Bản án số 199/2026/DS-PT ngày 29/07/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 199/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 199/2026/DS-PT ngày 29/07/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 199/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Đăng Thị M - Nguyễn Thi
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 199/2026/DS-PT Bản án số 199/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 199/2026/DS-PT Bản án số 199/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số:199/2026/DS-PT
Ngày 29 tháng 7 năm 2026
“V/v Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thị Thu Hiền.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Sơn và bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
- Thư ký phiên toà: Bà Nông Thị Lụa - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú
Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa:
Vũ Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử
phúc thẩm công khai ván thụ số: 75/2026/TLPT-DS ngày 19 tháng 3 năm
2026 về việc “Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc".
Do bản án dân sự thẩm số 08/2026/DS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2025
của Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo (nay Tòa án nhân dân khu vực 9 - Phú
Thọ) bị kháng cáo theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2026/QĐ-DS ngày
24 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Đặng Thị M, sinh năm 1959; số căn cước công dân:
************; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, tỉnh Phú Th.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh
năm 1980; số căn cước công dân: ************; địa chỉ: SD đường N, phường
V, tỉnh Phú Thọbà Đường Thị Ngọc T, sinh năm 2000; số n cước công dân:
************; địa chỉ: xã B, tỉnh Phú Thọ, (Ông H có mặt, chị T vắng mặt).
- Bị đơn: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1964; số căn cước: ************ và chị
Trần Thị Hải Y, sinh năm 1988; cùng địa chỉ: Thôn H, T, tỉnh Phú Thọ,(Có
mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của T1: Nguyễn Thị Bạch Y1, sinh
năm 1963; địa chỉ: Số nhà D, ngoc C đường H, phường V, tỉnh Phú Thọ,(Có mặt).
- Người làm chứng: Nguyễn Thị N, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn Đ, xã
T, tỉnh Phú Thọ,(Vắng mặt).
2
Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn Đặng
Thị M người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H
trình bày:
Do cùng thị trấn mối quan hệ với N nên N mời bà M chung
nhau mua ô đất của bà T2 và chị Y1, bà M đồng ý. Ngày 04/4/2022, bà M, bà T1
chị Y1 thoả thuận chuyển nhượng 01 thửa đất tại địa chỉ: TDP H, thị trấn
H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã T, tỉnh Phú Th). Vị trí tiếp giáp:
- Phía Bắc giáp nhà bà Phần H1;
- Phía Nam giáp đất nhà bà T1;
- Phía Đông giáp đất nhà bà T1;
- Phía Tây giáp đường Q.
Trên đất dựng 01 ki ốt bắn mái tôn, tường gạch xây bao quanh, giá
thoả thuận chuyển nhượng 1.600.000.000 đồng. Hai bên tiến hành lập Hợp đồng
đặt cọc ngày 04/4/2023, thoả thuận số tiền đặt cọc 80.000.000 đồng, thời hạn
đặt cọc đến ngày 12/4/2022, thoả thuận T1, chị Y1 trách nhiệm lo ký tá hồ
cho M; ngày 12/4/2022, T1, chị Y1 trả mặt bằng cho M làm nở;
tiền phạt cọc gấp 5 lần số tiền đặt cọc. Ngày 04/4/2022, M đã đặt cọc cho
T1 chị Y1 số tiền 80.000.000 đồng, stiền này là tiền mặt bà M đưa cho N,
N đưa cho bà T1 chị Y1, sau đó 2 bên tiến hành lập Hợp đồng đặt cọc
thoả thuận nêu trên và bà N là người chứng kiến.
M tiếp tục chuyển tiền đặt cọc đất cho T1 đều thông qua hình thức
chuyển khoản. Cụ thể:
- Ngày 14/4/2022, bà M chuyển 90.000 đồng; ngày 15/4/2022 bà T1 và bà
M đã ký xác nhận người giao, người nhận tiền có bà N là người làm chứng.
- Ngày 21/4/2022, M chuyển 50.000.000 đồng; ngày 21/4/2022 T1
và chị Y1 đã ký nhận có bà N là người làm chứng.
Sau khi M đã chuyển tiền đặt cọc nhưng T1, chị Y1 chưa thực hiện
thủ tục chuyển nhượng thửa đất cho bà M. Hiện nay thửa đất vẫn do T1, chị
Y1 quản lý, sử dụng.
M khởi kiện đề nghị Toà án: Buộc T1 chị Y1 tiếp tục thực hiện
Hợp đồng đặt cọc ngày 04/4/2022, chuyển nhượng thửa đất tại TDP H, thị trấn H,
huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Trường hợp T1, chị Y1 không chịu thực hiện hợp
đồng chuyển nhượng, đề nghị T1, chị Y1 phải trả lại số tiền đặt cọc
3
220.000.000 đồng tiền phạt cọc gấp 5 lần 1.100.000.000 đồng theo thoả thuận
tại phần cam kết chung của hợp đồng đặt cọc. Tổng công T1 chị Y1 phải
thanh toán là 1.320.000.000 đồng.
Tại phiên toà thẩm ngày 23/5/2025, đại diện uỷ quyền của M thay đổi
yêu cầu khởi kiện: Đề nghị không tiếp tục thực hiện hợp đồng đặt cọc chuyển
nhượng quyền SDĐ giữa bà M với bà T1, chị Y1; đề nghị tuyên bố Hợp đồng đặt
cọc hiệu, yêu cầu T1 chị Y1 trả cho M số tiền 220.000.000 đồng
tiền phạt cọc 1.100.000.000 đồng, tổng cộng số tiền phải thanh toán
1.320.000.000 đồng.
Bị đơn là bà Nguyễn Thị T1 trình bày: Do có mối quan hệ quen biết với bà
M nên ngày 04/4/2022 giữa M kết Hợp đồng đặt cọc để chuyển
nhượng quán bán hàng, 01 phòng ngủ, 02 nhà tắm bếp, diện tích khoảng 100m2
với giá là 1.600.000.000 đồng; đất thuộc TDP H, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh
Phúc (nay là xã T, tỉnh Phú Thọ).
Bà M đã đặt cọc cho bà 02 lần, số tiền là 140.000.000 đồng do bà M và bà
N cùng mua chung nên trước đó N đã đặt 80.000.000 đồng, sau đó bà M và
N thoả thuận M đứng tên nên M đã Hợp đồng đặt cọc ngày
04/4/2022. nhất trí với yêu cầu khởi kiện của M tiếp tục thực hiện hợp
đồng đặt cọc, chuyển nhượng quyền SDĐ như đã ngày 04/4/2022 đề
nghị cho hạn tử ngày 16/01/2025 đến ngày 16/02/2025 bà M trả lại cho bà số tiền
còn lại là 1.352.000.000 đồng để bà giao nhà cho bà M; qua ngày 16/02/2025 bà
M không trả tiền để nhận nhà, đất thì hợp đồng chấm dứt và bà không trả lại cọc.
Chị Nguyễn Thị Hải Y2 không có lời trình trình bày.
Người làm chứng Nguyễn Thị N trình bày: được chứng kiến việc
chuyển nhượng quyền SDĐ giữa M T1, chị Y2. Ngày 04/4/2022, ngày
Họp đồng đặt cọc để chuyển nhượng đất, M đã đưa cho bà số tiền
80.000.000 đồng để đưa cho T1, chị Y2. Số tiền này là của bà M đặt cọc,
không liên quan gì đến số tiền này. Ngày 14/4/2022, M đặt cọc số tiền
90.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản, ngày 15/4/2022 M T2
có ký xác nhận đã nhận chuyển khoản tiền đặt cọc có sự chứng kiến của bà. Ngày
21/4/2022, M đặt cọc tiền mặt 50.000.000 đồng cho T1 chị Y2 sự
chứng kiến của bà. M đã chuyển tiền đặt cọc nhằm chuyển nhượng quyền SDĐ
tính đến ngày 21/4/2022 số tiền 220.000.000 đồng.
Với nội dung trên, tại Bản án dân sự thẩm số: 08/2026/DS-ST ngày 23
tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo (nay là Tòa án nhân dân
khu vực 9 – Phú Thọ) đã quyết định:
4
Căn cứ Điều 5, Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 91, Điều 144, Điều 147;
Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 131, 328, 351, 357, 408, Điều 468, Điều
469 Bộ luật Dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Uỷ ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đặng Thị M.
- Tuyên bố Hợp đồng đặt cọc ngày 04/4/2022 giữa Đặng Thị M
Nguyễn Thị T1, chị Trần Thị Hải Y vô hiệu.
- Bà Nguyễn Thị T1 và chị Trần Thị Hải Y cùng có trách nhiệm trả cho bà
Đặng Thị M số tiền 220.000.000 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu của Đặng Thị M yêu cầu phạt cọc đối với
Nguyễn Thị T1 và chị Trần Thị Hải Y số tiền 1.100.000.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, về án phí
và tuyên quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án cho các đương sự theo quy
định của pháp luật.
Sau khi xét xsơ thẩm, ngày 13/11/2025 bà Nguyễn Thị T1 kháng cáo bản
án sơ thẩm với nội dung không đồng ý với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm đề
nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm T1 không đồng ý thanh toán
cho bà M số tiền đã đặt cọc là 220.000.000 đồng.
Ngày 27/6/2026, người đại diện theo ủy quyền của Nguyễn Thị T1
thay đổi bổ sung đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án
thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Thị T1 người đại diện diện theo ủy
quyền của T1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo hủy bản án sơ thẩm đề nghị Hội
đồng xét xử phúc thẩm xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội
đồng xét xáp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; giữ
nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 08/2025/DS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2025 ca
Toà án nhân dân huyện Tam Đảo (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 Phú Thọ)
theo hướng không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hình thức: Kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị T1 quá hạn theo
quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng đã được Hội
đồng xét kháng cáo quá hạn chấp nhận, nên được Tòa án cấp phúc thẩm xem xét.
5
[2]Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án:
Đặng Thị M (nguyên đơn) khởi kiện bà Nguyễn Thị T1 và chị Trần Thị
Hải Y (bđơn) vtranh chấp hợp đồng đặt cọc nên đây là tranh chấp về hợp đồng
dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26
của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Hợp đồng đặt cọc ngày 04/4/2022 giữa Đặng Thị M Nguyễn Thị
T1, chị Trần Thị Hải Y được thực hiện tại TDP H, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh
Phúc (nay là Thôn H, xã T, tỉnh Phú Thọ), theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều
40 Bộ luật Tố tụng dân sự “Tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên
đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết”. Do vậy, Tòa
án nhân dân huyện Tam Đảo (nay Tòa án nhân dân khu vực 9 Phú Thọ) thụ
giải quyết thẩm là đúng thẩm quyền. Sau khi xét xử thẩm, bị đơn
Nguyễn Thị T1 kháng cáo, vụ án được Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ thụ lý, giải
quyết theo trình tự phúc thẩmđúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều
38 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn cho thấy :
T1 không đồng ý việc Toà án cấp sơ thẩm buộc bà và chị Y phải thanh
toán cho chM số tiền 220.000.000 đồng:
Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn thừa nhận từ ngày 12/4/2022 đến
ngày 21/4/2022 có nhận của bị đơn tổng số 03 lần = 220.000.000 đồng, mục đích
để đặt cọc nhận chuyển nhượng thửa đất của bị đơn địa chỉ tại TDP H, thị trấn
H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã T), tỉnh Phú Thọ. Hợp đồng đặt cọc được
các bên tự nguyện lập thành văn bản, các điều khoản cụ thể. Tuy nhiên, tại Hợp
đồng đặt cọc ngày 04/4/2022 ghi tại mục tài sản đặt cọc: “địa chỉ tại TDP H,
thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc” không có số thửa, tờ bản đồ, diện tích cũng
như giấy tờ liên quan đến thửa đất.
Toà ánthẩm đã tiến hành xác minh tại UBND thị trấn H, huyện T, tỉnh
Vĩnh Phúc (nay T, tỉnh Phú Thọ) về thửa đất theo tả của bà T1 nhưng
cũng không cung cấp được trích lục bản đồ thể hiện số ô, số thửa cũng như diện
tích đất của bà T1 và chị Y định chuyển nhượng cho bà M (BL 76). Ngoài ra thì
bị đơn cũng không cung cấp được bất kỳ tài liệu hay chứng cứ nào khác đchứng
minh về sự tồn tại của thửa đất mà các bên hướng tới để chuyển nhượng.
Ngoài ra, các bên đương sđều biết việc chuyển nhượng thửa đất không
thực hiện được khi thửa đất không số ô, số thửa, diện tích GCNQSDĐ nhưng
vẫn tiến hành ký kết hợp đồng đặt cọc.
[3.1] Tại cấp phúc thẩm bị đơn đã cung cấp được cho Toà án tài liệu là 01
hợp đồng kinh tế về việc giao và nhận khoán đất đồi, màu để trồng cây ăn quả số
04/HĐKT ngày 18 tháng 4 năm 1996 thể hiện đại diện nông trường Tam Đảo giáo
6
khoán thầu đất cho ông Trần Văn T3 (theo T1 trình bày ông T3 chồng của
đã chết) được giao khoán thầu diện tích 3532m2 đất đúng diện tích
T1 đặt cọc cho bà M. Tuy nhiên, sau khi xem xét hợp đồng khoán thầu, hội đồng
xét xử nhận thấy tại điểm 4,5 Điều II quy định không được phép tý thay đổi,
chuyển nhượng đất đai nhận khoán thầu và không được phép xây dựng các công
trình trên đất chỉ được phép trồng hoa màu. Mặt khác, tại khoản 3 Điều 5 về điều
khoản thi hành của Hợp đồng ghi: Thời hạn thực hiện hợp đồng 20 năm
(theo chu kỳ sản xuất) nếu không thay đổi (hết hạn hợp đồng thể triển
khai hợp đồng mới). Hợp đồng hiệu lực kể từ ngày 18/4/1996. Như vậy, tính
đến nay thì hợp đồng đã hết hiệu lực và bị đơn cũng không cung cấp được tài liệu
về việc sau khi hết hiệu lực hợp đồng thì các bên tiếp tục kết hợp đồng
mới nữa hay không; do đó tài liệu này không có căn cứ để xem xét và việc bà T1
nhận hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng đất cho bà M là không hợp pháp.
vậy, việc T1 M kết Hợp đồng đặt cọc thì giao dịch trên đã
vi phạm điều cấm, không thể giao dịch được theo Điều 408 Bộ luật Dân sự, nên
Toà án cấp thẩm đã tuyên bố Hợp đồng đặt cọc giữa Đặng Thị M
Nguyễn Thị T1, chị Trần Thị Hải Y là vô hiệu là có cơ sở và xác định do lỗi của
cả 2 bên, nên các bên hoàn trả cho nhau những đã nhận được, buộc T1
chị Y phải trả lại cho bà M số tiền đặt cọc là 220.000.000 đồng là có căn cứ, cần
được chấp nhận.
[3.2] Đối với kháng cáo bổ sung của đại diện theo uỷ quyền của bị đơn
T1: Đối với kháng cáo về xác định cách tố tụng của Nguyễn Thị N, hội
đồng xét xử nhận thấy: Mặc theo trình bày của N bà M thì bà N có góp
một số tiền cùng với bà M để đặt cọc cho bà T1 chị Y. Tuy nhiên, bà N và bà
T1 đã thống nhất số tiền góp của N sẽ được giải quyết riêng, n toàn bộ số
tiền đưa cho T1, chị Y do M tquyết; N đã giao toàn quyền cho M
quyết định đối với khoản tiền đặt cọc và không yêu cầu độc lập, không yêu cầu
Toà án buộc bị đơn thanh toán cho mình, không tranh chấp với nguyên đơn về số
tiền góp. Mặt khác, tại Hợp đồng đặt cọc của do các bên kết ngày 04/4/2022
gồm có Bên bán (Bên A): Bà Nguyễn Thị T1, Trần Thị Hải Y; Bên mua (Bên B):
Nguyễn Thị M1; Bên làm chứng (Bên C): Nguyễn Thị N. Như vậy, các
bên đã công nhận N người làm chứng đối với hợp đồng đặt cọc giữa bên bán
là bà M1 bên mua T1, chị Y. Do vậy, trong vụ án này, N không phải
là chủ thể của hợp đồng đặt cọc, hợp đồng chỉ được xác lập bởi nguyên đơn và bị
đơn. vậy, kết quả giải quyết ván không làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm
dứt quyền, nghĩa vụ của N với bị đơn, Do đó, không có căn cứ xác định N
là người có quyền lợi, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3.3] Đối với kháng cáo về Toà sơ thẩm không giải quyết hậu quả của hợp
đồng vô hiệu làm thiệt hại đến quyền lợi của bà T1, bà Y; vì sau ngày 21/4/2022,
M1 đã thuê thợ đến phá dỡ công trình của T1 trên đất gồm: 01 gian buồng
xây lợp ngói, 01 gian bếp, 01 giếng khoan, 02 gian vệ sinh (phần công trình này
7
trị giá 300.000.000 đồng, sau đó xây 01 gian quán xong phần thô rồi cuối năm
2022 lại bỏ nên gia đình bà T1 lại phải hoàn thiện để dùng, phần chi phí cho việc
hoàn thiện 220.000.000đ). Xét thấy, phần kháng cáo yêu cầu giải quyết hậu quả
của hợp đồng hiệu liên quan đến việc nguyên đơn phá dỡ công trình của bị đơn
thực chất yêu cầu mới của bị đơn mặc dù được trình bày dưới hình thức Toà
án không giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu”; tuy nhiên, quá trình giải
quyết vụ án tại cấp sơ thẩm bị đơn không có yêu cầu phản tố, nên Toà án cấp
thẩm không căn cứ để thu thập chứng cứ, định giá, xác minh thiệt hại giải
quyết. Tại phiên toà phúc thẩm người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn
cũng trình bày không thừa nhận việc bà T1 bàn giao lại mặt bằng việc
T1 phá dỡ tài sản trên đất. Do đó, yêu cầu này vượt quá phạm vi xét xử cấp phúc
thẩm; nếu bị đơn cho rằng quyền, lợi ích của mình bxâm phạm thì quyền khởi
kiện bằng mt vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà ngày 17/7/2026, phía bị đơn đnghị tiếp tục thực hiện hợp
đồng; tuy nhiên, phía nguyên đơn không đồng ý với đề nghị của bị đơn, nên đề
nghị của bị đơn không được chấp nhận.
Ngoài ra, phía bị đơn còn cung cấp Giấy xác nhận đề ngày 18/7/2026
một số tên, địa chỉ, sđiện thoại của một số người đã tham gia tháo dcông trình
của gia đình bà T1 yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu chứ
không phải yêu cầu xem xét giải quyết về tài sản, nên không đặt ra giải quyết như
đã phân tích ở trên.
Đồng thời, tại phiên toà phúc thẩm người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn
đề nghị huỷ bản án thẩm nhưng cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ
để đề nghị giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu nên không n cứ để
xem xét.
[4]. Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Tòa án
cấp sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thu thập
khách quan, đúng pháp luật. Do vậy kháng cáo của Nguyễn Thị T1 đề nghị Hội
đồng xét xử hủy Bản án dân sự thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo,
tỉnh Vĩnh Phúc (nay Tòa án nhân dân khu vực 9 - Phú Thọ) không căn cứ
nên không được chấp nhận.
[5]. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội đồng
xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị T1 là có căn cứ,
được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[6] Về án phí:
Về án phí dân sự sơ thẩm:T1 và chị Y phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bà Nguyễn Thị T1 không được
chấp nhận nên T1 phải chịu án phí phúc phẩm. Tuy nhiên, T1 có đơn xin
miễn án phí và thuộc trường hợp được miễn án phí phúc thẩm nên được miễn án
phí.
8
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị T1, giữ nguyên bản án dân
sự sơ thẩm số: 08/2025/DS-ST ngày 23/5/2025 của TAND huyện Tam Đảo, tỉnh
Vĩnh Phúc (nay là TAND khu vực 9 – Phú Thọ).
Căn cứ Điều 5, Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 91, Điều 144, Điều 147;
Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 131, 328, 351, 357, 408, Điều 468, Điều
469 Bộ luật Dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Uỷ ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đặng Thị M.
1. Tuyên bố Hợp đồng đặt cọc ngày 04/4/2022 giữa Đặng Thị M và bà
Nguyễn Thị T1, chị Trần Thị Hải Y vô hiệu.
2. Nguyễn Thị T1 và chTrần Thị Hải Y cùng trách nhiệm trả cho bà
Đặng Thị M số tiền 220.000.000 đồng.
3. Không chấp nhận yêu cầu của Đặng Thị M yêu cầu phạt cọc đối với bà
Nguyễn Thị T1 chị Trần Thị Hải Y stiền 1.100.000.000 đồng (Một t một
trăm triệu đồng).
4. Về án phí:
- Án phí sơ thẩm: Bà T1, chị Y mỗi người phải chịu 5.500.000 đồng (Năm
triệu năm trăm nghìn đồng).
- Án phí phúc thẩm: Bà Đặng Thị M không phải chịu án phí phúc thẩm.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 4, 6 7 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34
Luật Thi hành án Dân sự.
Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
9
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- TAND khu vực 9 – Phú Thọ;
- Phòng THADS khu vực 9 – Phú Thọ;
- Các đương sự;
- Lưu HSVA; HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thu Hiền
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 199/2026/DS-PT Bản án số 199/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 199/2026/DS-PT Bản án số 199/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất