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm chcần sửa một phần
bản án thẩm cho phù hợp với phạm vi giải quyết vụ án theo quy định của
pháp luật. Đối với phần công trình nguyên đơn xây dựng trên đất thuộc quyền sử
dụng hợp pháp của bị đơn, nếu tranh chấp thì các đương sự quyền khởi
kiện bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật. Đối với ý kiến của Viện kiểm
sát đề nghị hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét phần công sức giữ gìn, quản lý,
tôn tạo đất cũng không thuộc phạm vi khởi kiện của nguyên đơn nên nếu
tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
[3] Từ những phân tích trên, xét thấy kháng cáo của nguyên đơn
sở chấp nhận một phần.
[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đề nghị hội đồng xét xử phúc thẩm
sửa bản án sơ thẩm là phù hợp.
[5] Về án phí phúc thẩm: Người kháng cáo không phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
10
Căn cứ Điều 147, Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 309, Điều 313 của
Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Nghị quyết s326/2016/UBTVQH14, ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn bà Võ Thị Thu H.
2. Sửa một phần Bản án n sự thẩm số 18/2026/DS-ST ngày
06/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
2.1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Thị Thu
H đối với bị đơn ông Hoàng L về việc tranh chấp quyền sử dụng đất diện
tích 46,6m
2
thuộc một phần thửa đất số 569, tờ bản đồ số 40 theo giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cấp cho bị đơn ngày 18/10/2018, đất tọa lạc tại phường
P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh).
2.2. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản sao lục hồ sơ:
Võ Thị Thu H phải chịu 5.164.000 đồng và đã thực hiện xong.
2.3. Chi pgiám định: Thị Thu H phải chịu 7.182.000 đồng, ông
Hoàng L đã nộp tạm ứng, Thị Thu H trách nhiệm trả lại cho ông
Võ Hoàng L.
2.4. Án phí dân sthẩm: Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng,
được khấu trừ 900.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số
0002332 ngày 02/4/2024 Biên lai thu tiền số 0008720 ngày 11/12/2024 của
Chi cục Thi hành án Dân sự Thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh nh Dương. Hoàn
trả cho bà Võ Thị Thu H 600.000 đồng.
3. Trường hp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Lut Thi
hành án dân s thì người được thi hành án dân sự, người phi thi hành án dân s
quyn tha thun thi hành án, quyn yêu cu thi hành án, t nguyn thi hành
án hoc b ng chế thi hành án theo quy đnh tại các Điều 6, 7, 8 36 Lut
Thi hành án dân s năm 2025; thời hiệu thi hành án đưc thc hin theo quy
định tại Điều 34 Lut Thi hành án dân s năm 2025.
4. Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo không phải chịu. Hoàn trả
lại cho Thị Thu H 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã
nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014764 ngày 10/3/2026
của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
11
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
- THADS Thành phố Hồ Chí Minh;
- Phòng THADS khu vực 15 – Thành phố Hồ
Chí Minh;
- Tòa án nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ
Chí Minh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Ngọc Mai
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1484/2026/DS-PT Bản án số 1484/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1484/2026/DS-PT Bản án số 1484/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất