Bản án số 137/2026/HS-PT ngày 18/08/2026 của TAND tỉnh Cà Mau

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 137/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 137/2026/HS-PT ngày 18/08/2026 của TAND tỉnh Cà Mau
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 137/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/08/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Không chấp nhận kháng cáo của bị hại
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 137/2026/HS-PT Bản án số 137/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 137/2026/HS-PT Bản án số 137/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Các Thẩm phán:
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Hải Sơn, là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên tòa: Ông Quách Lý
Hoàng Minh - Kiểmt viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Mau xét xử phúc thẩm
công khai vụ án hình sự thụ số 107/2026/HS-PT ngày 22 tháng 6 năm 2026 đối với bị
cáo Trương Văn T do kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số
34/2026/HS-ST ngày 18 tháng 5 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cà Mau.
- Bị cáo bị kháng cáo:
Trương Văn T, sinh ngày 24/9/1966 tại Mau; số CCCD: ************, cấp ngày
12/4/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH Bộ C1; nơi cư trú: Ấp T, xã T, tỉnh Cà
Mau; nghề nghiệp: Làm vuông; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn
giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn B (đã chết) Thị K (đã
chết); vợ tên Thiều Tuyết L (đã ly hôn) 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ
từ ngày 18/3/1997, chuyển sang tạm giam từ ngày 21/3/1997, trả tự do ngày 09/7/1997; bị
bắt tạm giam lại từ ngày 26/10/2004, trốn khỏi nơi giam ngày 21/11/2004; bị truy nã ngày
22/11/2004; ra đầu thú ngày 24/10/2015. Bị cáo tại ngoại có mặt.
- Bị hại: Ông Nguyễn Văn N (tên gọi khác là Nguyễn Thanh N1), sinh năm 1972 (có
mặt).
Nơi cư trú: Ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông N1, gồm có:
1. Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1974 (có mặt).
Nơi cư trú: Ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau.
2. Ông Lê Duy K1, sinh năm 1989 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Ấp A, xã N, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (không được Toà án triệu tập): Ông Trương
Văn H.
- Người bào chữa cho bị cáo: Trần Kim X, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm
Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh C (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được
tóm tắt như sau:
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 137/2026/HS-PT
Ngày: 18-8-2026
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Ông Nguyễn Trọng Quế
Ông Trần Minh Tấn
Ông Phùng Văn Định
2
Sau khi xuất ngũ, m 1989 Trương Văn T được phân công giữ chức vụ Phó chỉ huy
trưởng, công tác tại Ban chỉ huy Quân sự T, huyện T, tỉnh Mau. Năm 1993, T được
Ban chỉ huy Quân sự xã T giao nhiệm vụ thu hồi khẩu súng AK (số A) từ ông Hồ Văn Q do
bị kỷ luật. Sau khi thu hồi được khẩu súng AK trên, T đem về nhà cất giữ. Năm 1995, T tự
ý nghỉ việc nhưng không giao nộp lại khẩu súng AK cho Cơ quan thẩm quyền cất
giữ ở nhà.
Khoảng 13 giờ ngày 16/03/1997, ông Nguyễn Văn D nhà ở ấp T, xã T, huyện T, tỉnh
Mau (nay là ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau) tổ chức nhậu tại nhà. Tiệc nhậu gồm có ông D, Trương
Văn T, Trương Văn H (em của T), Nguyễn Văn N, Võ Văn L1 một số người khác. Trong
quá trình nhậu, giữa N T xảy ra cự cãi được mọi người can ngăn, sau đó T H đi về
chòi vuông của T trên bờ kinh xáng dự án thuộc khu vực ấp T, cách nhà ông D khoảng
150 mét.
Khoảng 15 giờ cùng ngày, TH về đến chòi vuông, H nằm ngủ tại chòi vuông, T đi
sang nhà ông C. Trên đường đi, T nhìn thấy N và Lưu đứng đối diện bên bờ kinh xáng dự
án, N T tiếp tục cự cãi thách thức đánh nhau. N đi qua nhà ông D lấy cây búa cầm trên
tay, còn L1 cầm cây o bằng tre cùng xuống xuồng bơi qua kinh xáng rượt đuổi thì T bỏ
chạy. Trên đường chạy về chòi vuông, T ghé vào nhà ông Nguyễn Văn T2 lấy cây búa cầm
trên tay và tiếp tục chạy về chòi vuông của T. Khi còn cách chòi vuông khoảng 50 mét t
T kêu H lấy khẩu súng AK đem ra đưa cho T. H nghe T kêu nên lấy khẩu súng AK (có hộp
tiếp đạn bên trong có 06 viên đạn gắn theo súng) đang để trong chòi vuông chạy ra chỗ T.
Thống bỏ cây búa xuống đất rồi lấy khẩu súng AK từ tay H, T cầm khẩu súng lên đạn đưa
súng hướng o chân của N bắn nhưng đạn không nổ, lúc này N bước đến cách Thống
khoảng 1,5 mét cầm búa lên định chém thì T lùi về phía sau rồi giật mạnh tay kéo bệ
khóa nòng làm viên đạn văng ra, T lên đạn lần hai đưa súng hướng vào chân của N bóp cò
nổ súng viên đạn trúng vào phần trên đầu gối chân trái của N, N trúng đạn ngã xuống
đất, sau đó được người thân đưa đi điều trị tại Bệnh viện C2. Sau khi bắn N gây thương tích,
T cầm súng bỏ chạy về nhà, H lượm cây búa Thống quăng xuống đất trước đó chạy theo T
(H khai khi đi được một đoạn thì quăng bỏ cây búa xuống kinh xáng nhưng không xác định
được vị trí nào). Đến ngày 18/3/1997, T đến Công an xã T đầu thú và giao nộp súng AK gây
án (khẩu súng AK có hộp tiếp đạn có 04 viên đạn gắn theo súng).
Tại Biên bản giám định pháp y số 90/GĐPY ngày 19/5/1997 của Tổ chức giám định
pháp y thuộc UBND tỉnh C giám định ông Nguyễn Thanh N1 kết luận: Khả năng lao động
của ông Nguyễn Thanh N1 được tỷ lệ 35% theo bảng tiêu chuẩn phân hạng mất sức lao động
ban hành tại Thông tư liên bộ số 12/TT-LB ngày 26/7/1995.
Tại Kết luận giám định số 364/KL-KTHS ngày 03/12/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh
C kết luận:
- 01 khẩu súng gửi giảm định là vũ khí quân dụng, loại súng tiểu liên AK, thuộc phụ
lục 1 “Danh mục vũ khí quân dụng” theo Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15 tháng 11
năm 2024 của Bộ C1.
- 04 viên đạn, đít đạn hiệu 539 89 đạn quân dụng, cỡ đạn 7,62mm x 39mm,
thuộc phụ lục 1 "Danh mục khí quân dụng" theo Thông số 75/2024/TT-BCA ngày
15 tháng 11 năm 2024 của Bộ C1.
Tại Công văn số 12/UBND ngày 04/4/2016 của Ủy ban nhân dân xã T trả lời yêu cầu
cung cấp thông tin phục vụ điều tra, nội dung phúc đáp như sau: “1. Năm 1997, Trương
Văn T không còn làm xã đội phó T; 2. Nguồn gốc khẩu AK (01785) của xã đội xã T: Sau
khi Huyện đội lệnh thu hồi, Trương Văn T được đội phân công đem súng giao về
3
Huyện đội nhưng T không giao mà giữ lại; 3. Lúc Trương Văn T dùng súng bắn người khác
gây thương tích T không còn làm xã đội phó”.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2026/HS-ST ngày 18/5/2026, Tòa án nhân dân khu
vực 2 - Mau đã quyết định: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 134; khoản 1 Điều 304; điểm
b, s, v, x khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 55 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị
cáo T 01 (một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về
tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải
chấp hành hình phạt chung của 02 tội 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Ngoài ra, án
thẩm còn buộc bị cáo và ông Trương Văn H phải bồi thường thiệt hại về sức khoẻ cho ông
Nguyễn Văn N 50 triệu đồng/người, xử lý án phí, quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 29/5/2026, bị hại ông Nguyễn Văn N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị hại vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 1
Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị hại.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm 34/2026/HS-ST ngày 18/5/2026 của Tòa án nhân dân
khu vực 2 - Cà Mau về phần trách nhiệm hình sự và phần trách nhiệm dân sự.
- Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị
hại N.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ
nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ ván đã được tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trương Văn T tiếp tục thừa nhận toàn bộ hành vi
phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với lời khai
của người quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến; phù
hợp với Kết luận giám định thương tích của bị hại, Kết luận giám định khí gây án, các
vật chứng được thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ vụ án. Quá trình
thu thập chứng cứ đảm bảo tính hợp pháp, khách quan.
[2] Qua đó, đủ sở để kết luận: Năm 1995, sau khi nghgiữ chức vụ Phó Chỉ
huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự T, huyện T, tỉnh Mau, Trương Văn T không giao
nộp lại khẩu súng AK số 01785 (nguồn gốc do Thống thu hồi trước đó) mà cất giữ trái
phép tại chòi vuông của mình. Khoảng 15 giờ ngày 16/3/1997, xuất phát từ mâu thuẫn tại
tiệc nhậu trước đó, ông Nguyễn Văn Nông Võ Phong L2 đã có hành vi cầm cây búa và
cây sào tre rượt đuổi, thách thức đánh nhau với T. Bị cáo T chạy về gần chòi vuông của
mình, kêu em ruột Trương Văn H đem khẩu súng AK ra. T giật lấy khẩu súng, lên đạn
và chĩa về phía chân ông N bóp cò. Lần đầu đạn không nổ; khi ông N tiếp tục bước đến, T
tiếp tục lên đạn lần hai và bắn trúng vào phần trên đầu gối chân trái của ông N, gây thương
tích cho ông N với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 35%.
[3] Đối với nội dung kháng cáo của bị hại ông N cho rằng ông Trương Văn H mới là
người trực tiếp cầm súng bắn ông N gây thương tích: Lời khai của bị hại (ông N) và người
làm chứng (ông L2) về việc ông H bắn ông N là không có căn cứ. Trong quá trình điều tra
cũng như tại phiên tòa thẩm, lời khai của ông N và ông L2 từng thời điểm sự bất
nhất, mâu thuẫn. Cụ thể: Tại bút lục số 83, 283, 425, ông N khai ông H bắn; nhưng tại bút
lục số 321, 327, ông N lại khai cả T và H cùng bắn. Đối với ông L2, tại bút lục số 70 khai
4
ông H bắn; nhưng tại bút lục số 219, 429 lại khai do đứng xa nên không thấy ai bắn, khi
chạy lại chỉ thấy T cầm súng. Ngược lại, ngoài lời khai thống nhất của bị cáo T và ông H,
những người làm chứng khác gồm bà Lý Thị T3 (bút lục số 68) và ông Nguyễn Văn D (bút
lục số 102, 221) đều khẳng định trực tiếp nhìn thấy bị cáo T người cầm súng bắn ông N.
Mặt khác, bị cáo T từng đi bộ đội nên biết sử dụng súng thành thạo, trong khi ông H không
biết sử dụng súng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm kết luận bị cáo T người trực tiếp cầm súng
bắn ông N là hoàn toàn có căn cứ, đúng thực tế khách quan.
[4] Đối với hành vi trốn khỏi nơi giam của bị cáo T và vai trò đồng phạm của ông H
đối với hành vi cố ý gây thương tích: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã khởi
tố bị can và sau đó ra quyết định đình chỉ điều tra bị can do đã hết thời hiệu truy cứu trách
nhiệm hình sự là đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
[5] Về việc áp dụng pháp luật hình sự và xác định tội danh: Hành vi phạm tội của bị
cáo T thực hiện vào tháng 03/1997, thời điểm Bộ luật Hình sự năm 1985 đang có hiệu lực
thi hành. Tuy nhiên, so sánh quy định của Bộ luật Hình sự năm 1985 (Điều 109 Điều
230) với Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025 - Điều 134 và Điều
304), thì quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 có lợi hơn cho bị cáo về khung hình phạt.
Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (về nguyên tắc lợi cho
người phạm tội), Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134 đối với tội “C
ý gây thương tích” khoản 1 Điều 304 đối với tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép khí
quân dụng” của Bộ luật Hình sự năm 2015 để xét xử bị cáo Trương Văn T đúng người,
đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[6] Về hình phạt và trách nhiệm dân sự:
Hành vi của bị cáo nghiêm trọng, nguy hiểm cho hội, trực tiếp xâm phạm đến
sức khỏe của công dân chế độ quản lý vũ khí quân dụng của Nhà nước. Tuy nhiên, khi
quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ, toàn diện tính chất, mức độ
nguy hiểm của hành vi phạm tội, xét đến việc bị hại ông N cũng một phần lỗi khi chủ
động cầm búa rượt đuổi, thách thức bị cáo trước. Đồng thời, Tòa án cấp thẩm đã áp
dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo gồm: Thành khẩn khai
báo, ăn ăn hối cải; Đã tự nguyện bồi thường, khắc phục một phần hậu quả; Bị cáo có thành
tích xuất sắc trong chiến đấu công tác (được tặng Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng
Ba, Huân chương Chiến công hạng Ba, Bằng khen, Giấy khen, có công với cách mạng tại
chiến trường Campuchia); Bị cáo ra đầu thú; Cha đẻ bị cáo người công với cách mạng
(được tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất).
Do bị cáo nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 khoản 2 Điều 51 của
Bộ luật Hình sự, nên Toà án cấp thẩm đã xử phạt bị cáo 01 (một) năm về tội Cố ý
gây thương tích” và 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép
khí quân dụng”. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ
cho bị cáo cả 02 tội là không phù hợp, bởi lkhoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự
khung hình phạt từ 01 năm đến 07 năm tù. Mặt khác, cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết “Đã tự
nguyện bồi thường, khắc phục một phần hậu quả” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của
Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo cả 02 tội cũng không phù hợp, cần được rút
kinh nghiệm.
Tại phiên toà thẩm, phía bcáo ông Trương Văn H thoả thuận thống nhất
bồi thường thiệt hại về sức khoẻ cho bị hại ông N với tổng số tiền là 100 triệu đồng, phần
mỗi người bồi thường cho ông N 50 tiệu đồng. Sau khi xét xử thẩm, phía ông N không
đưa ra được các khoản yêu cầu bồi thường nào khác.
5
[7] Bị hại kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm nhưng không cung cấp thêm các tài liệu,
chứng cứ mới nào m thay đổi bản chất vụ án hoặc chứng minh mức hình phạt hoặc bồi
thường của cấp sơ thẩm là không đúng quy định.
[8] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy không căn cứ để
chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị hại ông Nguyễn Văn N; chấp nhận quan điểm giải
quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát và ý kiến bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý.
[9] Về án phí: Ông N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm và án phí dân sự
phúc thẩm.
[10] Các phần khác của án thẩm không bị kháng cáo hoặc bị kháng nghị, đã
hiệu lực thi hành kể từ khi hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Không chấp nhận kháng cáo của bị hại ông Nguyễn Văn N, giữ nguyên Bản án hình sự
thẩm số 34/2026/HS-ST ngày 18/5/2026 của Toà án nhân dân khu vực 2 - Mau về phần
trách nhiệm hình sự và phần trách nhiệm dân sự.
2. Về trách nhiệm hình sự:
2.1. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s, v, x khoản 1 khoản 2 Điều
51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Văn T 01 (một) năm tù về
tội “Cố ý gây thương tích”.
2.2. Căn cứ o khoản 1 Điều 304; điểm s, v, x khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ
luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ,
sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
2.3. Căn cứ khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo T phải chấp hành hình
phạt chung của 02 tội 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn được tính từ ngày bị
cáo chấp hành án, được khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/3/1997 đến
ngày 09/7/1997 và từ ngày 26/10/2004 đến ngày 21/11/2004.
3. Về trách nhiệm dân sự:
3.1. Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Các điều 584, 590 của Bộ luật Dân sự, ghi
nhận sự tự nguyện bị cáo Trương Văn T và ông Trương Văn H cùng bồi thường thiệt hại về
sức khoẻ cho ông Nguyễn Văn N tổng số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng. Trong
đó, phần bồi thường của mỗi người là 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng.
Ông N được nhận số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng tại Phòng Thi hành án
dân sự khu vực 2 - Mau theo Biên lai thu tiền số 0002941 ngày 20/6/2022.
3.2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi nh án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành xong các khoản tiền nêu trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản
tiền lãi của số tiền phải thi hành theo lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ
luật Dân sự.
3.3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi nh án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 2 Điều 23 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
6
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Ông N
không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm và án phí dân sự phúc thẩm.
5. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu
lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Công an tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 2-CM;
- Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2-CM;
- Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2-CM;
- Công an xã Trí Phải, tỉnh CM;
- Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa HS, án văn, VT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Trọng Quế
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 137/2026/HS-PT Bản án số 137/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 137/2026/HS-PT Bản án số 137/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất